“CÓ MỘT NGƯỜI THIÊN CHÚA SAI ĐẾN, TÊN LÀ GIO-AN”

ĐỨC PI-Ô 12 QUA ĐỜI...

Ngày 5.10.1958, Đức Hồng Y Roncalli, thượng phụ Venezia chuẩn bị lên đường đi thăm hai Xứ Đạo, chủ sự Lễ Kỷ Niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Lộ-đức. Điện thoại reo, đầu dây bên kia có người hỏi thăm xem ngài có biết giáo sư Gasbarrini đang ở đâu không, xin nhắn về gấp biệt điện mùa hè của Đức Giáo Hoàng ở Castal Gandolfo. Trên chiếc ca-nô rẽ sóng rời thành phố Venezia, gương mặt Đức Hồng Y Roncalli lộ vẻ đăm chiêu. Ngài hiểu rồi, vì sao cần đến vị danh y đó...

Bốn ngày sau, 9 tháng 10, Radio Vatican báo tin Đức Giáo Hoàng Pi-ô 12 đã qua đời lúc 3 giờ 52 sáng, thọ 82 tuổi. 19 năm trên Tòa Phê-rô, ngài đã dẫn dắt Giáo Hội qua một giai đoạn phi thường trong lịch sử thế giới: Thế Chiến thứ hai, sự gia tăng vượt bậc của các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Mác - Lê, các nước thuộc địa vùng lên đòi độc lập, mọi cơ cấu trong xã hội đều biến đổi, khoa học và kỹ thuật có những bước phát triển khổng lồ khiến cho thế giới bắt đầu hướng tới thống nhất, nhưng đồng thời thế giới lại quằn quại chia rẽ về ý thức hệ. Giữa những diễn biến bi tráng như thế, Đức Pi-ô 12 để lại một di sản vĩ đại về đạo lý trong mọi lãnh vực. Không ai có thể phủ nhận ngài là một trí tuệ siêu việt trong một phong thái rất mực tiên phong đạo cốt. Suốt 19 năm, dung mạo ngài tỏa sáng rực rỡ trong và ngoài Giáo Hội.

Nhưng cũng như nhiều bậc thiên tài khác, Đức Pi-ô 12 tập trung mọi quyền lực trong tay, lãnh đạo Giáo Hội một cách cô đơn trong ngôi vị chí tôn. Về sau này, với thời gian, người ta sẽ phê bình, mổ xẻ, đặc biệt là thái độ của ngài trong thời thế chiến, sự yên lặng của ngài trước thảm trạng của dân Do-thái trong chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã. Thật ra ngài có lên tiếng trong một số diễn từ. Hơn nữa, ngài còn kín đáo cứu được nhiều người Do-thái khỏi nanh vuốt Quốc Xã. Nhưng những người phê bình thời sau cho là như thế chưa đủ rõ, chưa đủ mạnh. Đáng lẽ phải có một thông điệp nẩy lửa cho thế giới. Biết thế nào là phải ? Một đàng là mấy nhà nghiên cứu, không phải lúc nào cũng vô tư, ngồi thảnh thơi luận thuyết phán xét cả lịch sử; một đàng là một con người cô đơn mang trên đôi vai gầy của mình gánh nặng khủng khiếp của cả Giáo Hội, cả thế giới, và mỗi lúc mỗi phải đối mặt với những vấn đề cực kỳ gay gắt và mệnh hệ ? Cái gì làm được và cái gì không làm được ? Việc gì phải làm và tai họa nào phải tránh ? Gần đây Tòa Thánh cho công bố các tư liệu vẫn lưu trữ trong văn khố Vatican. Nhưng một số nhà nghiên cứu vẫn còn tranh cãi.

Dù sao những phê bình đó là chuyện thời sau. Khi Đức Pi-ô 12 nằm xuống, cả năm châu đều lên tiếng ca ngợi. Tổng thống Mỹ Harry Truman tuyên bố: “Đức Pi-ô 12 là một trong những nhà lãnh đạo quốc gia vĩ đại suốt trong hai thế kỷ vừa qua. Mất ngài, và cùng với ngài là mất những nỗ lực vì hòa bình của ngài, thế giới đã bị tổn thất nặng nề hơn là nếu mất bất cứ người nào khác trong thời đại nảy !” Cả những nước rất xa lạ với Công Giáo như Iran, Ấn-độ, Pakistan, Ít-ra-en v.v... cũng treo cờ rũ để tang cùng với Liên Hiệp Quốc. Các tôn giáo lớn đều bày tỏ sự kính trọng và phân ưu. Đúng như tờ New York Herald Tribune đánh giá: “Là bậc chân tu khổ hạnh, văn hóa cao diệu, hiểu rõ thế giới và can đảm, Đức Pi-ô 12 đã thu phục được lòng kính trọng của mọi người, không phân biệt nam nữ hay tín ngưỡng...”

Ở ngoài Giáo Hội đã vậy, ở trong Giáo Hội sự ngưỡng mộ lại càng dào dạt. Dĩ nhiên phải trừ ra một số giới “cấp tiến” như nhóm các Linh Mục Thợ ở Pháp đã bị Đức Pi-ô 12 giải tán, hay một số nhà thần học đã có những lập trường cách tân quá sớm và bị kiểm duyệt nghiêm khắc, một số người thông thạo về sự vận hành của guồng máy trong Giáo Hội... Thế nhưng, tất cả những người ấy cộng lại cũng chỉ là một thiểu số rất nhỏ. Tuyệt đại đa số người Công Giáo yêu mến Đức Pi-ô 12 và có cảm tưởng ngài là một vị thánh sống. Ngài ra đi để lại một cảm giác trống trải.

Những ngày ấy nay đã lùi vào quá khứ xa xưa. Nhắc lại sự ngưỡng mộ Đức Pi-ô 12 không phải là để vinh vang gì, nhưng để nhận ra rằng có vấn đề kế vị. Làm thế nào để kế vị được một người với tầm cỡ như thế ? Ai có thể lấp được chỗ trống Đức Cố Giáo Hoàng để lại ? Giáo Hội khác với xã hội đời, chẳng có vị nào “xung phong” ra tranh cử. Chỉ có 51 vị Hồng Y, nói chung là già cả, sắp bước vào “Mật Hội” để bầụu Giáo Hoàng mới. Như vậy lại càng khó dự đoán kết quả. Giáo Hội đợi chờ...

Xế chiều ngày thứ bảy 11.10.1958, trong văn phòng ở Tòa Thượng Phụ Venezia, Đức Hồng Y Roncalli sắp xếp lại giấy tờ trước khi về Roma thọ tang và phó hội: những gì chuyển qua cho Đức Cha Phụ Tá Olivotti, những gì còn giữ lại trên chiếc bàn giấy lớn. Hành trang mang theo thật gọn, chỉ những gì rất cần thôi, hiển nhiên ngài nghĩ tới một chuyến đi ngắn ngày. Sắp dọn xong, ngài ăn bữa tối nhẹ, cầu nguyện một lúc lâu, đọc mấy trang sách rồi ngủ yên như thường lệ. Sáng hôm sau, Đức Hồng Y ra ga đi Roma. Dân chúng Venezia ra tiễn đông đảo. Bầu không khí rất nồng nhiệt, bởi Đức Hồng Y là người nhân hậu, hồn nhiên, rất dễ gần...
Trong Đền Thờ Thánh Phê-rô, thi hài Đức Pi-ô 12 đặt trên một linh sàng khá cao màu đỏ. 16 giờ chiều thứ hai 13.10, nghi lễ tẩm liệm theo nghi thức cổ truyền, trong quan ngoài quách. Sau Thánh Lễ đại triều, đại hồng chung ngân rền những tiếng trầm hùng trong lúc di quan xuống địa cung Đền Thánh, nơi an táng nhiều vị Giáo Hoàng.

Quang cảnh này như chất chứa một mầu nhiệm hiệp thông. Ngọn đồi Vatican này xưa kia là ngự viên thuộc hoàng cung của bạo đế Nero. Chính ở đây những người tín hữu đã bị tẩm chất đốt và bị treo lên làm đuốc sống, mảnh đất này thấm máu của các tử đạo đầu tiên ở Roma. Và ngay bên cạnh ngự viên là nghĩa trang, nơi nhiều người bị hành hình được chôn cất. Sở dĩ Đền Thánh Phê-rô được xây ở một nơi địa hình không thuận tiện chính là vì Thánh Phê-rô đã được an táng nơi đây. Xưa nay vẫn truyền lại rằng Bàn Thờ chính trong Đền Thánh được đặt đúng trên vị trí của mộ Thánh Phê-rô. Từ ngày có Đền Thờ tới nay đã 13 thế kỷ, hai ba lần xây đi cất lại chồng chất lên nhau. Không ngờ khi Đức Giáo Hoàng Pi-ô 11 qua đời năm 1939, lúc đào huyệt dưới địa cung, người ta phát hiện những chứng tích đầu tiên của một khu mộ ngay dưới Cung Thánh Đền Thờ. Người kế vị Đức Pi-ô 11 là Đức Pi-ô 12 truyền lệnh khai quật di chỉ. Kết quả là tìm được một ngôi mộ với di cốt một người đàn ông trên 60 tuổi, và bên cạnh là một đài kỷ niệm nhỏ còn ghi rõ đây là sinh phần của Tông Đồ Phê-rô. Và vị trí đúng là trùng hợp theo chiều thẳng đứng với Bàn Thờ chính trên Cung Thánh. Và bây giờ đến lượt Đức Pi-ô 12, người kế vị Phê-rô thứ 260, trở về cùng một lòng đất. Hội Thánh đời đời truyền nối sứ vụ Tông Đồ.

AI SẼ LÀ NGƯỜI KẾ VỊ ?

Cửu nhật đại tang còn chưa dứt, nhưng đã râm ran những suy nghĩ cùng dự đoán về người kế vị thứ 261. Và bao giờ cũng thế, có khuynh hướng bảo thủ, có khuynh hướng cách tân, và có khuynh hướng trung dung.

Người bảo thủ thì mong một vị Tân Giáo Hoàng tiếp nối phong cách của Đức Pi-ô 12. Có thể nghĩ đến ngài Siri, mới 52 tuổi, Tổng Giám Mục Genoa, nhưng thấy bảo ngài dính líu hơi nhiều vào chính trị. Còn những vị như Ottaviani, Mimmi, Ruffini thì người ta bảo không được. Như vậy thì niềm hy vọng của phái bảo thủ là ngài Aloisio Masella, Hồng Y tại Giáo Triều, đang quyền nhiếp thường vụ lúc Tòa Thánh trống ngôi.

Phái cách tân lại muốn bầu một vị có phong cách khác. Họ nghĩ đến Đức Hồng Y Lercaro, Tổng Giám Mục Bologna. Nhưng cánh bảo thủ cho là ngài quá khuynh tả mà lại lập dị. Họ bảo: “Bầu ngài làm Giáo Hoàng để ngài biến điện Vatican thành cô nhi viện à ?” Chả là Đức Hồng Y đã nuôi nấng nhiều cô nhi, cho chúng sống ngay trong Tòa Tổng.

Phái thứ ba thì không dứt lhoát. Lúc này có thấy ai đủ tầm cỡ để kế vị một người như Đức Pi-ô 12 ? Người ta bàn nên bầu một người nào trung dung, không cần ở ngôi lâu lắm, chỉ cần người chủ trì một thời gian chuyển tiếp để chờ một bản lãnh lớn có cơ may xuất hiện trong Hồng Y Đoàn. Như vậy thì có thể nhờ Đức Hồng Y Valerio Valeri, phải cái ngài đau tim. Nếu không được, thì người ta còn nhắc tới danh tánh hai vị nữa. Một là Đức Hồng Y Agagianian, người Armenia, sinh ra là công dân Nga, hiện nay lại có quốc tịch Liban. Ngài là người rất tinh tế. Vị thứ hai hay được nhắc tới là Đức Hồng Y Roncalli, người ôn hòa, dễ mến, và 77 tuổi rồi.

Nhưng đó là sự bàn tán của các giới thông thạo. Kết quả ra sao tùy thuộc vào 51 vị Hồng Y sắp vào Mật Hội kia, mà các ngài thì kín đáo lắm, nghe nhiều, chắc nghĩ cũng nhiều, và có bàn bạc gì với nhau thì cũng rất cẩn mật.

Đức Hồng Y Roncalli trú ở Nhà Thánh Mẫu, Domua Mariae, 814 via Aurelia, không xa Vatican. Ngài nghĩ sao ? Trong một bức thư viết cho Đức Cha Piazzi, Giám Mục Bergamo, ngài thổ lộ: “Tâm hồn tôi tìm được một nguồn sức mạnh, vì tôi tin tưởng sẽ có một Lễ Hiện Xuống mới, qua vị lãnh đạo mới và sự chấn chỉnh các cơ quan Giáo Hội, sẽ thổi một khí thế mới vào Hội Thánh để cho Chân Lý, sự Thiện và Hòa Bình toàn thắng. Tân Giáo Hoàng có phải là người Bergamo hay không, điều đó không quan trọng. Mọi người phải cầu xin cho ngài là một nhà quản trị khôn ngoan và nhân hiền, xin cho ngài là một vị thánh, một người có sức thánh hóa. Thưa Đức Cha, Đức Cha hiểu tôi.”

ĐỨC HỒNG Y RONCALLI Ư ?

Như vậy là chỉ một tuần sau khi Đức Pi-ô 12 qua đời. Đức Hồng Y Roncalli đã nghĩ rằng có thể ngài phải kế vị. Bởi ngài quê vùng Bergamo, chính xác là ở Sotto il Monte ( có nghĩa là Chân Núi ). Đó là một ngôi làng nhỏ, hẻo lánh, mùa hè ruộng lúa nương ngô bao lấy mấy xóm nghèo, mùa đông những cây tùng, cây bách in bóng xanh đen trên nền đất nâu nhấp nhô. “Chấn chỉnh các cơ quan Giáo Hội” là vì như trên đã nói, Đức Pi-ô là người rất mực tài ba, lại có sức làm việc kinh người, đặc biệt trong những năm cuối đời, ngài một mình đôn đốc hết mọi việc lớn, nên các cơ quan Tòa Thánh có phần bị lu mờ.

Nói những lời như thế không có nghĩa là Đức Hồng Y Roncalli muốn làm Giáo Hoàng. Trong thâm tâm ngài lặp đi lặp lại lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong Vườn Cây Dầu. Thậm chí viết lên giấy trắng mực đen như trong thư gửi Đức Cha Giuseppe Battaglia, Giám Mục Faenza: “Về phần tôi, cầu Trời cho chén đắng xa đi !”

Ngày 23, chỉ còn hai hôm nữa Mật Hội sẽ khai mạc, Đức Hồng Y Roncalli đi thăm một cộng sự viên cũ, Đức Ông Dell’ Aequa: “Cha Angelo à, cha đã thấy đó, báo chí nhắc đến tên tôi như là một trong những “Papabili”. Tôi phải làm gì đây ?” - “Thưa Đức Hồng Y, xin ngài hãy đặt mình trong tay Chúa và nếu Ý Chúa là như thế, xin ngài đừng nói: Không; Xin ngài hãy buông xuôi và đương đầu với hy sinh như Chúa đòi hỏi. Sẽ không thiếu những người tốt lành và tận tụy cộng tác với ngài.”

Áp ngày Mật Hội, Hồng Y già Dalla Costa, một người bạn cố tri, còn nói với Đức Thượng Phụ Roncalli: “Ngài có thể là Tân Giáo Hoàng đấy !” - “Nhưng tôi bảy mươi tuổi rồi ! - “Ối, tôi còn hơn ngài mười tuổi kia... Nếu ngài có thể làm Giáo Hoàng mười năm thì là đủ rồi”

Nhưng đâu phải ai cũng tôn phò ngài Roncalli đâu ! Hình như ở Pháp, nơi ngài đã làm sứ thần Tòa Thánh từ 1945 đến 1952, người ta không đánh giá ngài cao lắm thì phải, chả thế mà một trong sáu vị Hồng Y Pháp khi lên đường phó hội đã nói thẳng thừng: “Có một điều chắc chắn: sẽ không phải là ngài Roncalli !” Bởi vì ngài Roncalli thì hàng Giáo Phẩm Pháp biết quá rồi, chỉ được cái xuề xòa vui vẻ tếu táo chứ có bản lãnh gì đâu !

Bảy năm làm Sứ Thần Tòa Thánh ở Pháp chẳng thiếu gì những vấn đề hệ trọng và hiểm hóc: bắt đầu là vụ chính quyền De Gaulle muốn thanh lọc hàng Giám Mục sau thế chiến thứ hai; kế đây là một loạt những canh tân mục vụ của các Giám Mục Pháp; cả về mặt Đạo lẫn mặt đời, không phải lúc nào Roma và Paris cũng thông cảm với nhau, tình hình nhiều lúc căng thẳng. Nhiều người, đặc biệt là giới trí thức, có cảm tưởng Đức Cha Roncalli là người “cù lần”, thủ cựu, chẳng hiểu thời đại.

Cha Rouquette, nhà bỉnh bút có tiếng của Dòng Tên nhớ lại: “Những bài diễn văn của ngài trước công chúng không được hay lắm. Còn khi có khách đến thăm, thì ngài chuyên nói đủ chuyện linh tinh... để khỏi phải đề cập những vấn đề nghiêm túc. Khi đọc diễn văn, thì ngài nói miên man những chuyện không đâu, để khỏi phải có lập trường. Kết quả là nhiều khi cử tọa cười cợt một cách bất kính, gần như tỏ thách đố tẩy chay.” Ví dụ trong một hội nghị long trọng bàn về những vấn đề mục vụ nóng bỏng, ngài kể lể dài dòng về một cuộc hành hương kính viếng di tích của vị Thánh ăn xin Benoit Labre, đến nỗi “mấy ngàn Linh Mục có mặt ngơ ngác, và một vị... thốt lên: “Sứ Thần là thế đấy à ?” Cũng vậy, giữa một nghi lễ trọng thể, ngài quay ra nói về rượu vang và mấy thùng ton-nô, Cử tọa cứ cười ầm lên !”

Tại sao thế ? Về sau, Đức Cha Roncalli có thổ lộ với người bạn thân Daniel-Rops: “Khi tôi đến Paris, tôi như có một cảm hứng. Tôi tự nhủ: Hoàn cảnh khó khăn là thế thì chỉ có một cách gỡ rối, dù lòng tự ái của mình có bị tổn thương: phải đóng vai ngu si thôi, phải đóng vai ngốc nghếch thôi !”

Quả là nước Pháp và Giáo Hội Pháp có nhiều cống hiến to lớn, có nhiều bậc kỳ tài, nhưng cũng có một mặt trái đây là một nỗi đam mê tư tưởng đến mức coi ý tưởng trọng hơn con người, rồi gay gắt lên, xào xáo nhau thậm tệ. Đức Cha Roncalli thì ngược lại, bao giờ cũng đặt con người trước tư tưởng. Giữa những mâu thuẫn nhức buốt như một ổ kiến lửa, thay vì đứng về phía này phe nọ, ngài thích để cho thời gian làm công việc gạn đục khơi trong. Ngài nói: “Quay một nửa vòng về phía hữu, lại quay một nửa vòng về phía tả”. Bù lại với sự cố tính không dứt khoát, là một thái độ cởi mở thân thiện với hết mọi người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, có Đức Tin hay không có Đức Tin, trong đó có cả chủ tịch Hồ Chí Minh khi ông sang Pháp năm 1946.

Sau bảy năm ở Pháp, Đức Cha Roncalli có rất nhiều bạn bè thuộc mọi phe phái. Riêng về việc Đạo, ngài đứng ngoài vòng mọi tranh chấp chính là để có một tư thế khả dĩ làm cho Tòa Thánh Roma thông cảm được với Giáo Hội Pháp và cho Giáo Hội Pháp thông cảm được với Tòa Thánh Roma. Đàng sau cái vẻ ba phải, có một cặp mắt tinh anh quan sát người và việc. Chỉ có một vài người rất tinh ý cảm thấyăy dưới cái bề ngoài vô thưởng vô phạt ấy, có một tư duy rất tự do còn đang cất đấy, chỉ lộ ra khi đến ngày đến giờ...

MẬT HỘI BẦU TÂN GIÁO HOÀNG

Từ ngày ấy nay đã hơn sáu năm. Bây giờ là buổi chiều ngày 25.10, vẫn ngài Roncalli ấy cùng với 50 vị Hồng Y khác tiến vào Mật Hội, vẫn là con người giữ riêng cho mình những nhận xét của mình, và sẵn sàng nép mình nhường chỗ cho người khác. Khi làm Giám Mục, ngài đã chọn cho mình một khẩu hiệu: “Obsedientia et Pax - Vâng Mệnh và Bình An”.

Từ hậu bán thế kỷ 13 đến nay, đã thành một kỷ cương trong Giáo Hội là các vị Hồng Y cử tri hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài trong những ngày bầu cử, một khi cánh cửa Mật Hội đóng lại là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Âu cũng là một cách để tách mình ra khỏi mọi toan tính của thế gian phàm tục, mang những ưu tư về Giáo Hội ra đối diện với Chúa và đón chờ ơn soi sáng của Thánh Thần. Ở Vatican thời đó còn giữ đủ các tập tục lễ nghi từ xưa truyền lại. Ông hoàng Sigismond Chipi Albini Della Rovere, từ bây giờ là người quản nhiệm nội điện Tông Tòa, cùng với các vệ binh Thụy Sĩ và vệ binh quý tộc tay cầm đuốc sáng đi rảo qua thanh sát một lần cuối cùng khu vực Mật Hội. Rồi mệnh lệnh vang lên 3 lần: “Extra omnes. Extra omnes” có nghĩa là tất cả những ai không có nhiệm vụ phải ra ngoài hết. Đến khi ông hoàng cùng đoàn vệ binh ra khỏi cửa, thì vị Hồng Y nhiếp chính khóa chặt 3 ổ khóa bên trong, ông hoàng khóa chặt 3 ổ khóa bên ngoài, sau đó niêm phong cánh cửa. Đó là cánh cửa duy nhất để ra vào Mật Hội. Trong Mật Hội, không có điện thoại, không có báo chí, nếu cần cung cấp lương thực thực phẩm, thư tín từ bên ngoài, thì qua một chiếc tủ xoay có Giáo Sĩ canh giữ... Mật Hội đã bắt đầu...

Dọc theo Nhà Nguyện Sixtina, dưới bức bích họa vĩ đại và trứ danh “Ngày Phán Xét” của Michelangelo, 51 vị Hồng Y ngồi trên những chiếc ngai có tán che mầu tím. Từ năm 1953, Đức Pi-ô 12 không tấn phong Hồng Y nào, nên nay đa số các vị đều già cả. Dù Đức Hồng Y Roncalli đã ở tuổi 77, nhưng vẫn còn 24 vị lớn tuổi hơn. Mỗi ngày đầu phiếu 4 lần, buổi sáng 2 lần và buổi chiều 2 lần. Mỗi vị Hồng Y lần lượt tiến tới Bàn Thờ, tay cầm lá phiếu của mình và tuyên thệ; “Xin Đức Ki-tô là Đấng sẽ phán xét tôi chứng giám cho tôi: tôi bầu cho người mà trước mặt Thiên Chúa tôi xét là phải được đề cử”, rồi bỏ lá phiếu của mình vào một chén thánh. Để một vì nào đắc cử, cần phải hội đủ túc số phiếu là hai phần ba cộng một, như vậy lần này là 35 phiếu.

Lại một cổ lệ rất đơn giản mà khiến cho mọi người bên ngoài vô cùng hồi hộp: sau mỗi lần đầu phiếu, các lá phiếu được mang đốt trong một cái lò bé con, đặt dưới một cái ống khói mảnh khảành sắt tây nhô lên cao trên mái Nhà Nguyện Sixtina. Nếu đầu phiếu chưa có kết quả, thì chất đốt được tẩm nhựa tạo ra làn khói đen. Nếu đã bầu được vị Tân Giáo Hoàng, thì mấy nhánh củi khô, rơm khô, sợi khô sẽ tạo ra khói trắng. Ngoài quảng trường Thánh Phê-rô, cộng đồng Dân Chúa, cũng như khách hiếu kỳ và rất nhiều phóng viên với rất nhiều máy ảnh, rất nhiều cameras cứ ngong ngóng nhìn cái ống khói.

Ngày đầu phiếu đầu tiên, Chúa Nhật 26.10, bốn lần khói đen tỏa ra. Vậy là trong Mật Hội phiếu bầu còn tản mác, chưa quy tụ vào ai. Quy luật trong Mật Hội là không có bài diễn văn nào, cũng không ai giải thích công khai, vì sao mình bầu cho một vị nào đó. Chỉ có nhiều lúc mấy mái đầu già chụm lại nghĩ ngợi trao đổi nhỏ nhẹ xen lẫn với những giờ yên lặng cầu nguyện. Về sau này, vị Tân Giáo Hoàng sẽ ghi trong nhật ký: “Tôi đã không hề vận động để được chức vụ Giáo Hoàng, trái lại, đã lưu tâm từng ly từng tí để người khác đừng chú ý đến tôi. Qua những biến chuyển trong Mật Hội, tôi luôn bằng lòng khi số phiếu dồn cho tôi giảm xuống và các vị ấy chú ý tới những đấng khác mà riêng tôi cũng tôn kính và thấy là xứng đáng.”
Như vậy là trong hai ngày Chúa Nhật và thứ hai, phiếu bầu cho Đức Hồng Y Roncalli khi trồi khi sụt. Theo sự tiết lộ của chính Đức Tân Giáo Hoàng khi đến thăm Học Viện Armenia, thì phiếu bầu của Đức Hồng Y Roncalli và của Đức Hồng Y Agagianian luôn xuýt xoát nhau.

Sang đến ngày thứ ba 28.10 thì có sự biến chuyển. Buổi sáng, phiếu bầu cho Đức Hồng Y Roncalli tăng lên, hết vòng hai thì hơn hẳn so với phiếu bầu Đức Hồng Y Agagianian. Đức Hồng Y Roncalli đi thẳng về phòng riêng, gương mặt nghiêm nghị hằn lên nét trầm tư. Ngài như đơn độc trong một cõi nào sâu lắng. Bữa ăn trưa không thấy ngài xuống phòng ăn. Đức Hồng Y Fossati, Tổng Giám Mục Torino, tìm đến phòng ngài thì thấy ngài còn đang bàng hoàng.

“TÔI SẼ MANG DANH GIO-AN”

Chiều ngày 28.10.1958, ngài Tisserant, đoàn trưởng Đoàn Hồng Y, tiến đến trước mặt ngài Roncalli và đặt câu hỏi bằng tiếng La-tinh theo đúng nghi lễ truyền thống: “Ngài đã đắc cử Giáo Chủ Roma đúng theo Giáo Luật. Ngài có nhận sự đề cử chăng ?”

Những giờ phút bàng hoàng hồi trưa đã qua rồi. Đức Hồng Y Roncalli khẽ cúi đầu và bằng một giọng trang trọng mà điềm đạm đọc câu trả lời cũng bằng tiếng La-tinh ngài đã soạn sẵn: “Khi nghe ngài, tôi run lên sợ hãi. Những gì tôi biết về sự nghèo nàn nhỏ bé của tôi khiến tôi sượng sùng hổ thẹn. Nhưng các anh em Hồng Y tôn kính trong Hội Thánh Roma đã đầu phiếu như thế, tôi nhận thấy đó là Ý Thiên Chúa, tôi xin nhận sự bầu cử của anh em. Tôi xin cúi đầu nghiêng mình trước chén đắng, trước Thánh Giá nặng nề. Trong đại lễ Chúa Ki-tô Vua, tất cả chúng ta từng hát: Chúa là Đấng phán xét chúng ta, Chúa là Đấng dẫn dắt ta; chính Nga sẽ cứu ta.”

Đã có Giáo Hoàng mới. Những chiếc tán mầu tím phía trên các ngai của các vị Hồng Y liền hạ xuống. Đó là biểu tượng quyền bính của Hồng Y Đoàn khi Tòa Thánh trống ngôi. Nay thì chỉ còn một tán phía trên ngai của vị Tân Giáo Hoàng. Đức Hồng Y Tisserant lại hỏi tiếp:

- Ngài muốn nhận danh hiệu là gì ?

- Vocabor Johannes. Tôi sẽ mang danh Gio-an.

Sự bất ngờ đầu tiên. Đã lâu lắm rồi không có Giáo Hoàng mang danh hiệu Gio-an. Phải lên đến tiền bán thế kỷ 14 mới thấy có Đức Giáo Hoàng Gio-an 22 ( 1316 - 1334 ), thời các Giáo Hoàng lưu lạc sang đất Avignon, nay là nước Pháp. Đức Tân Giáo Hoàng giải thích ngay:

-Với chúng tôi, đó là một danh hiệu thân thương và đó là tên gọi của thân phụ chúng tôi. Thân thương vì đó là danh hiệu của Xứ Đạo quê nghèo, nơi chúng tôi đã chịu Phép Rửa. Cũng là tôn danh của hết bao nhiêu Nhà Thờ Chính Tòa trên khắp thế giới, và trước tiên là của Thánh Điện Laterano, Nhà Thờ Chính Tòa của chúng tôi, Giáo Phận Roma. 22 vị Giáo Hoàng đã mang danh hiệu Gio-an... Hầu hết các vị ấy chỉ ở ngôi một thời gian ngắn... Chúng tôi danh phận mỏng manh, chỉ mong được ẩn mình trong sự truyền nối tuyệt vời của các vị Giáo Hoàng ấy... Nhưng chúng tôi yêu mến danh xưng Gio-an là vì, đó là tên gọi của hai người rất gần Chúa Ki-tô, là Chúa Cứu Thế và là Đấng sáng lập Giáo Hội: Gio-an Tẩy Giả, vị Tiền Sứ của Chúa... và vị kia là Gio-an, người đồ đệ và là tác giả Tin Mừng, mà Chúa Ki-tô và Thánh Mẫu rất nhân hiền hằng yêu dấu. Trong bữa Tiệc Ly, người đã tựa đầu trên vai Chúa, và do đó, Người tiếp nhận một Lòng Mến mà cho tới khi rất mực già cả, vẫn bừng lên ánh lửa Tông Đồ sống động...

Thế rồi, tự nhiên trào ra một câu đầy phong vị Gio-an, qua các Hồng Y, ngài đã ngỏ lời với mọi tín hữu: “Các con ơi, hãy yêu mến nhau, bởi đó là Điều Răn lớn của Chúa...”

Đức Gio-an 23 rời ngài đi về phòng áo, ngài đổi Hồng Y thành Bạch Y. khi trở lại lòng Nhà Nguyện Sixtina, chỉ còn chiếc mũphủ trên đỉnh đầu là đỏ. Vị Bí Thư Mật Hội, Đức Cha Di Jorio tiến lên dâng ngài chiếc mũ trắng. Lại một bất ngờ: Đức Gio-an 23 cất chiếc mũ đỏ của mình đắp lên đầu Đức Cha Jorio: ngài vừa phong một vị Hồng Y mới. Đó là một truyền thống lâu đời, mấy đời Giáo Hoàng trong thế kỷ 20 không giữ nữa. Đức Tân Giáo Hoàng là người quyết định mau chóng.

Vị Hồng Y nhiếp chính mãn nhiệm xỏ vào tay ngài chiếc nhẫn Mục Tử. Sau đó nghi lễ thần phục bắt đầu. Mỗi vị Hồng Y vừa quỳ xuống hôn tay ngài, liền được ngài nâng dậy ôm hôn và hàn huyên thân thiết. Đức Tân Giáo Hoàng rất chân tình trong mọi giao tiếp.

“HEBEMUS PAPAM. CHÚNG TA CÓ GIÁO HOÀNG RỒI !”

Ngoài quảng trường Thánh Phê-rô, lúc 17 giờ 10 phút, mọi người thấy khói bốc lên trên mái Nhà Nguyện Sixtina. Chẳng hiểu trục trặc thế nào, khói nhờ nhợ, không ra đen, không ra trắng. Năm lần trước cũng vậy, lúc đầu cứ xam xám thế, sau lại ngả màu đen. Người ta chưa dám hoan hô. Nhưng lần này không ngả đen, đã có phần hơi hồi hộp. Người bảo thế là đã có kết quả, người nói chưa đâu. Một anh nhà báo chạy ngang qua nói lớn tiếng: “Radio Vatican báo tin khói trắng... Afumata bianca” Bắt đầu xôn xao. Vài phút sau anh nhà báo hộc tốc trở lại: “Đúng rồi, Radio Vatican tái xác nhận là khói trắng”. Tin tức lan ra. Dân Roma sống lâu bên Tòa Thánh có một lối nói có lẽ không được cung kính lắm, nhưng thân mật, họ bảo là đã “làm ra Giáo Hoàng rồi: Il Papa è fatto !”.

Đèn vừa bật sáng dọc đại hành lang phía trên tiền đường Đền Thánh Phê-rô. Rồi đột nhiên ánh điện bừng lên chói lọi Thánh Đường. Vòm Đền Thánh sáng vút lên đến tận đỉnh cao, in vào nền trời đêm những đường cong lâng lâng trên không gian. Đúng rồi, Il Papa è fatto !

Chuông các Nhà Thờ khắp Roma gióng lên hân hoan. Một giàn nhạc chuông mênh mang bao lấy thành phố, và giàn chuông Đền Thánh Phê-rô vang lên như những giọng ca lĩnh xướng. Hai cánh màn trắng trên bao lơn lộ thiên của Đền Thánh cuộn lên. Đoàn vệ binh Thụy Sĩ đứng vào vị trí trong hành lang. Một tấm trướng mầu trắng viền đỏ rất lớn, ở giữa còn mang Giáo Huy của Đức Pi-ô 12 được phủ lên lan can cho chảy dài xuống chính điện Đền Thờ.

18 giờ 03, Đức Hồng Y Canali xuất hiện. Trên quảng trường bây giờ mấy trăm ngàn con người đã tụ lại, yên lặng ngóng chờ. Từ các loa phóng thanh vang lên lời ngài Canali đọc công thức cổ truyền bằng tiếng La-tinh:

“Annuncio vobis gaudium magnum: Tôi loan báo cho anh chị em một niềm vui lớn...” Ngài ngừng một giây. Đã có vài tiếng hoan hô. “...Hebemus Papam. Chúng ta có Giáo Hoàng rồi”. Quần chúng lại rộ lên vui mừng. Nhưng là ai thế ? “...Eminentissimum anh em Reverendissimum Dominum Angelum Josephum. Quý tính tôn danh ngài là Angelo Giuseppe...” Thế là bên dưới có người hiểu rồi. Có ai đó kêu lên: “Hoan hô ! Cụ Venezia !” Người ta xì xào vào tai nhau. Tiếng Đức Hồng Y Canali vẫn đang vang lên: “...Sanctae romanae Ecclesiae Cardinalem Roncalli... Roncalli Hồng Y Hội Thánh Roma...” Tiếng vỗ tay vang lên như sóng cồn tràn qua quảng trường mênh mông, xuyên suốt đường Conciliazione, ra tới bờ sông Tevere. Đức Hồng Y Canali kết thúc vẫn bằng tiếng La-tinh: “Ngài đã chọn danh hiệu là Gio-an thứ hai mươi ba”.

Không lâu sau đó, những tà áo đỏ của các vị Hồng Y phất phới trên hành lang. Và một người áo trắng từ từ tiến ra bao lơn. Quần chúng la hò tưng bừng: “Evviva il Papa... Evviva Roncalli...”

Dân Roma tếu tếu vậy mà nhiều khi rất đúng. Họ bảo cứ một ông ốm lại một ông mập kế tiếp nhau. Đức Pi-ô 12 gầy ốm, có nhân dáng một nhà tu khổ hạnh. Đức Gio-an 23 vừa thấp lại vừa mập. Phải chăng có một quy luật lịch sử tiềm tàng làm nên sự quân bình của Giáo Hội, và quy luật ấy biết đâu có cả một âm vang thể lý ?

Đức Gio-an 23 cất tiếng đọc những lời kinh mở đầu cho nghi thức chúc lành trọng thể. Tiếng La-tinh đọc theo cung giọng Ý nghe du dương. Tiếng nói cũng có nét tương phản. Tiếng Đức Pi-ô 12 nghe mong manh, như từ một cõi xa xôi nào vọng đến. Tiếng Đức Gio-an 23 thì chắc nịch và ấm áp: “...Xin Phước Lành của Thiên Chúa Toàn Năng là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần xuống trên anh chị em và tồn tại luôn mãi”

Đức Gio-an 23 vừa chúc lành lần đầu tiên cho “đô thành Roma và thế giới: Urbi et Orbi”. Về sau này, Đức Giáo Hoàng thuật lại với nhà điêu khắc Manzù: “Tôi chóa mắt vì những ngọn đèn chiếu. Giáo Hoàng thì chăn dắt đoàn chiên, nhưng gặp mấy nhà nhiếp ảnh là phiền lắm. Trên bao lơn đó, ánh đèn với những chớp lóe của họ làm cho tôi như mù, chả còn thấy gì nữa. Làm Giáo Hoàng mới, giáp mặt với quần chúng, mà có nhìn ra cái gì đâu !”

Cũng câu chuyện đó, nhưng nói với một Tu Sĩ Dòng Đa-minh người Pháp, cha A.M. Carré, ngài đi vào nội tâm hơn: “Khi rời khỏi bao lơn Đền Thánh Phê-rô, tôi nghĩ tới những ánh đèn chói chang từ nay sẽ chiếu vào tôi không phút nào ngơi. Và tôi tự nhủ: nếu mình không làm môn sinh của “Thầy” hiền lành và khiêm nhường trong lòng, thì sẽ không còn nhìn thấy thực tại cõi đời nữa đâu. Sẽ mù đấy...”