THẦN HỌC XÁC THÂN
của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ
CHƯƠNG BA: Tội Lỗi và Xấu Hổ
Bài 4: II. Chúa Kitô gõ vào cánh cửa tâm hồn con người
“Anh em đã nghe Luật dậy rằng: Chớ ngoại tình; nhưng Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.’ Lời nói này của Chúa Kitô được gửi đến cho con người “lịch sử,” nghĩa là cho tất cả mọi hữu thể nhân sinh vốn đang ôm mối “đổ vỡ tự bên trong nhân vị” mà tội lỗi đã gây nên. Lại nữa, khi nhấn mạnh đến sự ‘ngoại tình trong lòng,’ Chúa Kitô đã gõ vào cánh cửa con người nội tâm. “Ngoại tình trong lòng” là một hành vi nội tâm. Chúa Kitô đã chuyển trọng tâm luân lý từ các luật lệ và huấn lệnh bên ngoài sang đến chính ngọn nguồn của các hành vi nhân linh và đến chính con người.nội tâm. Chúa đòi hỏi mỗi người chúng ta phải nội tâm hóa những điều Ngài dậy dỗ ngõ hầu tự bên trong chúng ta có thể phát sinh các hành động thích đáng. Ta không ngoại tình không chỉ bởi vì có luật cấm, mà bởi vì cái gía trị của việc không ngoại tình thì xuất phát tự bên trong chúng ta, nghĩa là, ta nhận thức đuợc rằng ngoại tình chính là chà đạp sự trân quí riêng tư sâu xa đối với phẩm giá con người. “Một nền luân lý sống, theo nghĩa hiện sinh của nó, không chỉ được hình thành do bởi các qui tắc khoác lấy hình thức các giới răn, huấn lệnh, và cấm đoán, như trong câu nói “anh em chớ ngoại tình." Luân lý tính trong đó thể hiện chính cái ý nghĩa làm người… được hình thành bên trong cái nhận thức nội tâm về các giá trị, từ đó nẩy sinh ra bổn phận xét như sự biểu tỏ của lương tâm, cũng như lời đáp trả của chính cái ‘bản ngã’ tư riêng của mình.”
Nghịch lý này thật hiển nhiên. Chúa Kitô ngỏ lời với các hữu thể nhân sinh vốn đã bị thương tổn bởi sự ‘đổ vỡ’ trong mình. ĐGH giải thích rằng sự ‘đổ vỡ’ này xẩy đến ‘nơi’ mỗi người chúng ta, và được nhận thức một cách nội tâm. Ngài nói với con người nội tâm và dậy rằng sự ‘đổ vỡ” bên trong chúng ta phải được thắng vượt bằng cách chấp nhận tự nội tâm các qui tắc về hành xử thích đáng với tình trạng vô tội nguyên thủy, và rồi hành động theo các qui tắc đó. Chúa Kitô không chỉ xác định vấn đề một cách tuyệt đối chính xác, Ngài còn chỉ rõ vấn đề nằm ở chỗ nào nữa: đó là ở chỗ chấp nhận tự nội tâm cái tình huống do tội lỗi gây ra, nghĩa là, chấp nhận sống ý nghĩa hôn phối của thân xác một cách giới hạn, hời hợt mà thôi.
Thật ra, cái quan niệm này đã chất chứa trong luật Cựu Ước rồi. Khi Biệt phái chất vấn Chúa về các điều khoản về ly dị trong luật Môsê, Ngài liền lập tức nêu lên vấn đề “cứng lòng.” “Cứng lòng” chính là cái quan niệm cho rằng hậu quả tội lỗi, hoặc sự “đổ vỡ” tự bên trong nhân vị, có nghĩa là không cần phải hành xử theo các giá trị được biết đến qua các kinh nghiệm nguyên thủy khi còn trong tình trạng vô tội. Có thể nói rằng, khi nêu lên vấn đề ‘cứng lòng,’ “Chúa Kitô đã tố giác toàn thể cái gọi là “chủ thể nội tâm” đã có dụng ý bóp méo Luật Cựu Ước.” Ngoài sự kiện mọi cá nhân đều được tự cho phép chuẩn nhận các giá trị bất tương xứng với sự thật toàn vẹn về nhân phẩm (được mạc khải trong các kinh nghiệm nguyên thủy khi còn trong tình trạng vô tội), còn có sự kiện là chính các giá trị này đã được thực sự ghi chép vào trong luât của toàn thể xã hội. Không đồng tình với quan điểm này, Chúa Kitô yêu cầu Biệt phái (và cả chúng ta nữa) phải thắng vượt sự “đổ vỡ” bên trong mình, để tái nội tâm hóa các giá trị đã có từ thời điểm vô tội nguyên thủy, rồi theo đó mà sống.
Cũng cần phải hiểu đúng điều Chúa đòi hỏi nơi chúng ta. Trong Bài Giảng Trên Núi, bản văn về ngoại tình bao gồm ba phần. Trước hết là chính vấn đề ngoại tình. Thứ đến là yếu tố “nhìn mà thèm muốn.” Cuối cùng là “ngoại tình trong lòng.” ĐGH đã phân tích các điều này dưới ánh sáng truyền thống Cựu Ước (mà các thính giả của Chúa đều biết), cũng như dưới ánh sáng của mối “đổ vỡ tự bên trong nhân vị.”
Trong luật Do Thái thời Cựu Ước, ngoại tình hệ ở việc sở hữu vợ người khác. Đavít phạm tội ngoại tình với Bathshêba, bởi vì bà là vợ của Uriah xứ Hìttite. Đavít có nhiều vợ, nhưng đa thê lại không trái với lề luật.
Ngoại tình thì trái ngược với lề luật. Nó là “sự vi phạm đến quyền sở hữu của một người nam đối với người phụ nữ, có thể là người vợ hợp pháp của mình (thường là một trong số nhiều người).” Mặt khác, các ngôn sứ Cựu Ước xử dụng lối so sánh loại suy để giải thích mối quan hệ giữa Dân Tuyển Chọn và Thiên Chúa. Các ngôn sứ mô tả việc Dân Tuyển Chọn phạm tội ngoại tình chống Thiên Chúa, khi họ bỏ Ngài mà thờ lậy các ngẫu thần ngoại bang,.giống như một người vợ phạm tôi ngoại tình khi bỏ chồng để theo đuổi một người đàn ông khác. Là ngoại tình, không phải vì Thiên Chúa “sở hữu” Dân Tuyển Chọn, mà bởi vì họ đã từ bỏ tình yêu đối với Thiên Chúa, nghĩa là, họ đã từ bỏ sự “hiệp thông” với Ngài, điều họ đã cam kết qua các giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài. Thính giả của Chúa Kitô hẳn đã biết cả hai truyền thống lề luật và ngôn sứ của Cựu Ước. Tuy thế, cái khái niệm ngôn sứ của sự hiệp thông giữa hai người trong hôn nhân (như được soi sáng qua khái niệm về cuộc hôn phối của Thiên Chúa với Dân Ngài) thì gần gũi hơn với nội dung lời giảng của Chúa Kitô. Theo các ngôn sứ, thì “ngoại tình là tội lỗi, bởi vì nó tạo ra sự gẫy đổ của giao ước giữa người nam và người nữ.” Đây chính là ý nghĩa mà Chúa Kitô ám chỉ khi nói về ngoại tình trong câu nói thời danh:”Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã phạm tội ngoại tình với người ấy rồi.”
Khi nói đến “cái nhìn thèm muốn,” Chúa Kitô muốn ám chỉ cái ‘bối cảnh kinh nghiệm con người.” Đó là cái “kinh nghiệm và lương tâm của con người mọi thời, mọi nơi” bởi vì mỗi người, với tư cách là miêu duệ Ađam và Evà (tất nhiên, ngoại trừ Mẹ Maria và Chúa Kitô) đều mang trong mình các kinh nghiệm nguyên thủy, kể cả kinh nghiệm về trần truồng sau khi phạm tội. Tất cả chúng ta đều kinh nghiệm về những điều Ađam và Evà đã cảm nghiệm, khi họ trần truồng và xấu hổ lúc đứng trước mặt nhau. Chúa Kitô không cần giải thích về thói lăng loàn, bởi vì nó chính là một phần đời của con người, và cũng bởi vì, đối với thính giả của Ngài, không hề thiếu các mô tả như thế trong Cựu Ước.
Trong một đoạn văn thật phân minh (nhấn mạnh đến sự kiện tất cả những gì chúng ta kinh nghiệm thì đều được ‘gắn cho’ một giá trị tích cực hoặc tiêu cực), ĐGH nhận định rằng tính lăng loàn “cho thấy một kinh nghiệm về giá trị đối với thân zác, trong đó cái ý nghĩa ‘hôn phối’ của nó bị chặn ngang, do bởi nhục dục.” Đứng trước ‘cái nhìn thèm muốn, thân xác người khác sẽ bị “gắn cho” một thứ giá trị có sức loại trừ cái giá trị chân chính của nó. Do cái nhìn này, thân xác người khác đã đánh mất chính cái ý nghĩa hôn phối của nó (trong tâm trí của người mang cái nhìn thèm muốn). Nói khác đi, cái ý nghĩa hôn phối của thân xác người khác bị tách khỏi nhân vị người ấy. Tính lăng loàn giảm hạ giá trị của người khác vào duy một đặc tính: đó là phái tính. Tính hấp dẫn hỗ tương giữa nam và nữ, vốn được Thiên Chúa dựng nên tự ban đầu, được xây dựng trên mầu nhiệm nhân vị tính. Nó được xây dựng trên một toàn thể các đặc tính và giá trị cá nhân, được biểu lộ qua nam tính hoặc nữ tính của người ấy. Cái nhìn thèm muốn đã giản lược sự hấp dẫn hỗ tương vào trong một giá trị duy nhất: phái tính. “Ý thức rằng giá trị phái tính là một phần trong toàn thể lâu đài phong phú các giá trị mà người phụ nữ mang lấy khi xuất hiện trước mặt người nam, đó là một chuyện. Nhưng giản lược toàn thễ các đặc điểm phong phú của người nữ vào một giá trị duy nhất, tức phái tính, thì lại là một chuyện khác.” Ý nghĩa của ‘cái nhìn thèm muốn’ chính là sự giản lược người khác như thế. Còn Chúa Kitô thì coi cái ‘nhìn thèm muốn’ này đồng nghĩa với ‘ngoại tình trong lòng.’
Tuy thế, ĐGH nói thêm rằng, chưa thể gọi là ‘nhập tâm’ nếu chưa có một chọn lựa, một quyết định, nhắm đến việc giản lược người khác vào chỉ một giá trị. Với lựa chọn và quyết định này, cá nhân nào có cái ‘nhìn thèm muốn’ đã khẳng định rằng đối tượng cái nhìn của người ấy thì hiện hữu khác biệt với mình. Hẳn người ấy đã chủ quan ôm ấp lấy một thứ thực tại đã bị biến đổi. Quyết định này trở thành một phần của người ấy. Nó uốn ép hiện hữu người ấy vào một tư thế gượng gạo trong mối tương quan với người nào đang trở thành đối tượng cái nhìn của người ấy.
Tất cả những điều nêu trên đều dựa vào cái nguyên tắc này là: chúng ta trở thành điều chúng ta làm. Cứ liên tục làm một điều gì, ta sẽ trở thành điều ta đang làm đó. Chơi dương cầm, ta sẽ thành dương cầm thủ (cho dù chưa hẳn đã là nhạc sĩ chuyên nghiệp!). Cũng vậy, ai ưa nấu nướng sẽ trở thành nội trợ (cho dù chưa hẳn sẽ là đầu bếp). Quyết định và lựa chọn của ta sẽ xác định ta như thế nào. Khi quyết định ngược lại với thực tại, ta tự uốn mình trở thành người sống trong một thế giới do ta định đoạt, chứ không phải ‘cuốn theo chiều gió.’ Khi có ‘cái nhìn thèm muốn,’ là ta đang cố tái tạo thế giới theo hình ảnh ta, nghĩa là, ta đang cố gắng thay đổi kiểu cách hiện hữu của người khác, cũng như định hướng kiểu cách hiện hữu của mình trong tương quan với họ. Đó chính là “ngoại tình trong lòng vậy.”
Để minh họa điều này, ĐGH nêu lên trường hợp người chồng nhìn vợ mình một cách thèm muốn, hay ngược lại. Đây cũng là trường hợp ‘ngoại tình trong lòng.” Cho dù ngoại tình được định nghĩa, theo pháp lý, là dính dáng đến sự phối hợp tính dục với một người không phải là vợ hay chồng mình, “ngoại tình trong lòng,” theo định nghĩa của Chúa Kitô, chính là giảm hạ người khác thành một đối tượng nhằm thỏa mãn ham muốn lăng loàn của mình. Trong ý nghĩa này ngay vợ chồng cũng có thể mắc tội ngoại tình với nhau. Khi đó, họ đã làm thay đổi ý nghĩa căn bản của nhau, cũng như cách thức hai người hiện hữu cho nhau. Sự cải đổi ý nghĩa chân thực của mình, hay nói theo ĐGH, sự tách biệt ý nghĩa hôn phối của thân xác ra khỏi nhân vị, đã tạo ra hậu quả tai hại cho cả nhân loại, bởi vì “tương lai nhân loại đi qua ngưỡng cửa gia đình.” “Tự bản chất, đời sống con người có tính chất ‘đồng-giáo-dục,’ và phẩm giá cùng sự quân bình của nó -vào từng thời điểm của lịch sử cũng như tại từng điạ điểm theo điạ lý--đều tùy thuộc vào việc ‘nàng là ai cho chàng, và chàng là ai cho nàng.’
Nếu người này không nhìn thấy toàn thể nhân phẩm và giá trị của người khác, nhất là khởi đi tự trong lòng gia đình, thì phẩm giá và giá trị của từng người chúng ta cũng như của cả thế hệ tương lai đều bị đe doạ. “Ngoại tình trong lòng” xét như cái nhìn giảm hạ người khác xuống hàng đối tượng, thì bóp méo cách thế hiện diện của người khác trong thực tại, đồng thời dẫn đến các hậu quả sâu xa đe doạ chính sự hiện hữu con người trên trái đất. Chúa Kitô cảnh báo chúng ta về nguy cơ này bởi vì Ngài hiểu rõ “những gì chất chứa trong lòng con người.”
(còn tiếp)
của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ
CHƯƠNG BA: Tội Lỗi và Xấu Hổ
Bài 4: II. Chúa Kitô gõ vào cánh cửa tâm hồn con người
“Anh em đã nghe Luật dậy rằng: Chớ ngoại tình; nhưng Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.’ Lời nói này của Chúa Kitô được gửi đến cho con người “lịch sử,” nghĩa là cho tất cả mọi hữu thể nhân sinh vốn đang ôm mối “đổ vỡ tự bên trong nhân vị” mà tội lỗi đã gây nên. Lại nữa, khi nhấn mạnh đến sự ‘ngoại tình trong lòng,’ Chúa Kitô đã gõ vào cánh cửa con người nội tâm. “Ngoại tình trong lòng” là một hành vi nội tâm. Chúa Kitô đã chuyển trọng tâm luân lý từ các luật lệ và huấn lệnh bên ngoài sang đến chính ngọn nguồn của các hành vi nhân linh và đến chính con người.nội tâm. Chúa đòi hỏi mỗi người chúng ta phải nội tâm hóa những điều Ngài dậy dỗ ngõ hầu tự bên trong chúng ta có thể phát sinh các hành động thích đáng. Ta không ngoại tình không chỉ bởi vì có luật cấm, mà bởi vì cái gía trị của việc không ngoại tình thì xuất phát tự bên trong chúng ta, nghĩa là, ta nhận thức đuợc rằng ngoại tình chính là chà đạp sự trân quí riêng tư sâu xa đối với phẩm giá con người. “Một nền luân lý sống, theo nghĩa hiện sinh của nó, không chỉ được hình thành do bởi các qui tắc khoác lấy hình thức các giới răn, huấn lệnh, và cấm đoán, như trong câu nói “anh em chớ ngoại tình." Luân lý tính trong đó thể hiện chính cái ý nghĩa làm người… được hình thành bên trong cái nhận thức nội tâm về các giá trị, từ đó nẩy sinh ra bổn phận xét như sự biểu tỏ của lương tâm, cũng như lời đáp trả của chính cái ‘bản ngã’ tư riêng của mình.”
Nghịch lý này thật hiển nhiên. Chúa Kitô ngỏ lời với các hữu thể nhân sinh vốn đã bị thương tổn bởi sự ‘đổ vỡ’ trong mình. ĐGH giải thích rằng sự ‘đổ vỡ’ này xẩy đến ‘nơi’ mỗi người chúng ta, và được nhận thức một cách nội tâm. Ngài nói với con người nội tâm và dậy rằng sự ‘đổ vỡ” bên trong chúng ta phải được thắng vượt bằng cách chấp nhận tự nội tâm các qui tắc về hành xử thích đáng với tình trạng vô tội nguyên thủy, và rồi hành động theo các qui tắc đó. Chúa Kitô không chỉ xác định vấn đề một cách tuyệt đối chính xác, Ngài còn chỉ rõ vấn đề nằm ở chỗ nào nữa: đó là ở chỗ chấp nhận tự nội tâm cái tình huống do tội lỗi gây ra, nghĩa là, chấp nhận sống ý nghĩa hôn phối của thân xác một cách giới hạn, hời hợt mà thôi.
Thật ra, cái quan niệm này đã chất chứa trong luật Cựu Ước rồi. Khi Biệt phái chất vấn Chúa về các điều khoản về ly dị trong luật Môsê, Ngài liền lập tức nêu lên vấn đề “cứng lòng.” “Cứng lòng” chính là cái quan niệm cho rằng hậu quả tội lỗi, hoặc sự “đổ vỡ” tự bên trong nhân vị, có nghĩa là không cần phải hành xử theo các giá trị được biết đến qua các kinh nghiệm nguyên thủy khi còn trong tình trạng vô tội. Có thể nói rằng, khi nêu lên vấn đề ‘cứng lòng,’ “Chúa Kitô đã tố giác toàn thể cái gọi là “chủ thể nội tâm” đã có dụng ý bóp méo Luật Cựu Ước.” Ngoài sự kiện mọi cá nhân đều được tự cho phép chuẩn nhận các giá trị bất tương xứng với sự thật toàn vẹn về nhân phẩm (được mạc khải trong các kinh nghiệm nguyên thủy khi còn trong tình trạng vô tội), còn có sự kiện là chính các giá trị này đã được thực sự ghi chép vào trong luât của toàn thể xã hội. Không đồng tình với quan điểm này, Chúa Kitô yêu cầu Biệt phái (và cả chúng ta nữa) phải thắng vượt sự “đổ vỡ” bên trong mình, để tái nội tâm hóa các giá trị đã có từ thời điểm vô tội nguyên thủy, rồi theo đó mà sống.
Cũng cần phải hiểu đúng điều Chúa đòi hỏi nơi chúng ta. Trong Bài Giảng Trên Núi, bản văn về ngoại tình bao gồm ba phần. Trước hết là chính vấn đề ngoại tình. Thứ đến là yếu tố “nhìn mà thèm muốn.” Cuối cùng là “ngoại tình trong lòng.” ĐGH đã phân tích các điều này dưới ánh sáng truyền thống Cựu Ước (mà các thính giả của Chúa đều biết), cũng như dưới ánh sáng của mối “đổ vỡ tự bên trong nhân vị.”
Trong luật Do Thái thời Cựu Ước, ngoại tình hệ ở việc sở hữu vợ người khác. Đavít phạm tội ngoại tình với Bathshêba, bởi vì bà là vợ của Uriah xứ Hìttite. Đavít có nhiều vợ, nhưng đa thê lại không trái với lề luật.
Ngoại tình thì trái ngược với lề luật. Nó là “sự vi phạm đến quyền sở hữu của một người nam đối với người phụ nữ, có thể là người vợ hợp pháp của mình (thường là một trong số nhiều người).” Mặt khác, các ngôn sứ Cựu Ước xử dụng lối so sánh loại suy để giải thích mối quan hệ giữa Dân Tuyển Chọn và Thiên Chúa. Các ngôn sứ mô tả việc Dân Tuyển Chọn phạm tội ngoại tình chống Thiên Chúa, khi họ bỏ Ngài mà thờ lậy các ngẫu thần ngoại bang,.giống như một người vợ phạm tôi ngoại tình khi bỏ chồng để theo đuổi một người đàn ông khác. Là ngoại tình, không phải vì Thiên Chúa “sở hữu” Dân Tuyển Chọn, mà bởi vì họ đã từ bỏ tình yêu đối với Thiên Chúa, nghĩa là, họ đã từ bỏ sự “hiệp thông” với Ngài, điều họ đã cam kết qua các giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài. Thính giả của Chúa Kitô hẳn đã biết cả hai truyền thống lề luật và ngôn sứ của Cựu Ước. Tuy thế, cái khái niệm ngôn sứ của sự hiệp thông giữa hai người trong hôn nhân (như được soi sáng qua khái niệm về cuộc hôn phối của Thiên Chúa với Dân Ngài) thì gần gũi hơn với nội dung lời giảng của Chúa Kitô. Theo các ngôn sứ, thì “ngoại tình là tội lỗi, bởi vì nó tạo ra sự gẫy đổ của giao ước giữa người nam và người nữ.” Đây chính là ý nghĩa mà Chúa Kitô ám chỉ khi nói về ngoại tình trong câu nói thời danh:”Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã phạm tội ngoại tình với người ấy rồi.”
Khi nói đến “cái nhìn thèm muốn,” Chúa Kitô muốn ám chỉ cái ‘bối cảnh kinh nghiệm con người.” Đó là cái “kinh nghiệm và lương tâm của con người mọi thời, mọi nơi” bởi vì mỗi người, với tư cách là miêu duệ Ađam và Evà (tất nhiên, ngoại trừ Mẹ Maria và Chúa Kitô) đều mang trong mình các kinh nghiệm nguyên thủy, kể cả kinh nghiệm về trần truồng sau khi phạm tội. Tất cả chúng ta đều kinh nghiệm về những điều Ađam và Evà đã cảm nghiệm, khi họ trần truồng và xấu hổ lúc đứng trước mặt nhau. Chúa Kitô không cần giải thích về thói lăng loàn, bởi vì nó chính là một phần đời của con người, và cũng bởi vì, đối với thính giả của Ngài, không hề thiếu các mô tả như thế trong Cựu Ước.
Trong một đoạn văn thật phân minh (nhấn mạnh đến sự kiện tất cả những gì chúng ta kinh nghiệm thì đều được ‘gắn cho’ một giá trị tích cực hoặc tiêu cực), ĐGH nhận định rằng tính lăng loàn “cho thấy một kinh nghiệm về giá trị đối với thân zác, trong đó cái ý nghĩa ‘hôn phối’ của nó bị chặn ngang, do bởi nhục dục.” Đứng trước ‘cái nhìn thèm muốn, thân xác người khác sẽ bị “gắn cho” một thứ giá trị có sức loại trừ cái giá trị chân chính của nó. Do cái nhìn này, thân xác người khác đã đánh mất chính cái ý nghĩa hôn phối của nó (trong tâm trí của người mang cái nhìn thèm muốn). Nói khác đi, cái ý nghĩa hôn phối của thân xác người khác bị tách khỏi nhân vị người ấy. Tính lăng loàn giảm hạ giá trị của người khác vào duy một đặc tính: đó là phái tính. Tính hấp dẫn hỗ tương giữa nam và nữ, vốn được Thiên Chúa dựng nên tự ban đầu, được xây dựng trên mầu nhiệm nhân vị tính. Nó được xây dựng trên một toàn thể các đặc tính và giá trị cá nhân, được biểu lộ qua nam tính hoặc nữ tính của người ấy. Cái nhìn thèm muốn đã giản lược sự hấp dẫn hỗ tương vào trong một giá trị duy nhất: phái tính. “Ý thức rằng giá trị phái tính là một phần trong toàn thể lâu đài phong phú các giá trị mà người phụ nữ mang lấy khi xuất hiện trước mặt người nam, đó là một chuyện. Nhưng giản lược toàn thễ các đặc điểm phong phú của người nữ vào một giá trị duy nhất, tức phái tính, thì lại là một chuyện khác.” Ý nghĩa của ‘cái nhìn thèm muốn’ chính là sự giản lược người khác như thế. Còn Chúa Kitô thì coi cái ‘nhìn thèm muốn’ này đồng nghĩa với ‘ngoại tình trong lòng.’
Tuy thế, ĐGH nói thêm rằng, chưa thể gọi là ‘nhập tâm’ nếu chưa có một chọn lựa, một quyết định, nhắm đến việc giản lược người khác vào chỉ một giá trị. Với lựa chọn và quyết định này, cá nhân nào có cái ‘nhìn thèm muốn’ đã khẳng định rằng đối tượng cái nhìn của người ấy thì hiện hữu khác biệt với mình. Hẳn người ấy đã chủ quan ôm ấp lấy một thứ thực tại đã bị biến đổi. Quyết định này trở thành một phần của người ấy. Nó uốn ép hiện hữu người ấy vào một tư thế gượng gạo trong mối tương quan với người nào đang trở thành đối tượng cái nhìn của người ấy.
Tất cả những điều nêu trên đều dựa vào cái nguyên tắc này là: chúng ta trở thành điều chúng ta làm. Cứ liên tục làm một điều gì, ta sẽ trở thành điều ta đang làm đó. Chơi dương cầm, ta sẽ thành dương cầm thủ (cho dù chưa hẳn đã là nhạc sĩ chuyên nghiệp!). Cũng vậy, ai ưa nấu nướng sẽ trở thành nội trợ (cho dù chưa hẳn sẽ là đầu bếp). Quyết định và lựa chọn của ta sẽ xác định ta như thế nào. Khi quyết định ngược lại với thực tại, ta tự uốn mình trở thành người sống trong một thế giới do ta định đoạt, chứ không phải ‘cuốn theo chiều gió.’ Khi có ‘cái nhìn thèm muốn,’ là ta đang cố tái tạo thế giới theo hình ảnh ta, nghĩa là, ta đang cố gắng thay đổi kiểu cách hiện hữu của người khác, cũng như định hướng kiểu cách hiện hữu của mình trong tương quan với họ. Đó chính là “ngoại tình trong lòng vậy.”
Để minh họa điều này, ĐGH nêu lên trường hợp người chồng nhìn vợ mình một cách thèm muốn, hay ngược lại. Đây cũng là trường hợp ‘ngoại tình trong lòng.” Cho dù ngoại tình được định nghĩa, theo pháp lý, là dính dáng đến sự phối hợp tính dục với một người không phải là vợ hay chồng mình, “ngoại tình trong lòng,” theo định nghĩa của Chúa Kitô, chính là giảm hạ người khác thành một đối tượng nhằm thỏa mãn ham muốn lăng loàn của mình. Trong ý nghĩa này ngay vợ chồng cũng có thể mắc tội ngoại tình với nhau. Khi đó, họ đã làm thay đổi ý nghĩa căn bản của nhau, cũng như cách thức hai người hiện hữu cho nhau. Sự cải đổi ý nghĩa chân thực của mình, hay nói theo ĐGH, sự tách biệt ý nghĩa hôn phối của thân xác ra khỏi nhân vị, đã tạo ra hậu quả tai hại cho cả nhân loại, bởi vì “tương lai nhân loại đi qua ngưỡng cửa gia đình.” “Tự bản chất, đời sống con người có tính chất ‘đồng-giáo-dục,’ và phẩm giá cùng sự quân bình của nó -vào từng thời điểm của lịch sử cũng như tại từng điạ điểm theo điạ lý--đều tùy thuộc vào việc ‘nàng là ai cho chàng, và chàng là ai cho nàng.’
Nếu người này không nhìn thấy toàn thể nhân phẩm và giá trị của người khác, nhất là khởi đi tự trong lòng gia đình, thì phẩm giá và giá trị của từng người chúng ta cũng như của cả thế hệ tương lai đều bị đe doạ. “Ngoại tình trong lòng” xét như cái nhìn giảm hạ người khác xuống hàng đối tượng, thì bóp méo cách thế hiện diện của người khác trong thực tại, đồng thời dẫn đến các hậu quả sâu xa đe doạ chính sự hiện hữu con người trên trái đất. Chúa Kitô cảnh báo chúng ta về nguy cơ này bởi vì Ngài hiểu rõ “những gì chất chứa trong lòng con người.”
(còn tiếp)