THẦN HỌC XÁC THÂN

của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ

CHƯƠNG BA: Tội Lỗi và Xấu Hổ - Bài 5

III. Trường Phái Manikê và các Tổ Sư Hoài Nghi

Lời cảnh báo của Chúa Kitô có thể được giải thích như một bản cáo trạng đối với những con người lịch sử, nghĩa là đối với tất cả mọi người bất kể nam nữ vốn đã mang dấu ấn nguyên tội. ĐGH nêu câu hỏi này là: lời Chúa Kitô trói buộc con người nội tâm và đòi hỏi con tim chúng ta như thế nào; và các thái độ nội tâm của trái tim được chuyển biến thành hành động thích đáng ra sao.

Là một tác nhân hoàn toàn tự do, mỗi người chúng ta đều hành xử theo quan điểm và giá trị của riêng mình. Lời Chúa Kitô cần phải được nội tâm hóa và trở thành một phần của hệ thống giá trị nơi mỗi người. Kế đó, ta cố gắng hành động theo các giá trị ấy. Đây là điều ĐGH Gioan Phaolô II gọi là tiến trình “thâm nhập của ethos (tức các giá trị Chúa Kitô đã dậy) và praxis” (tức các hành vi theo sau việc nội tâm hóa lời Chúa dậy). Tiến trình này phần lớn là một cái gì riêng tư và ẩn dấu trong mỗi người; nó liên tục diễn tiến trong tâm khảm khi ta đối thoại với Chúa Kitô và đối diện với các tình huống khác biệt hằng ngày. Nhiều nhà trí thức đã viết về các cảm xúc của mình khi lắng nghe lời Chúa. Họ cũng cho xuất bản các tác phẩm trình bầy việc họ gặp gỡ và đối thoại với Chúa. ĐGH gọi các suy tư này là tiếng vọng của lời Chúa.

Một trong các tiếng vọng này là lối giải thích của trường phái Manikê vốn chủ trương rằng không chỉ duy tính lăng loàn mới bị lên án, mà ngay cả chính đối tượng của tính lăng loàn ấy nữa: đó là thân xác con người, cả nam lẫn nữ. Không chỉ riêng cái nhìn thèm muốn mới là tội, vì nó bộc lộ một thái độ của lòng người, mà ngay chính đối tượng của cái nhìn thèm muốn ấy cũng phải bị lên án. Như thế, trong quan điểm của phái Manikê, sự dữ đã bị chuyển đổi từ thái độ nội tâm sang đối tượng của cái nhìn. Lối chuyển đổi này thật dễ nhận thấy trong nhiều khía cạnh của đời sống con người. Chẳng hạn như bảo rằng kẻ uống rượu vô độ thì không sao cả, bởi vì rượu mới chính là thủ phạm. Cũng vậy, phải bảo rằng súng ống là sự dữ tự nội, bởi vì nó được dùng để giết người. Trong quan điểm này, không phải người sử dụng súng giết người đã hành động sai trái, mà chính sự vật, tức võ khí mới là sự dữ. Những thí dụ này cho thấy sự chuyển đổi sự dữ của một hành vi tự trong con người sang qua đối tượng bên ngoài. Theo lối giải thích của phái Manikê, thì chính thân xác con người mới là sự dữ thật sự.

Khi nói về ngoại tình và ‘ngoại tình trong lòng,’ Chúa Kitô không chỉ không lên án thân xác, mà trái lại còn xác nhận rằng “thân xác chính là một yếu tố, cùng với tinh thần, xác định chủ thể tính có tính chất hữu thể học của con người, đồng thời cũng chia sẻ phẩm giá của nó xét như một nhân vị.” Quan điểm Manikê sẽ dẫn đến sự “hủy hoại thân xác” xét như một điều dữ. Chúa Kitô khẩn khoản kêu mời mọi người nhìn nhận giá trị và phẩm giá vô song của thân xác con người, như cách thế biểu lộ nhân vị và sự kết hợp sâu xa và riêng tư của tình yêu. Trong não trạng Manikê, thân xác và dục tính có thể nói là đã cấu thành một phản giá trị. Trong khi đó, theo quan điểm Kitô giáo, thân xác và dục tính lại mang “một giá trị chưa được lượng định đúng mức.”

ĐGH còn nhận định rằng Chúa Kitô không hề lên án thân xác con người, và cũng không kết án trái tim nhân loại. Đúng hơn, Chúa Kitô gõ vào cánh cửa tâm hồn con người. Ngài kêu mời ta đừng sa chước cám dỗ của tính lăng loàn. “Lời mà Chúa mời gọi ta thắng vượt tính lăng loàn xác thịt cũng chính là lời đã xác nhận phẩm giá riêng tư của thân xác và phái tính, và lời ấy chỉ phục vụ phẩm giá này mà thôi.”

Quả vậy, Lời Chúa mời gọi tâm hồn con người, chứ không hề kết án nó, như trong trường hợp những kẻ ĐGH gọi là những “Tổ Sư Hoài Nghi,” đó là: Freud, Marx, và Nietzsche. Ba vị sư tổ này đã khám phá ra ba hình thức lăng loàn mà Kinh Thánh đề cập đến. Freud khám phá ra tính lăng loàn của xác thịt. Marx khám phá ra điều Kinh Thánh gọi là tính lăng loàn của con mắt, tức sự ham mê của cải thế gian. Nietzsche thì khám phá ra điều Kinh Thánh gọi là thói kiêu căng của đời sống, tức là dục vọng biến mình thành kẻ quyền thế, vốn chính là một thứ tự ái quá trớn, đóng kín lòng lại trước tha nhân. Freud, Marx và Nietzsche đã nhất loạt kết án nhân loại vì những lăng loàn vừa kể, nhưng lại không đưa ra một giải pháp nào để thắng vượt các khiếm khuyết ấy. Con người thế là bị lên án rồi bị bỏ đó.

Chúa Kitô cũng vạch trần các hình thức lăng loàn, nhất là thói lăng loàn xác thịt. Thế nhưng Ngài không dừng lại ở chỗ lên án, cho dù vẫn khuyến cáo ta không được có cái nhìn thèm muốn. Ngài kêu gọi ta sống phù hợp với kế hoạch nguyên thủy đã được mạc khải diệu kỳ trước khi phạm tội. Ngài mời gọi chúng ta tái xác nhận phẩm giá thân xác con người trong nam tính cũng như nữ tính. Chúa Kitô đã kêu gọi, lời kêu gọi thống thiết, bởi vì cùng với lời kêu gọi, Ngài còn ban cho ta các phương tiện để ta đáp lại lời mời gọi này nữa: đó là sự Cứu Chuộc và các hồng ân tuôn trào ra từ đó.

“Cứu Chuộc là một chân lý, một thực tại, nhân đó mọi người cảm nhận được lời mời gọi, và “được mời gọi có hiệu quả.” Mời gọi làm gì? Mời gọi để “tái khám phá, và nhất là thể hiện cái ý nghĩa hôn phối của thân xác và theo đó, biểu tỏ sự tự do nội tâm của tặng vật.”

Tưởng không còn gì tốt đẹp hơn những lời sau đây của ĐGH Gioan Phaolô II để kết thúc chương ba này: “Lời mời gọi của Chúa Kitô trong Bài Giảng Trên Núi không thể được coi là một hành vi tách biệt với bối cảnh hiện hữu cụ thể. Nó luôn luôn là một tái khám phá ra Ý NGHĨA CỦA TOÀN THỂ HIỆN HỮU, Ý NGHĨA CỦA ĐỜI SỐNG, trong đó có chất chứa ý nghĩa của thân xác, mà ta gọi là ‘hôn phối’. Những lời này của Chuá Kitô không chỉ mạc khải một đặc trưng mới, mà còn cho thấy một nhãn quan khác về khả năng con người. Điều quan trọng là, tận đáy sâu cõi lòng, con người không cảm thấy bị kết án để trở thành miếng mồi ngon cho dục vọng xác thịt, mà trái lại cảm thấy được kêu gọi mãnh liệt hướng đến giá trị tối cao là tình yêu; được kêu gọi như một nhân vị trong chân lý của nam tính và nữ tính cũng như trong chân lý về thân xác; được kêu gọi trong cái chân lý vốn là di sản của mình ‘từ khởi đầu,’ di sản của trái tim, vốn sâu xa hơn thân phận tội lỗi ta được kế thừa, sâu xa hơn tính lăng loàn trong cả ba hình thức của nó. Đặt trong toàn thể thực tại tạo dựng và cứu chuộc, Lời của Chúa Kitô đã phục hồi di sản sâu xa đó và đem cho nó cái sức mạnh chân thực trong đời sống con người.

(Còn tiếp)

Kỳ tới:Chương 4: Thân Xác Được Cứu Chuộc