Niềm tin, mồ côi, và độc hành
Năm 586 B.C., thủ đô của Nam Quốc Giuđêa bị dẫm nát dưới gót ngựa của đoàn quân thiện chiến Babylon, Đền Thờ Giêrusalem bị đốt cháy ra tro bụi. Năm 586 B.C. cũng chính là năm khởi đầu của giai đoạn người dân Nam Quốc bị lưu đầy bên đế quốc Babylon, thời kỳ của Thánh Vịnh 137:1,
Bên bờ sông Babylon,
Chúng tôi ngồi khóc, tưởng niệm Sion.
Người Do Thái lưu vong, mặc dù sống xa quê nhà, nhưng niềm tin vào một Giavê Thiên Chúa của Tổ Phụ Abraham, của nữ Quan Án Deborah vẫn sắt son, kiên vững. Bởi thế, trên vùng đất lạ Babylon, người dân lưu vong vẫn sống trung thành với lề luật Môisen, tuân giữ ngày Sabát. Nhưng Do Thái giáo không phải là tôn giáo của người Babylon. Cho nên, vào một ngày kia, vua Nebuchadnezzar quyết định dựng cao một tượng tà thần làm bằng vàng (Daniel 3:1). Theo như Daniel 3:2-7, nhà vua còn ký một sắc lệnh, bắt tất cả mọi người dân khi nghe tiếng tù và, đàn giây, đàn sắt, đàn cầm, tiếng kèn, và đủ thứ nhạc cụ nổi lên, mọi người, bất tuân nam phụ lão ấu đều phải thờ lạy sấp mình trước tượng thần vàng. Nhưng, Shadrach, Meshach, và Abednego, ba chàng thanh niên lưu vong Do Thái cương quyết không thi hành lệnh truyền của Vua Nebuchadnezzar, bởi niềm tin, “Hỡi Israel, Giavê là Thiên Chúa của chúng ta, một Thiên Chúa duy nhất” (Đệ Nhị Luật 6:4). Bởi niềm tin của những người dân vong quốc, Vua Nebuchadnezzar nổi giận, sai quân lính quẳng ba người thanh niên Do Thái vào lò than hồng, ngọn lửa sắc trắng xanh. Nhưng trong lò than rực lửa, ba người can trường nghĩa khí với niềm tin vào một Giavê Thiên Chúa vẫn không bị đốt cháy dù chỉ là một sợi tóc, bởi Shadrach, Meshach, và Abednego đã được Giavê Thiên Chúa ra tay bảo hộ giữ gìn (Daniel 3:25).
Bạn thân,
Vào một buổi sáng, theo như triết gia Nietzsche, có một người cầm ngọn đèn chạy khắp cùng phố chợ hét to, “Thiên Chúa đã chết! Thiên Chúa đã chết!”.
Đúng, có thể đối với triết gia Nietzsche, “Thiên Chúa đã chết!”, bởi vì niềm tin vào Ông Trời đã trở nên một thứ trang phục lỗi thời, cổ xưa, và lạc hậu cho những người cấp tiến, hiện đại, và văn minh. Nhưng, nếu Thiên Chúa đã chết đúng như lời của Nietzsche, bạn và tôi đã biến thành con mồ côi, không cha không mẹ, lạc chợ trôi sông. Chúng ta mồ côi lạc loài bởi vì cuộc sống trăm năm ngắn ngủi này rồi cũng sẽ trôi qua. Khi cuộc sống trần gian đóng sầm lại ngay trước cặp mắt xám đen và lạc thần của bạn và tôi, vào những giây phút đó, chúng ta sẽ nhìn lên ai để mà hướng về? Khi màn nhung sân khấu cuộc đời hạ xuống, khi đó, chúng ta sẽ đi về đâu? Khi trần gian không còn thuộc về chúng ta nữa, nơi đâu sẽ là nhà của mình? Chốn nào sẽ là chỗ nương thân cho bạn và cho tôi?
Nhưng, bởi niềm tin vào Giavê Thiên Chúa, chúng ta không mang trên khuôn mặt dung nhan của những người con mồ côi, homeless, vô gia cư. Thật vậy, niềm tin vào Thiên Chúa chính là căn nhà ngọt ngào thân thương, home sweet home, của bạn và tôi. Vào những giây phút thất bại với cuộc sống-mà ai lại chẳng có những giây phút thất bại, té ngã sõng soài trên con đường đời-nếu có niềm tin vào Thiên Chúa, hạnh phúc cho chúng ta biết bao vào những giây phút đen tối đó, bởi vì ít ra bạn và tôi vẫn còn có một căn nhà để mà quay về, để mà than khóc với niềm tin. Thật vậy, bởi có niềm tin, một người thất vọng không trở thành tuyệt vọng. Giuđa thoạt tiên thất vọng, cuối cùng tuyệt vọng, bởi anh ta mất niềm tin vào Đức Giêsu. Cành cây bên vệ đường là nơi người tuyệt vọng tìm đến. Một sợi dây treo lên. Một mạng người rớt xuống.
Nhờ có niềm tin, ba người thanh niên Do Thái của thuả xưa đã không mồ côi lạc loài trên vùng đất lưu đầy, vùng đất xa lạ Babylon. Ngay cả khi gian nan thử thách của lửa hồng bừng bừng đốt cháy, Shadrach, Meshach, và Abednego vẫn có Thần Linh của Thiên Chúa đứng kề ngay bên che chở giữ gìn. Nhờ có niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, Con Thiên Chúa hằng sống, một cách tương tự, bạn và tôi sẽ không còn bơ vơ lạc loài, độc hành, cô đơn trên con đường đời, bởi vì,
Dù bước đi trong thung lũng tối,
Con không lo mắc nạn, vì có Chúa ở cùng con (Thánh Vịnh 23:4).
Lạy Chúa, xin ban cho con một niềm tin quyết liệt vào Chúa, để con thôi không còn mồ côi, độc hành, một mình một bóng trên những nẻo đường đời của trần gian●
Năm 586 B.C., thủ đô của Nam Quốc Giuđêa bị dẫm nát dưới gót ngựa của đoàn quân thiện chiến Babylon, Đền Thờ Giêrusalem bị đốt cháy ra tro bụi. Năm 586 B.C. cũng chính là năm khởi đầu của giai đoạn người dân Nam Quốc bị lưu đầy bên đế quốc Babylon, thời kỳ của Thánh Vịnh 137:1,
Bên bờ sông Babylon,
Chúng tôi ngồi khóc, tưởng niệm Sion.
Người Do Thái lưu vong, mặc dù sống xa quê nhà, nhưng niềm tin vào một Giavê Thiên Chúa của Tổ Phụ Abraham, của nữ Quan Án Deborah vẫn sắt son, kiên vững. Bởi thế, trên vùng đất lạ Babylon, người dân lưu vong vẫn sống trung thành với lề luật Môisen, tuân giữ ngày Sabát. Nhưng Do Thái giáo không phải là tôn giáo của người Babylon. Cho nên, vào một ngày kia, vua Nebuchadnezzar quyết định dựng cao một tượng tà thần làm bằng vàng (Daniel 3:1). Theo như Daniel 3:2-7, nhà vua còn ký một sắc lệnh, bắt tất cả mọi người dân khi nghe tiếng tù và, đàn giây, đàn sắt, đàn cầm, tiếng kèn, và đủ thứ nhạc cụ nổi lên, mọi người, bất tuân nam phụ lão ấu đều phải thờ lạy sấp mình trước tượng thần vàng. Nhưng, Shadrach, Meshach, và Abednego, ba chàng thanh niên lưu vong Do Thái cương quyết không thi hành lệnh truyền của Vua Nebuchadnezzar, bởi niềm tin, “Hỡi Israel, Giavê là Thiên Chúa của chúng ta, một Thiên Chúa duy nhất” (Đệ Nhị Luật 6:4). Bởi niềm tin của những người dân vong quốc, Vua Nebuchadnezzar nổi giận, sai quân lính quẳng ba người thanh niên Do Thái vào lò than hồng, ngọn lửa sắc trắng xanh. Nhưng trong lò than rực lửa, ba người can trường nghĩa khí với niềm tin vào một Giavê Thiên Chúa vẫn không bị đốt cháy dù chỉ là một sợi tóc, bởi Shadrach, Meshach, và Abednego đã được Giavê Thiên Chúa ra tay bảo hộ giữ gìn (Daniel 3:25).
Bạn thân,
Vào một buổi sáng, theo như triết gia Nietzsche, có một người cầm ngọn đèn chạy khắp cùng phố chợ hét to, “Thiên Chúa đã chết! Thiên Chúa đã chết!”.
Đúng, có thể đối với triết gia Nietzsche, “Thiên Chúa đã chết!”, bởi vì niềm tin vào Ông Trời đã trở nên một thứ trang phục lỗi thời, cổ xưa, và lạc hậu cho những người cấp tiến, hiện đại, và văn minh. Nhưng, nếu Thiên Chúa đã chết đúng như lời của Nietzsche, bạn và tôi đã biến thành con mồ côi, không cha không mẹ, lạc chợ trôi sông. Chúng ta mồ côi lạc loài bởi vì cuộc sống trăm năm ngắn ngủi này rồi cũng sẽ trôi qua. Khi cuộc sống trần gian đóng sầm lại ngay trước cặp mắt xám đen và lạc thần của bạn và tôi, vào những giây phút đó, chúng ta sẽ nhìn lên ai để mà hướng về? Khi màn nhung sân khấu cuộc đời hạ xuống, khi đó, chúng ta sẽ đi về đâu? Khi trần gian không còn thuộc về chúng ta nữa, nơi đâu sẽ là nhà của mình? Chốn nào sẽ là chỗ nương thân cho bạn và cho tôi?
Nhưng, bởi niềm tin vào Giavê Thiên Chúa, chúng ta không mang trên khuôn mặt dung nhan của những người con mồ côi, homeless, vô gia cư. Thật vậy, niềm tin vào Thiên Chúa chính là căn nhà ngọt ngào thân thương, home sweet home, của bạn và tôi. Vào những giây phút thất bại với cuộc sống-mà ai lại chẳng có những giây phút thất bại, té ngã sõng soài trên con đường đời-nếu có niềm tin vào Thiên Chúa, hạnh phúc cho chúng ta biết bao vào những giây phút đen tối đó, bởi vì ít ra bạn và tôi vẫn còn có một căn nhà để mà quay về, để mà than khóc với niềm tin. Thật vậy, bởi có niềm tin, một người thất vọng không trở thành tuyệt vọng. Giuđa thoạt tiên thất vọng, cuối cùng tuyệt vọng, bởi anh ta mất niềm tin vào Đức Giêsu. Cành cây bên vệ đường là nơi người tuyệt vọng tìm đến. Một sợi dây treo lên. Một mạng người rớt xuống.
Nhờ có niềm tin, ba người thanh niên Do Thái của thuả xưa đã không mồ côi lạc loài trên vùng đất lưu đầy, vùng đất xa lạ Babylon. Ngay cả khi gian nan thử thách của lửa hồng bừng bừng đốt cháy, Shadrach, Meshach, và Abednego vẫn có Thần Linh của Thiên Chúa đứng kề ngay bên che chở giữ gìn. Nhờ có niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, Con Thiên Chúa hằng sống, một cách tương tự, bạn và tôi sẽ không còn bơ vơ lạc loài, độc hành, cô đơn trên con đường đời, bởi vì,
Dù bước đi trong thung lũng tối,
Con không lo mắc nạn, vì có Chúa ở cùng con (Thánh Vịnh 23:4).
Lạy Chúa, xin ban cho con một niềm tin quyết liệt vào Chúa, để con thôi không còn mồ côi, độc hành, một mình một bóng trên những nẻo đường đời của trần gian●