CHÚA NHẬT V MÙA CHAY (A) : CON CÓ TIN NHƯ THẾ KHÔNG ?
Dẫn nhập đầu lễ :
Kính thưa ông bà anh chị em,
Phụng vụ Chúa Nhật Thứ V Mùa Chay gần như đưa chúng ta đến sát Mầu nhiệm Tử Nạn-Phục sinh, một Mầu nhiệm trọng đại của đức tin Kitô giáo sắp được cử hành long trọng trong Tuần Thánh sắp tới. Chính vì thế mà ngày xưa, phụng vụ đã bắt đầu gọi tên Chúa Nhật và Tuần lễ nầy là “Chịu Nạn” (Dominica Passionis). Trong khi đó, các Bài đọc và ca kinh hôm nay gần như tập chú vào huyền nhiệm “Chết” và “Sống lại” như một lời tuyên tín về Đức Kitô, Đấng chiến thắng những quyền lực của sự dữ nhờ cuộc chiến thắng của Người trên tử thần. Sứ điệp phụng vụ hôm nay cũng gọi mời chúng ta mạnh mẽ dấn thân và hân hoan tiến bước vượt qua muôn tăm tối phũ phàng cuộc sống hôm nay trong niềm xác tín và hy vọng phục sinh trong vương quốc vĩnh hằng.
Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi và sám hối ăn năn để xứng đáng cử hành Thánh lễ.
Giảng Lời Chúa :
Cứ mỗi buổi mai thức dậy, trong bản tin “an toàn giao thông” trên màn ảnh nhỏ, ngày nào chúng ta cũng nghe nhắc đến những tai nạn chết người. Mới hôm qua, trên đoạn đường Lăng Cô bên kia đèo Hải Vân, tàu lửa E 1 trật đường rây lật nhào, đã khiến bao nhiêu sinh mạng chết nuổng và làm chấn thương bao nhiêu con người còn sót lại. Trong khi đó, thế giới vẫn chưa quên nạn động đất và sóng thần hôm 26.12 vừa qua đã giết chết mấy trăm ngàn người già trẻ lớn bé chỉ trong tích tắc. Và dù nếu ngày nào không còn tai nạn sóng thần hay động đất nữa, thì thế giới hằng ngày vẫn mãi còn những chuyến xe tang đưa người về huyệt mộ vì bao nhiêu cái chết khác nhau. Quả thật, “Sinh, Lảo, Bệnh, Tử” đó là một chu kỳ quái ác mà loài người phải kinh qua như một định luật phũ phàng tất yếu.
Trước một định luật nghiệt ngã như thế, không biết bao nhiêu câu hỏi đã đặt ra : Tại sao như thế ? Con người là “Nhân ư linh vạn vật” kia mà ? Và làm sao Thiên Chúa tốt lành, quyền năng lại để xảy ra như thế ?. Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của câu nói mà hai chị em Matta và Maria ở Bê-ta-ni-a đã trách móc Chúa Giêsu khi đối diện với cái chết của người em trai yêu dấu : “Phải chi có Thầy ở đây thì em con không chết !”.
Quả thật, buồn làm sao khi đối diện cái chết ! Buồn làm sao kiếp phận mỏng manh con người ! Như NS Trịnh Công Sơn đã khéo nhận xét trong bài ca “Cát Bụi” :
“Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi. Lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày !”.
Hay như một câu thánh vịnh mà chúng ta vẫn thường hát trong thánh lễ cầu hồn :
“Đời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng. Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích !”.
Phần chúng ta, vấn nạn “nhân sinh quan” nầy gần như đã được giải đáp ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh. A-đam-E-Va, sau khi khước từ Lời Thiên Chúa, nghe lời ma quỷ xúi dục, đã đưa tay “hái trái cấm”…và thế là nối tiếp giữa dòng đời : huynh đệ tương tàn : Ca-in giết A-ben, lụt đại hồng thủy, bảo lửa hủy diệt Sodoma và Gomora…Và cho tới mãi hôm nay, hình như thế giới cứ lần mò tiến đi giữa một “nền văn minh sự chết” : khủng bố, chiến tranh, hận thù sắc tộc, tôn giáo, Si-đa, ma túy, phá thai, dịch bênh…
Và chính trong cái “vũng lầy nhầy nhụa” đầy những đống xương khô của bóng tối và sự chết, của đọa đầy và thất vọng, của đắng cay ưu phiền…chúng ta lại nghe vang lên lời của Thiên Chúa : “Nầy hỡi dân ta, Ta sẽ mở cửa huyệt cho các ngươi. Ta sẽ đem các ngươi lên khỏi huyệt…” (BĐ 1); và chính ngay “quê hương của tử thần”, một tiếng nói quyền năng đã âm vang thấu tận âm phủ, mở toang cánh cửa huyệt mộ : “Hỡi La-da-rô hãy bước ra”, “Ta là sự sống lại và là sự sống” (TM). Như vậy bài học đầu tiên của Lời Chúa hôm nay mà chúng ta phải thuộc, tin mừng tiên khởi mà hôm nay chúng ta phải sống chính là :Tin vào sự sống.
1. Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa của kẻ sống, Thiên Chúa của niềm hy vọng :
Trên cảnh hoang tàn của Giê-ru-sa-lem và trong kiếp lưu đày biền biệt của một đời nô lệ tối tăm, lời sứ ngôn Ê-dê-ki-en vang lên như tiếng kèn hy vọng, niềm hy vọng chứa chan vào lòng trung tín của Thiên Chúa vượt trên khổ đau và chết chóc : “Ta sẽ mở cửa huyệt cho các ngươi”. Chính tình yêu cứu độ của Thiên Chúa mãi mãi là sức mạnh hồi sinh, là quyền uy giải thoát. “Cho dù có người mẹ không thương con, thì Ta, Ta không bao giờ quên ngươi”. Chân lý nầy muốn nói với chúng ta rằng : chúng ta không được quyền thất vọng cho dù phải đối diện với bao thảm cảnh cuộc đời, cả cái chết. Bởi vì Thiên Chúa đang có mặt trên mọi nẽo đường và biến cố để thổi vào Thần Khí tác sinh, để gieo vào hạt mầm của sự sống và hồng ân cứu độ. Như lời của Gilbert K. Chesterton : “Nếu những hạt giống trong lòng đất đen mà còn có thể biến thành những cánh hoa hồng xinh đẹp như thế, thì trái tim con người còn thể biến thành thế nào nữa trong cuộc hành trình hướng đến các vì sao”.
2. Thiên Chúa đã nhập thể trong chính nổi đau và cái chết :
Khi vào đời, Thiên Chúa nào tránh né cái kiếp phận long đong của con người. Hãy xem những giọt nước mắt đã lăn dài trên má của Chúa Giêsu khi chứng kiến cái chết của người bạn thân La-da-rô ở Bê-ta-ni-a; cũng như, Ngài cũng đã từng chia sẻ niềm vui với đôi tân hôn tại tiệc cưới Cana khi giúp họ có thêm mấy trăm lít rượu ngon để niềm vui trọn vẹn và được mãi nối dài. Và như thế, có gì để chúng ta lo buồn sầu khổ vì từ đây, bên cạnh cuộc hành trình tiến về vĩnh cửu, Thầy Chí Thánh đã sát cánh chen vai để cùng ta đi hết độ đường và dẫn ta vào bữa tiệc trường sinh trong vương quốc sự sống, như Ngài đã đồng hành với hai môn đệ trên đường Em-mau vào chiều “Ngày Thứ Nhất trong tuần” để xua đi nổi buồn “tử nạn Can-vê” và loan báo “tin mừng sống lại”.
Thê thảm nhất, khổ sầu nhất, thất vọng nhất, là khi ở giữa “đường hầm tăm tối của cuộc sống”, con người không tìm gặp được Thiên Chúa đang đồng hành, không tìm gặp được Đức Kitô đang sánh bước, không thấy được ánh sao hy vọng ở cuối trời, không nhận ra ánh mắt yêu thương và tha thứ đang dõi nhìn theo…mà chỉ một mình loay hoay bước đi trong cõi nhân sinh buồn thảm. Trong hoàn cảnh đó, trong tâm trạng đó, quả thật cuộc sống đã trở thành cõi chết, hương vị ngọt ngào của cuộc sống đã trở nên ngải đắng, ánh sáng ấm nồng mùa xuân trở thành đêm đông băng giá…Và như thế, một liều thuốc độc, một phát súng, một dây thòng lọng đã trở nên “phương tiện gần gũi dẫn lối đưa đường vào cõi chết tối tăm” ! Chúng ta đừng quên câu chuyện “Ngày Thứ Năm Tuần Thánh” : khi Giu-đa phản bội Thầy, bỏ bàn tiệc ra đi, thì “bóng tối dâng lên”…và đã phủ ngập trái tim Giu-đa cho đến khi đưa đầu vào chiêc giây thòng lọng để chọn cái chết thất vọng. Trong khi đó, chiều Thứ Sáu hôm sau trên đồi Can-vê nắng úa, một kẻ trộm bị đóng đinh đang hấp hối, đã nhìn ra trong cái chết đớn đau oan nghiệt của con người tử tội Giêsu Na-da-rét một ánh sáng chứa chan niềm hy vọng :”Khi Thầy vào Nước của Thầy xin nhớ đến tôi”. Và lập tức anh ta được đáp ứng : “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với tôi”. Như thế đó, Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô đã nhập thể trong chính nổi đau và cái chết để dẫn đưa những ai tin vào Ngài vào cuộc sống đích thực, như hôm nay Ngài xác quyết qua dấu lạ phục sinh La-da-rô bốn ngày chết chôn trong mộ và qua chính Lời tuyên cáo : “Ai sống mà tin vào Ta sẽ không chết bao giờ”.
3. Dấn thân cho nền “văn minh sự sống” :
Tin vào một Thiên Chúa tình yêu ban sự sống, tin vào một Đấng Kitô Phục sinh dẫn ta vào cuộc sống vĩnh hằng, tin vào Chúa Thánh Linh đang thổi vào hồn ta nguồn sống mới, thì liệu có mang lại chuyển biến nào cho chính ta và cho thế giới hay chăng ? Thưa có đấy. Bởi vì chỉ với niềm tin như thế ta mới thấy thế giới đẹp vô cùng, ta mới thấy cuộc sống mới đáng sống làm sao, mới thấy mỗi một con người, mỗi một sinh linh là một công trình kỳ diệu, mới thấy mỗi một cuộc đời, cho dù què cụt điếc câm, cho dù thấp cổ bé miệng, cho dù dốt nát bần hàn…vẫn là một “kỳ công vĩ đại của Thượng Đế” luôn cần được kính trọng luôn cần được sẻ chia, yêu thương và phục vụ. Vâng, chỉ với niềm tin đó thì chúng ta mới trụ vững giữa trăm chiều thử thách, mới đủ can đảm mĩm cười với số phận cho dù phải khắc nghiệt oái ăm, mới đủ quảng đại và khoan dung để yêu thương và tha thứ. Và nhất là, chỉ với niềm tin đó, chúng ta mới bình thản đón nhận “chết chính là một thành phần của cuộc sống”, thế giới bên kia chính là quê hương đích thực để ta quay về, và sống cuộc sống hôm nay như một cuộc lên đường, một cuộc vượt qua, một cuộc tái sinh để bước vào quê hương vĩnh cửu. Vâng, chính niềm tin đó sẽ củng cố niềm hy vọng vĩnh hằng trong ta và giúp ta mạnh mẽ góp phần xây dựng nền “văn minh sự sống”, “văn minh tình yêu”, và cho ta ý thức rằng : mỗi ngày chính chúng ta tạo cái chết cho mình bằng chính cung cách chúng ta sống.
Nếu Giáo hội vẫn thường đọc lên trong ngày các anh chị em Dự tòng tái sinh trong giếng nước rửa tội cũng như trong nghi lễ tiễn đưa một tín hữu đến nơi an nghỉ cuối cùng Lời của Chúa phán trước phần mộ Lazarô: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống và tin Ta, sẽ không chết bao giờ”, thì lời nầy hôm nay lại trở nên kim chỉ nam cho đời thường cuộc sống Kitô hữu để tất cả chúng ta chuẩn bị sẵn sàng bước vào đại lễ Phục Sinh. Hơn nữa, đây không chỉ là một lời ước hẹn suông mà đã trở nên hiện thực ngay trong thánh lễ nầy, khi chút nữa đây, Thịt Máu Ngài sẽ trở nên lương thực trường sinh để biến cuộc đời ta, thân xác ta ngập tràn “Thần Khí” và trở nên một cuộc sống mới và dẫn ta về cõi sống đời đời. Điều quan trọng giờ nầy là ta hãy mạnh dạn trả lời câu hỏi của Đức Kitô : “Con có tin như thế không ?”. Amen.
Dẫn nhập đầu lễ :
Kính thưa ông bà anh chị em,
Phụng vụ Chúa Nhật Thứ V Mùa Chay gần như đưa chúng ta đến sát Mầu nhiệm Tử Nạn-Phục sinh, một Mầu nhiệm trọng đại của đức tin Kitô giáo sắp được cử hành long trọng trong Tuần Thánh sắp tới. Chính vì thế mà ngày xưa, phụng vụ đã bắt đầu gọi tên Chúa Nhật và Tuần lễ nầy là “Chịu Nạn” (Dominica Passionis). Trong khi đó, các Bài đọc và ca kinh hôm nay gần như tập chú vào huyền nhiệm “Chết” và “Sống lại” như một lời tuyên tín về Đức Kitô, Đấng chiến thắng những quyền lực của sự dữ nhờ cuộc chiến thắng của Người trên tử thần. Sứ điệp phụng vụ hôm nay cũng gọi mời chúng ta mạnh mẽ dấn thân và hân hoan tiến bước vượt qua muôn tăm tối phũ phàng cuộc sống hôm nay trong niềm xác tín và hy vọng phục sinh trong vương quốc vĩnh hằng.
Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi và sám hối ăn năn để xứng đáng cử hành Thánh lễ.
Giảng Lời Chúa :
Cứ mỗi buổi mai thức dậy, trong bản tin “an toàn giao thông” trên màn ảnh nhỏ, ngày nào chúng ta cũng nghe nhắc đến những tai nạn chết người. Mới hôm qua, trên đoạn đường Lăng Cô bên kia đèo Hải Vân, tàu lửa E 1 trật đường rây lật nhào, đã khiến bao nhiêu sinh mạng chết nuổng và làm chấn thương bao nhiêu con người còn sót lại. Trong khi đó, thế giới vẫn chưa quên nạn động đất và sóng thần hôm 26.12 vừa qua đã giết chết mấy trăm ngàn người già trẻ lớn bé chỉ trong tích tắc. Và dù nếu ngày nào không còn tai nạn sóng thần hay động đất nữa, thì thế giới hằng ngày vẫn mãi còn những chuyến xe tang đưa người về huyệt mộ vì bao nhiêu cái chết khác nhau. Quả thật, “Sinh, Lảo, Bệnh, Tử” đó là một chu kỳ quái ác mà loài người phải kinh qua như một định luật phũ phàng tất yếu.
Trước một định luật nghiệt ngã như thế, không biết bao nhiêu câu hỏi đã đặt ra : Tại sao như thế ? Con người là “Nhân ư linh vạn vật” kia mà ? Và làm sao Thiên Chúa tốt lành, quyền năng lại để xảy ra như thế ?. Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của câu nói mà hai chị em Matta và Maria ở Bê-ta-ni-a đã trách móc Chúa Giêsu khi đối diện với cái chết của người em trai yêu dấu : “Phải chi có Thầy ở đây thì em con không chết !”.
Quả thật, buồn làm sao khi đối diện cái chết ! Buồn làm sao kiếp phận mỏng manh con người ! Như NS Trịnh Công Sơn đã khéo nhận xét trong bài ca “Cát Bụi” :
“Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi. Lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày !”.
Hay như một câu thánh vịnh mà chúng ta vẫn thường hát trong thánh lễ cầu hồn :
“Đời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng. Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích !”.
Phần chúng ta, vấn nạn “nhân sinh quan” nầy gần như đã được giải đáp ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh. A-đam-E-Va, sau khi khước từ Lời Thiên Chúa, nghe lời ma quỷ xúi dục, đã đưa tay “hái trái cấm”…và thế là nối tiếp giữa dòng đời : huynh đệ tương tàn : Ca-in giết A-ben, lụt đại hồng thủy, bảo lửa hủy diệt Sodoma và Gomora…Và cho tới mãi hôm nay, hình như thế giới cứ lần mò tiến đi giữa một “nền văn minh sự chết” : khủng bố, chiến tranh, hận thù sắc tộc, tôn giáo, Si-đa, ma túy, phá thai, dịch bênh…
Và chính trong cái “vũng lầy nhầy nhụa” đầy những đống xương khô của bóng tối và sự chết, của đọa đầy và thất vọng, của đắng cay ưu phiền…chúng ta lại nghe vang lên lời của Thiên Chúa : “Nầy hỡi dân ta, Ta sẽ mở cửa huyệt cho các ngươi. Ta sẽ đem các ngươi lên khỏi huyệt…” (BĐ 1); và chính ngay “quê hương của tử thần”, một tiếng nói quyền năng đã âm vang thấu tận âm phủ, mở toang cánh cửa huyệt mộ : “Hỡi La-da-rô hãy bước ra”, “Ta là sự sống lại và là sự sống” (TM). Như vậy bài học đầu tiên của Lời Chúa hôm nay mà chúng ta phải thuộc, tin mừng tiên khởi mà hôm nay chúng ta phải sống chính là :Tin vào sự sống.
1. Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa của kẻ sống, Thiên Chúa của niềm hy vọng :
Trên cảnh hoang tàn của Giê-ru-sa-lem và trong kiếp lưu đày biền biệt của một đời nô lệ tối tăm, lời sứ ngôn Ê-dê-ki-en vang lên như tiếng kèn hy vọng, niềm hy vọng chứa chan vào lòng trung tín của Thiên Chúa vượt trên khổ đau và chết chóc : “Ta sẽ mở cửa huyệt cho các ngươi”. Chính tình yêu cứu độ của Thiên Chúa mãi mãi là sức mạnh hồi sinh, là quyền uy giải thoát. “Cho dù có người mẹ không thương con, thì Ta, Ta không bao giờ quên ngươi”. Chân lý nầy muốn nói với chúng ta rằng : chúng ta không được quyền thất vọng cho dù phải đối diện với bao thảm cảnh cuộc đời, cả cái chết. Bởi vì Thiên Chúa đang có mặt trên mọi nẽo đường và biến cố để thổi vào Thần Khí tác sinh, để gieo vào hạt mầm của sự sống và hồng ân cứu độ. Như lời của Gilbert K. Chesterton : “Nếu những hạt giống trong lòng đất đen mà còn có thể biến thành những cánh hoa hồng xinh đẹp như thế, thì trái tim con người còn thể biến thành thế nào nữa trong cuộc hành trình hướng đến các vì sao”.
2. Thiên Chúa đã nhập thể trong chính nổi đau và cái chết :
Khi vào đời, Thiên Chúa nào tránh né cái kiếp phận long đong của con người. Hãy xem những giọt nước mắt đã lăn dài trên má của Chúa Giêsu khi chứng kiến cái chết của người bạn thân La-da-rô ở Bê-ta-ni-a; cũng như, Ngài cũng đã từng chia sẻ niềm vui với đôi tân hôn tại tiệc cưới Cana khi giúp họ có thêm mấy trăm lít rượu ngon để niềm vui trọn vẹn và được mãi nối dài. Và như thế, có gì để chúng ta lo buồn sầu khổ vì từ đây, bên cạnh cuộc hành trình tiến về vĩnh cửu, Thầy Chí Thánh đã sát cánh chen vai để cùng ta đi hết độ đường và dẫn ta vào bữa tiệc trường sinh trong vương quốc sự sống, như Ngài đã đồng hành với hai môn đệ trên đường Em-mau vào chiều “Ngày Thứ Nhất trong tuần” để xua đi nổi buồn “tử nạn Can-vê” và loan báo “tin mừng sống lại”.
Thê thảm nhất, khổ sầu nhất, thất vọng nhất, là khi ở giữa “đường hầm tăm tối của cuộc sống”, con người không tìm gặp được Thiên Chúa đang đồng hành, không tìm gặp được Đức Kitô đang sánh bước, không thấy được ánh sao hy vọng ở cuối trời, không nhận ra ánh mắt yêu thương và tha thứ đang dõi nhìn theo…mà chỉ một mình loay hoay bước đi trong cõi nhân sinh buồn thảm. Trong hoàn cảnh đó, trong tâm trạng đó, quả thật cuộc sống đã trở thành cõi chết, hương vị ngọt ngào của cuộc sống đã trở nên ngải đắng, ánh sáng ấm nồng mùa xuân trở thành đêm đông băng giá…Và như thế, một liều thuốc độc, một phát súng, một dây thòng lọng đã trở nên “phương tiện gần gũi dẫn lối đưa đường vào cõi chết tối tăm” ! Chúng ta đừng quên câu chuyện “Ngày Thứ Năm Tuần Thánh” : khi Giu-đa phản bội Thầy, bỏ bàn tiệc ra đi, thì “bóng tối dâng lên”…và đã phủ ngập trái tim Giu-đa cho đến khi đưa đầu vào chiêc giây thòng lọng để chọn cái chết thất vọng. Trong khi đó, chiều Thứ Sáu hôm sau trên đồi Can-vê nắng úa, một kẻ trộm bị đóng đinh đang hấp hối, đã nhìn ra trong cái chết đớn đau oan nghiệt của con người tử tội Giêsu Na-da-rét một ánh sáng chứa chan niềm hy vọng :”Khi Thầy vào Nước của Thầy xin nhớ đến tôi”. Và lập tức anh ta được đáp ứng : “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với tôi”. Như thế đó, Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô đã nhập thể trong chính nổi đau và cái chết để dẫn đưa những ai tin vào Ngài vào cuộc sống đích thực, như hôm nay Ngài xác quyết qua dấu lạ phục sinh La-da-rô bốn ngày chết chôn trong mộ và qua chính Lời tuyên cáo : “Ai sống mà tin vào Ta sẽ không chết bao giờ”.
3. Dấn thân cho nền “văn minh sự sống” :
Tin vào một Thiên Chúa tình yêu ban sự sống, tin vào một Đấng Kitô Phục sinh dẫn ta vào cuộc sống vĩnh hằng, tin vào Chúa Thánh Linh đang thổi vào hồn ta nguồn sống mới, thì liệu có mang lại chuyển biến nào cho chính ta và cho thế giới hay chăng ? Thưa có đấy. Bởi vì chỉ với niềm tin như thế ta mới thấy thế giới đẹp vô cùng, ta mới thấy cuộc sống mới đáng sống làm sao, mới thấy mỗi một con người, mỗi một sinh linh là một công trình kỳ diệu, mới thấy mỗi một cuộc đời, cho dù què cụt điếc câm, cho dù thấp cổ bé miệng, cho dù dốt nát bần hàn…vẫn là một “kỳ công vĩ đại của Thượng Đế” luôn cần được kính trọng luôn cần được sẻ chia, yêu thương và phục vụ. Vâng, chỉ với niềm tin đó thì chúng ta mới trụ vững giữa trăm chiều thử thách, mới đủ can đảm mĩm cười với số phận cho dù phải khắc nghiệt oái ăm, mới đủ quảng đại và khoan dung để yêu thương và tha thứ. Và nhất là, chỉ với niềm tin đó, chúng ta mới bình thản đón nhận “chết chính là một thành phần của cuộc sống”, thế giới bên kia chính là quê hương đích thực để ta quay về, và sống cuộc sống hôm nay như một cuộc lên đường, một cuộc vượt qua, một cuộc tái sinh để bước vào quê hương vĩnh cửu. Vâng, chính niềm tin đó sẽ củng cố niềm hy vọng vĩnh hằng trong ta và giúp ta mạnh mẽ góp phần xây dựng nền “văn minh sự sống”, “văn minh tình yêu”, và cho ta ý thức rằng : mỗi ngày chính chúng ta tạo cái chết cho mình bằng chính cung cách chúng ta sống.
Nếu Giáo hội vẫn thường đọc lên trong ngày các anh chị em Dự tòng tái sinh trong giếng nước rửa tội cũng như trong nghi lễ tiễn đưa một tín hữu đến nơi an nghỉ cuối cùng Lời của Chúa phán trước phần mộ Lazarô: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống và tin Ta, sẽ không chết bao giờ”, thì lời nầy hôm nay lại trở nên kim chỉ nam cho đời thường cuộc sống Kitô hữu để tất cả chúng ta chuẩn bị sẵn sàng bước vào đại lễ Phục Sinh. Hơn nữa, đây không chỉ là một lời ước hẹn suông mà đã trở nên hiện thực ngay trong thánh lễ nầy, khi chút nữa đây, Thịt Máu Ngài sẽ trở nên lương thực trường sinh để biến cuộc đời ta, thân xác ta ngập tràn “Thần Khí” và trở nên một cuộc sống mới và dẫn ta về cõi sống đời đời. Điều quan trọng giờ nầy là ta hãy mạnh dạn trả lời câu hỏi của Đức Kitô : “Con có tin như thế không ?”. Amen.