THỨ SÁU TUẦN THÁNH
TƯỞNG NIỆM
CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

Ý NGHĨA
Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, các Ki-tô hữu trên hoàn cầu đều ăn chay : đây là ngày chay Vượt Qua kỷ niệm Chúa đã chịu Thương Khó, và Giáo Hội khuyên chúng ta tiếp tục giữ cho tới đêm thánh.
Vào buổi chiều hoặc tối hôm nay, có nghi lễ về cuộc Thương Khó của Chúa. Bắt đầu là phụng vụ lời Chúa, với bài Thương Khó theo thánh Gio-an. Sau bài diễn giải là những lời cầu đặc biệt long trọng cho toàn thể Giáo Hội và thế giới, cho hết mọi hạng người, vì ơn cứu độ do Đấng Cứu Thế đã đổ máu ra để thực hiện, cần phải đạt tới khắp nơi trên mặt đất. Sau đó linh mục đưa thánh giá ra cho cộng đoàn tôn kính, rồi mọi người thông hiệp với Mình Thánh Chúa Ki-tô.
Trong buổi họp mừng này, điều nổi bật hơn cả không phải là các đau khổ nhục nhằn của cuộc Thương Khó, nhưng là vinh quang của thánh giá, vì mỗi lần Giáo Hội tưởng niệm Chúa đã chịu chết thì đồng thời cũng tuyên xưng Người đã Phục Sinh. Vì thế, các bài ca hôm nay đầy những lời tung hô Chúa Ki-tô hiển thắng : “Lạy Thiên Chúa chí thánh ! Lạy Thiên Chúa oai hùng ! Lạy Thiên Chúa muôn đời hằng hữu ! Xin thương xót chúng con” (Dân Ta hỡi). “Lạy Chúa, chúng con tôn thờ thánh giá Chúa, hát mừng Ngài sống lại hiển vinh; ấy chính vì bởi cây thập giá, niềm hân hoan tràn ngập địa cầu” (điệp ca).
NHỮNG ĐỒ CẦN CHUẨN BỊ
1. Trên bàn thờ chính :
- không thánh giá, không khăn bàn thờ, không đèn
- chân để đặt thánh giá
- dưới cấp bàn thờ, đặt gối nếu chủ sự sẽ phủ phục
2. Trên bàn nhỏ cạnh bàn thờ chính :
- khăn trải bàn thờ
- giá sách với tập “Nghi thức Tuần Thánh”
- khăn thánh
- nước tráng chén và rửa tay
- giây các phép cho các linh mục và phó tế mang khi cho rước lễ
3. Trong cung thánh :
- giá sách với bài tường thuật “Cuộc Thương Khó”
4. Trên bàn thờ đang có Mình Thánh :
- khăn thánh, khăn choàng vai, đèn
5. Trong phòng thánh :
- lễ phục cho chủ sự, phó tế và các phụ tế (màu đỏ)
- thánh giá sẽ dùng khi thờ lạy
- đèn dùng khi kiệu thánh giá
CỬ HÀNH CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA
1. Theo truyền thống rất xa xưa, hôm nay và ngày mai Hội Thánh không cử hành bí tích nào hết.
2. Bàn thờ hoàn toàn để trống : không thánh giá, không chân đèn, không trải khăn.
3. Khoảng 3 giờ chiều, cử hành cuộc Thương Khó của Chúa, trừ khi lý do mục vụ khuyên nên làm muộn hơn. Nghi thức này gồm ba phần : Phụng vụ Lời Chúa, Kính thờ Thánh Giá, và Rước Lễ.
Hôm nay chỉ cho giáo dân rước lễ trong nghi thức tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa mà thôi; tuy nhiên vào bất cứ giờ nào trong ngày, cũng có thể đem Mình Thánh Chúa cho những bệnh nhân nào không thể tham dự nghi thức.
4. Linh mục và phó tế, mặc lễ phục đỏ như khi cử hành thánh lễ, tiến ra bàn thờ, cúi chào rồi phủ phục xuống đất hoặc quỳ gối, và tất cả mọi người thinh lặng cầu nguyện trong giây lát.
5. Linh mục và các người giúp lễ đến ghế, quay về phía giáo dân, linh mục dang tay đọc một trong hai lời nguyện sau đây :
Lời nguyện (không đọc “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”)
Lạy Chúa, vì yêu thương chúng con vô ngần, Chúa đã vui lòng cho Con Một Chúa đổ máu đào trên thập giá, để hoàn thành mầu nhiệm Vượt Qua, đem lại ơn cứu độ cho loài người. Giờ đây, xin Chúa nhớ lại tình thương ấy mà thánh hoá và che chở đoàn con luôn mãi. Chúng con cầu xin. ..
Hoặc :
Lạy Chúa, từ lòng mẹ, chúng con đã phải mang án chết do tội A-đam truyền lại, nhưng nhờ mầu nhiệm Con Chúa chịu khổ hình, Chúa đã tiêu diệt sự chết. Vậy giờ đây, xin Chúa ban ơn thánh hoá biến đổi chúng con nên giống hình ảnh A-đam mới là Đức Ki-tô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
PHẦN THỨ NHẤT
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
6. Mọi người ngồi xuống, nghe đọc bài thứ nhất, trích sách I-sai-a, rồi hát đáp ca.
Bài đọc 1 Is 52,13 -- 53,12
Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội.
Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a.
Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt,
sẽ vươn cao, nổi bật,
và được suy tôn đến tột cùng.
Cũng như bao kẻ đã sửng sốt
khi thấy tôi trung của Ta
mặt mày tan nát chẳng ra người,
không còn dáng vẻ người ta nữa,
cũng vậy,
người sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ,
vua chúa phải câm miệng,
vì được thấy điều chưa ai kể lại,
được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ.
Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được ?
Cánh tay uy quyền của Đức Chúa
đã được tỏ cho ai ?
Người tôi trung đã lớn lên
tựa chồi cây trước Nhan Thánh,
như khúc rễ trên đất khô cằn.
Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong
đáng chúng ta ngắm nhìn,
dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.
Người bị đời khinh khi ruồng rẫy,
phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật.
Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn,
bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.
Sự thật, chính người đã mang lấy
những bệnh tật của chúng ta,
đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta,
còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt,
bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.
Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội,
bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm;
người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an,
đã phải mang thương tích
cho chúng ta được chữa lành.
Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu,
lang thang mỗi người một ngả.
Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người
tội lỗi của tất cả chúng ta.
Bị ngược đãi, người cam chịu nhục,
chẳng mở miệng kêu ca;
như chiên bị đem đi làm thịt,
như cừu câm nín khi bị xén lông,
người chẳng hề mở miệng.
Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu.
Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới ?
Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh,
vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt.
Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn,
bị mai táng với người giàu có,
dù đã chẳng làm chi tàn bạo
và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.
Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ.
Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội,
người sẽ được thấy kẻ nối dõi,
sẽ được trường tồn,
và nhờ người,
ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu.
Nhờ nỗi thống khổ của mình,
người sẽ nhìn thấy ánh sáng
và được mãn nguyện.
Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính,
tôi trung của Ta,
sẽ làm cho muôn người nên công chính
và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.
Vì thế, Ta sẽ ban cho người
muôn người làm gia sản,
và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt,
người sẽ được chia chiến lợi phẩm,
bởi vì người đã hiến thân chịu chết,
đã bị liệt vào hàng tội nhân;
nhưng thực ra,
người đã mang lấy tội muôn người
và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca Tv 30,2 và 6.12-13.15-16.17 và 25 (Đ. Lc 23,46)
Đ. Lạy Cha,
con xin phó thác hồn con trong tay Cha.


Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa,
xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ.
Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con.
Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con,
Ngài đã cứu chuộc con,
lạy Chúa Trời thành tín. Đ.

Con đã nên trò cười cho thù địch
và cho cả hàng xóm láng giềng.
Bạn bè thân thích đều kinh hãi,
thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa.
Bị lãng quên,
như kẻ chết không người tưởng nhớ,
con hoá thành đồ hư vất bỏ. Đ.

Con tin tưởng nơi Ngài, lạy Chúa,
dám thưa rằng : Ngài là Thượng Đế của con.
Số phận con ở trong tay Ngài.
Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ,
khỏi người bách hại con. Đ.

Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời
trên tôi tớ Ngài đây,
và lấy tình thương mà cứu độ.
Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa,
mạnh bạo lên, can đảm lên nào ! Đ.
7. Tiếp theo là bài đọc thứ hai trích thư gửi tín hữu Do-thái, và hát Tung hô Tin Mừng.
Bài đọc 2 Dt 4,14-16; 5,7-9
Người đã học được thế nào là vâng phục, và trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục Người.
Lời Chúa trong thư gửi tín hữu Do-thái.
Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.
Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng Pl 2,8-9
Vì chúng ta, Đức Ki-tô đã tự hạ,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
8. Rồi đọc bài Thương Khó theo thánh Gio-an, cũng theo cách thức như Chúa nhật lễ Lá.
Ký hiệu viết tắt :
+ : Đức Giê-su
nk : người kể
m : một người (Phê-rô, Hê-rô-đê. ..)
dc : dân chúng
Tin Mừng Ga 18,1 -- 19,42
Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
nk Bấy giờ, Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kít-rôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. Vậy, Giu-đa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giê-su biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi : + “Các anh tìm ai ?” nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.” nk Người nói : + “Chính tôi đây.” nk Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. Khi Người vừa nói : “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi một lần nữa : + “Các anh tìm ai ?” nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.” nk Đức Giê-su nói : + “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi.” nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói : “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai.”
nk Ông Si-môn Phê-rô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Man-khô. Đức Giê-su nói với ông Phê-rô : + “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ?”
nk Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Do-thái bắt Đức Giê-su và trói Người lại. Trước tiên, họ điệu Đức Giê-su đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.
nk Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. Còn ông Phê-rô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào. Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao ?” nk Ông liền đáp : m “Đâu phải.” nk Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế tra hỏi Đức Giê-su về các môn đệ và giáo huấn của Người. Đức Giê-su trả lời : + “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi ? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.” nk Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói : m “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư ?” nk Đức Giê-su đáp : + “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” nk Ông Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói.
nk Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao ?” nk Ông liền chối : m “Đâu phải.” nk Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi : m “Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao ?” nk Một lần nữa ông Phê-rô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.
nk Vậy, người Do-thái điệu Đức Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi : m “Các người tố cáo ông này về tội gì ?” nk Họ đáp : dc “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan.” nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người.” nk Người Do-thái đáp : dc “Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả.” nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
nk Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người : m “Ông có phải là vua dân Do-thái không ?” nk Đức Giê-su đáp : + “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?” nk Đức Giê-su trả lời : + “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” nk Ông Phi-la-tô liền hỏi : m “Vậy ông là vua sao ?” nk Đức Giê-su đáp : + “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” nk Ông Phi-la-tô nói với Người : m “Sự thật là gì?”
nk Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ : m “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy. Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người không ?” nk Họ lại la lên rằng : dc “Đừng tha nó, nhưng xin tha Ba-ra-ba !” nk Mà Ba-ra-ba là một tên cướp.
nk Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. 3 Họ đến gần và nói : dc “Kính chào Vua dân Do-thái !”, nk rồi vả vào mặt Người.
nk Ông Phi-la-tô lại ra ngoài và nói với người Do-thái : m “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” nk Vậy, Đức Giê-su bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Đây là người !” nk Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng : dc “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.” nk Người Do-thái đáp lại: dc “Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa.”
nk Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giê-su : m “Ông từ đâu mà đến ?” nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời. Ông Phi-la-tô mới nói với Người : m “Ông không trả lời tôi ư ? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao ?” nk Đức Giê-su đáp lại : + “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.”
nk Từ đó, ông Phi-la-tô tìm cách tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng : dc “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của +ê-da. Ai xưng mình là vua, thì chống lại +ê-da.” nk Khi nghe thấy thế, ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên toà, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Híp-ri là Gáp-ba-tha. Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Phi-la-tô nói với người Do-thái : m “Đây là vua các người !” nk Họ liền hô lớn : dc “Đem đi ! Đem nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao ?” nk Các thượng tế đáp : dc “Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài +ê-da.” nk Bấy giờ ông Phi-la-tô trao Đức Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá.
nk Vậy họ điệu Đức Giê-su đi. Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa. Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi : “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.” Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng : Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô : m +in ngài đừng viết : ‘Vua dân Do-thái’, nhưng viết : ‘Tên này đã nói : Ta là Vua dân Do-thái’.” nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Ta vi