CHÚA NHẬT PHỤC SINH A

HÃY PHỤC SINH VỚI CHÚA KITÔ ALLELUIA !

(Ga 20, 1-9)

Thưa quý vị,

Chúng ta có năm lựa chọn cho Phúc âm tuần này. Tuy nhiên, các bài đều mở đầu giống nhau : “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần”(Ga). “Chiều ngày Sabat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng”(Mt)… Tuần tới thánh Gioan cũng dùng giọng văn tương tự để thuật chuyện Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ ở phòng trên lầu của nhà tiệc ly : “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì sợ người Do thái.”(Ga 20, 19) Thường thường các tác giả Phúc âm không quan tâm đến ngày tháng chính xác, chỉ kể chung chung. Thí dụ : “Sau đó Chúa vào thành Giêrusalem” hoặc “Sáng sớm Chúa lên đền thờ”. Nếu ai hỏi lý do tại sao thì các thánh sử trả lời : Việc đó không quan trọng. Điều quan trọng là sự kiện. Vậy hôm nay là ngoại lệ và chắc chắn phải có lý do.

Mặc dù chi tiết trong các bài Tin Mừng hôm nay rất lộn xộn, không bài nào ghi lại đầy đủ những lần Chúa hiện ra, hoặc theo một thứ tự hợp lý. Thí dụ, có mấy thanh niên mặc áo trắng trong mồ ? Hai thiên thần hay chỉ một ? Marcô viết : “Vào trong mộ các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải mặc áo trắng.” Luca lại nói : “Họ còn đang phân vân thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói đứng bên họ.” Gioan rõ hơn : “Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mồ thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.” Bà Maria Macdala ra mộ một mình hay còn các phụ nữ khác cùng đi ? Tuy nhiên, về thời gian Chúa sống lại thì các thánh sử đều rõ ràng, không phải bất cứ ngày nào trong tuần mà là ngày thứ nhất. Các vị có dụng ý cho độc giả thấy việc Chúa phục sinh là một khởi đầu mới, giống như việc tạo dựng vũ trụ. Cho nên Tân Ước ưa dùng cụm từ “trời mới đất mới” để mô tả Hội thánh trong kỷ nguyên phục sinh. Tín hữu không còn thuộc về thế giới cũ, nô lệ cho tội lỗi, mà thuộc về vương quốc tái sinh, tràn đầy ơn thánh. Ngày tạo dựng, Thiên Chúa đã làm cho ánh sáng chiếu thâu qua bóng tối để soi sáng vũ trụ, thì ngày hôm nay, Chúa phục sinh cũng xuyên qua tối tăm của sự chết để mang hy vọng cho nhân loại. Hai biến cố đều do bàn tay quyền năng của Thiên Chúa. Cho nên chúng ta không còn lý do để sợ hãi, không còn lý do làm tôi dục vọng, nhưng phải sống tinh tuyền theo ánh sáng Chúa soi đường.

Chúng ta nên suy gẫm thấu đáo hơn về các bài đọc hôm nay. Và lấy chuyện của ba môn đệ trong biến cố Chúa sống lại (Maria Macdala, Phêrô, Gioan) làm thầy dạy. Trước hết, bà Maria đi ra mồ trong tâm trạng giống hệt mọi người trước đau thương : Khóc lóc, thở than, thất vọng, tôn kính người quá cố, gợi nhớ các kỷ niệm, cái chết bất ưng không lường trước. Chắc chắn bà không có tư tưởng thầy sẽ sống lại. Thánh Gioan ký thuật : “Lúc trời còn tối bà Maria Macdala đi đến mộ thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ.” Bà chẳng hiểu điều chi đã xảy đến cho xác Thầy. Bà hoàn toàn ngỡ ngàng, vì vẫn ở trong vòng tăm tối, chưa được đức tin soi sáng. Ngôi mộ trống không đủ thuyết phục bà Chúa đã chỗi dậy. Tư tưởng của bà vẫn bình thường như mọi người : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu.” Bà chỉ biết có thế và đã báo tin cho hai tông đồ Phêrô và Gioan có vậy. Chúng ta không thể gán cho bà tội giả tạo, sắp xếp sự việc rồi loan tin thất thiệt. Cũng chẳng thể tưởng tượng ra điều chi phức tạp hơn. Có chăng thì cố gắng nhìn vào thế giới thiên nhiên để tìm ra vài hình thức của sự hồi sinh. Thí dụ, tổ kén sẽ trở thành bươm bướm nhờ ơn huệ của trời đất và di truyền. Ở miền Bắc địa cầu, mùa đông chỉ thấy đất giá lạnh, trơ trụi, cây cối trơ cành như chết, nhưng mùa xuân ấm áp tới, thiên nhiên hồi sinh, cảnh vật trở thành nâu, rồi xanh và hoa lá bắt đầu trổ bông. Chúng ta có thể tưởng tượng đó là những dấu hiệu của sự hồi sinh, những chỉ dẫn cho thấy sự sống có thể phát xuất bất ưng từ cõi chết. Tuy nhiên, với những bằng chứng chết chóc hằng ngày không đủ để thuyết phục nhân loại là có hy vọng phục sinh. Thí dụ tai hoạ sóng thần ở Đông Nam Á, ôm bom tự sát ở Palestin, Iraq, sập mỏ ở Trung quốc, chết đói hằng triệu ở Phi châu, buôn bán phụ nữ trẻ con trên thế giới, chạy đua nguyên tử, tai nạn xe hơi, máy bay, xe lửa, xảy ra hầu như hằng ngày khắp nơi. Những biến cố đó và nhiều sự kiện chết chóc tương tự, chứng tỏ dù tổ kén biến thành bươm bướm, dù cành khô trổ bông tươi tốt cũng không đủ bằng chứng cống hiến cho nhân loại tình cảnh hồi sinh. Gần đây, một người họ hàng có chồng mới qua đời nói với tôi : “Anh ấy là toàn bộ đời con và các cháu. Anh ấy qua đi đột ngột chúng con làm thế nào đây ?” Những nỗi đau thương như vậy làm sao vượt qua ? Cái kén trở thành con bươm bướm không đủ. Cho nên lý luận biện chứng tự nhiên, chết đi để nảy sinh đời sống mới, vẫn chỉ là một ẩn số, cần bằng chứng lớn hơn, vững chãi hơn, ngõ hầu thiên hạ có thể tin. Tạ ơn Thiên Chúa. Hôm nay chúng ta được bằng chứng đó. Các thánh sử thuật : bà Maria Macdala thực sự đã được gặp Chúa phục sinh và bà nhanh chóng loan truyền cho các môn đệ sợ hãi đang tụ họp ở căn phòng trên lầu : “Tôi đã xem thấy Chúa.” (20, 18) Một khi đã lãnh nhận ơn này, chúng ta cũng phải biết noi gương bà đem Tin Mừng cho mọi người. Nếu không thì là ích kỷ.

Tôi tự hỏi điều gì khiến ông Phêrô chạy chậm lại khi cùng người môn đệ khác hối hả đến mồ. Người ta thường giải thích là vì tuổi già sức yếu. Nhưng lúc ấy có lẽ ông chưa đầy 30. Vậy thì phải loại bỏ vấn đề tuổi tác. Thánh Gioan, người cùng chạy với ông, ngầm cho hay đó là do tâm lý. Phêrô nhớ lại mình chối thầy chỉ mới mấy ngày trước. Sự kiện còn quá mới mẻ để trực diện với ngôi mộ của Thầy. Gánh nặng quá khứ đeo đuổi lương tâm ông. Nếu đúng như vậy thì sự tha thứ của Chúa rất cần thiết cho ông. Đức tin vào Chúa phục sinh sẽ hoàn toàn thay đổi ông. Đức tin ấy ông không đạt đến được mà là ơn huệ nhưng không của Đấng phục sinh. Vì vậy ông cũng phải sẵn sàng ban cho kẻ khác. Xin nhớ có lần ông đã hỏi thầy phải tha thứ đến 7 lần chăng ? Chúa trả lời tới bảy mươi lần bảy. Lúc này ông cảm nghiệm điều đó một cách cụ thể, áp dụng vào chính bản thân mình. Cho nên, việc tha thứ không còn là lý thuyết mà là điều ông phải thực hành. Đây là bài học quý giá cho mỗi chúng ta, những kẻ đã nghe phúc âm nhiều lần, nhưng thực hành quá ít. Nếu như thời Trung cổ người ta hoả thiêu nhau vì hận thù thành kiến, thì bây giờ người ta cũng không kém độc ác. Phải chăng chúng ta là môn đệ Đức Ki-tô ? Câu trả lời tích cực xem ra gượng ép. Nếu như chúng ta nhìn vào ngôi mộ trống với các tông đồ hôm nay và bày tỏ đức tin vào Chúa sống lại, thì chúng ta phải sẵn lòng tha thứ cho bất cứ ai xúc phạm đến mình. Có thể chúng ta không nặng nề lương tâm vì phản bội Chúa đến nỗi phải chậm lại bước chân khi đến gần mồ Chúa. Nhưng phẩm chất người tín hữu nơi chúng ta thật nghèo nàn, tình yêu chúng ta dâng cho Chúa thường khi yếu ớt. Chúng ta không dám dấn thân như Ngài đòi hỏi, không dám phục vụ những kẻ nghèo nàn, xấu số, bơ vơ, ngoài lề như đức ái thúc giục, chúng ta tìm kiếm tiện nghi dễ dãi cho bản thân, quên bẵng những nhu cầu của hàng xóm láng giềng. Tệ hơn nữa, lánh xa không dám tiến đến gần “ngôi mộ trống” của đức tin chân thành, tức các hy sinh hãm mình, từ bỏ đam mê tội lỗi, các ưa thích riêng tư, tivi, đầu máy, các băng đĩa khiêu dâm đồi bại, các giải trí “lành mạnh” nơi hộp đêm, hồ tắm; nói chung “đi sung sướng” như kiểu nói bóng bảy của một số tu sĩ trẻ.

Nhưng nếu chúng ta vì gánh nặng quá khứ mà chậm bước như Phêrô thì có nguy cơ chẳng bao giờ được trông thấy Chúa phục sinh. Ngày thứ nhất trong tuần sẽ bình thường như các Chúa nhật khác, chẳng có chi để mà “mừng vui hân hoan” cất cao bài “Alleluia”. Ngược lại, nếu tông đồ Phêrô đã tin vào ơn sống lại, ông sẽ nhìn thế giới bằng quan điểm khác, qua lăng kính của Chúa Giê-su. Đối với ông không còn tiêu chuẩn đạo đức nào ngoài tiêu chuẩn Chúa Giê-su đã dạy, không còn thế giới quan nào ngoài giáo huấn của Chúa Cứu Thế. Ông sẽ hoàn toàn gắn bó với Chúa, đi theo con đường hẹp của Ngài, từ bỏ mọi quyền lực trái nghịch với cây thập tự. Thực tế Phêrô đã làm như vậy. Chuyện này đã rõ ràng mọi tín hữu đều thông suốt cả. Phần chúng ta nếu tin vào sự sống lại, chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều vấn đề của thế giới. Và hành động để thay đổi các quyền lực sự dữ, ngõ hầu bày tỏ công lý và tình yêu như Chúa dạy bảo. Thí dụ, tại sao trong một nước giàu có nhất thế giới như nước Hoa Kỳ lại có đến 25 % trẻ con sống trong cảnh nghèo khổ ? Tại sao dân chủ như nước Mỹ mà phần lớn phụ nữ chưa được hưởng quyền bình đẳng ? Tại sao nữ giới trong Giáo hội Công giáo chưa có tiếng nói ? Mặc dù Tin Mừng Chúa sống lại được một phụ nữ loan báo đầu tiên ? Làm thế nào đức tin vào Đấng phục sinh ban cam đảm và khả năng để chúng ta đối mặt với thế giới sa đoạ ngày nay, “ngày thứ nhất trong tuần” ?

Nếu lúc này đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” thì thánh Gioan nhắc nhở toàn thể nhân loại, đặc biệt là Giáo hội rằng có một điều gì hoàn toàn mới, hoàn toàn không biết trước đang xảy ra và chúng ta có lý do để phấn khởi. Một người nào đó được ơn soi sáng đã nhận ra. Thánh Gioan không tiết lộ rõ tên người ấy, chỉ nói “người môn đệ được Chúa yêu mến”. Xưa nay người ta vẫn gán cho chính ông. Nhưng thánh nhân để trống chỗ cho mỗi tín hữu được phép điền tên mình vào. Thật là một dụng ý tốt đẹp ! Chúng ta nên nhanh chóng thi hành kẻo lỡ vận hội trong mùa này : “Người môn đệ Chúa yêu mến nhìn vào trong mồ, ông đã thấy và ông đã tin”. Tình yêu mở mắt cho ông. Chúng ta cũng được đức tin mở mắt linh hồn và hãy tự gọi mình : “Người môn đệ được Chúa mến thương”. Hạnh phúc và hy vọng của mỗi tín hữu nằm ở đây. Kinh nghiệm về tình yêu Chúa mở ra cho chúng ta cơ hội lành thánh để thấy được bổn phận ơn gọi của mình “ngày thứ nhất trong tuần” ở không gian phục sinh. Khi nhìn vào trong mồ, các tín hữu cũng được mở mắt. Tình yêu Chúa đã ban tặng ơn đó, không do công nghiệp, tài khéo hay khôn ngoan của mình. Nó hoàn toàn là một ơn huệ nhưng không. Nhờ đó chúng ta chẳng còn sợ hãi thần chết trong muôn vàn thể hiện. Nó kêu mời mỗi người nhìn về tương lai, không còn nhìn lại quá khứ xem mình là ai, đã làm gì. Bởi vì quá khứ làm chúng ta nhát đảm. Đây là ngày thứ nhất trong tuần lễ mới, với những thực tại và khả năng mới cho các môn đệ Chúa. Tình yêu Chúa phục sinh là căn bản của nếp sống mới này. Chúng ta sẽ khởi sự hành động như những người được Thiên Chúa yêu thương, không còn mang trong lòng thù hận, ghét ghen; không tẩy chay, loại trừ nhau, không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi. Bởi vì Chúa đã cứu chuộc hết thảy mọi người. Làm thế nào những người được cứu chuộc lại có thể chia rẽ ? Làm thế nào họ không hợp lại thành một gia đình nhân loại yêu thương ? Tôi hy vọng chúng ta sẽ không rơi ra ngoài vòng tay thương yêu của Thiên Chúa. Chúng ta hoàn toàn liên kết với Đức Ki-tô trong cuộc sống của Ngài. Các mầu nhiệm của Ngài cũng là các mầu nhiệm của chúng ta. Cái chết của Ngài trên đồi Calvariô cũng là cái chết của các tín hữu. Ngài chịu thương khó không phải riêng lẻ mà như đại biểu của toàn thể nhân loại tội lỗi mà Ngài đã nhận lấy thân phận khi nhập thể làm người. Ngài nhân cách hoá nơi mình mọi lợi ích của chúng ta và có năng lực trả nợ cho mọi người. Ngài đã gánh chịu cái án tử hình mà tội lỗi chúng ta gây ra, còn Ngài hoàn toàn trong trắng.

Cho nên khi Ngài sống lại là mọi người đều được phục sinh trong Ngài. Thánh Phaolô ở bài đọc 2 quả quyết như vậy. Sự trỗi dậy của Ngài nhất thiết kéo theo sự phục sinh của toàn thể nhân loại. Chúng ta có thể tự hào mình đã sống lại và ngự bên hữu Thiên Chúa trên các tầng trời cao : “Thật vậy, anh em đã chết và sự sống mới của anh em hiện đang ẩn tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa.” Trong lúc kỷ niệm cuộc khổ nạn, phục sinh và thăng thiên của Chúa Giê-su, chúng ta không chỉ nhớ lại quá khứ, nhưng là cử hành những mầu nhiệm hiện tại, tức là sự khổ nạn, phục sinh và lên trời thiêng liêng của mỗi linh hồn. Chính bí tích rửa tội nói lên tất cả thực tại đó. Vì thế, mọi người nhắc lại lời thề trong đêm vọng phục sinh. Lời thề không phải là hình thức nghi lễ mà có nội dung nghiêm trọng kèm theo. Chúng ta buộc phải thi hành, nếu muốn là môn đệ Chúa. Ước chi hôm nay đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” của mỗi cuộc đời tín hữu trong nếp sống mới, nếp sống phục sinh nơi Đức Ki-tô. Amen. Allêluia.