Thánh Athanasius nói về kinh nghiệm của việc ăn chay như sau:
“Ăn chay hay nhịn ăn chữa lành mọi bệnh tật, ăn chay làm cho sự bài tiết được điều hòa. Ăn chay còn xua đuổi ma quỷ cám dỗ và gạt đi mọi ý tưởng xấu xa. Ăn chay làm cho tinh thần được sáng suốt và làm cho tâm hồn được thanh sạch. Ăn chay thánh hóa thân thể và đưa con người đến gần ngai của Thiên Chúa. Ăn chay là một sức mạnh tuyệt vời.”
Hiệu quả của ăn chay được phổ biến vào thế kỷ thứ VI và có một giá trị thiết yếu: bao trùm mọi bình diện về sức khỏe con người. Đó là một chương trình lành mạnh hóa về sức khỏe thể lý cũng như đời sống thiêng liêng, một cách chữa bệnh rất thông thường, một phương pháp huấn luyện để có đời sống khỏe mạnh bằng cách giảm bớt lòng ham mê ăn uống …
“Ăn chay trước tiên là kỷ luật cho việc ăn uống có chừng mực” các nhà nhân chủng học đã giải thích như vậy.
Trên thực tế: Ăn uống là một ham thích (một dục vọng). Ham muốn ăn uống cũng như nói năng, những cử chỉ điệu bộ, cũng như tình dục. Đứa bé sơ sinh, được ôm ấp trong lòng mẹ, không chỉ được nuôi nấng bằng sữa! Nó còn được nghe tiếng nói, những hương vị, những nét mặt, bao bọc bởi lòng tin cậy, được xây đắp nền tảng trên cuộc đời yêu thương.
Cha Enzo Bianchi, viện trưởng tu viện Bose giải thích ăn chay giúp chúng ta nhận biết, học hỏi và kìm hãm được nhiều thứ dục vọng, qua những kỷ luật tự chế trong sự sống căn bản và thiết yếu là : Ăn uống để thỏa mãn cơn đói khát. Nếu tự chế được trong việc ăn uống, chúng ta học được kỷ luật trong việc giao tiếp với kẻ khác và với những thực tại bên ngoài và cùng với Thiên Chúa”
Ăn chay giúp luyện tập thân xác và trí tuệ, từ bỏ được mọi tà ma ám ảnh rồi tiến bước trên con đường đi dến chổ từ bỏ chính mình, thực hành khổ hạnh, và kìm hãm những dục vọng…
Sách khôn ngoan của mọi tôn giáo từ thời xa xưa đều nói đến vai trò quan trọng của việc ăn chay. Ăn chay là một lối luyện tập thể xác và tinh thần giúp thăng tiến trên con đường tu hành khổ hạnh, soi sáng trong việc đi tìm kiếm gặp gỡ sự hiện diện của Đấng Tối Cao”. Cùng với lời cầu nguyện và bố thí, là hình thức mà người tín hữu bày tỏ niềm tin qua thể xác và tâm hồn. “
Thánh Augustin đã viết những dòng tư tưởng tuyệt vời như sau: “Ăn Chay và Bố Thí: là lời nguyện cầu bay bổng lên trời cao bằng đôi cánh hùng vĩ”
Tuy vậy ăn chay không có cùng chung một ý nghĩa với mọi người.
Cha Christian de Chergé, viện phụ khổ tu Tibhirine nói: “Ăn chay, trong Mùa Chay trong Kitô giáo hay Mùa Chay Ramadan của người Hồi giáo (…) Kitô giáo, Hồi giáo hoặc Do Thái giáo (…) dù không cùng thực hành cùng một lúc, nhưng trên con đường đó sẽ đưa đến cho mọi người nhiều con đường rộng rãi thênh thang!”
Người Do thái giữ chay những ngày có liên can đến lịch sử của họ. Đối với người Do thái, ăn chay, trước tiên là nhắc nhở đến ngày Yom Kippour, ngày ăn chay là ngày thực sự nhịn ăn nhịn uống từ mặt trời lặn ngày hôm trước cho đến mặt trời lặn ngày hôm sau. Họ bắt đầu cầu nguyện và sám hối 10 ngày trước khi có những ngày lễ chính như lễ Roch Hachana, ngày lễ Tết của người Do thái. Trong những ngày này, mỗi người Do thái sẽ đến trước ngai Thiên Chúa để bị xét xử và kê khai những tội lỗi đã vi phạm trong năm vừa qua, rổi bắt đầu một năm mới đặt hết lòng tin cậy vào Thiên Chúa và chờ đợi ngày Đại Toàn Xá.
Ngoài lễ Kippour, người Do thái còn giữ những ngày chay tịnh khác trong năm, có liên can đến lịch sử của dân tộc họ. Trong tháng “têvêth” họ ăn chay để kỷ nịệm cuộc tàn phá và sụp đổ Đền Thánh Jerusalem lần thứ nhất và lần thứ hai. Họ cũng ăn chay để nhớ lại kỷ niệm “Cuộc ăn chay và bôi tro lên mình của “Hoàng hậu Esther”và người Do thái đã làm để ăn năn tội. Họ nhắc nhở đến người đàn bà tuyệt đẹp đã dâng mình cho vua Assuéreus xứ Ba tư để cứu dân tộc Do thái.khỏi phải tuyệt tự.
Ăn chay là cột trụ thứ tư trong năm cột trụ của Hồi giáo.
Đối với người Hồi giáo trong Mùa Ramadan là kỷ niệm lúc thiên thần mặc khải Kinh Coran cho ông Mahommed và được định nghĩa như sau: “Hởi người tín hữu! Ăn chay được truyền cho ngươi như đã được truyền qua nhiều thế hệ trong qua khứ. “Hãy kính sợ Đấng Tối Cao.” Đây là một dịp đặc ân để được thanh tẩy và suy tư về sự cao cả của Đấng Tối Cao và luật pháp của Ngài.
Đối với người Hồi giáo cũng như các tín hữu Kitô giáo thời sơ khai ăn chay không chỉ là nhịn ăn mà còn nhịn mọi thứ vui thú khác nữa. Họ nêu lên gương mẫu của Đức Trinh Nữ Maria là tự chế mọi lời nói để lòng lắng lại hầu nghe tiếng Thánh Thần thấm vào trong tâm khảm của mình mà lãnh nhận mầu nhiệm của Đấng Tối Cao..
Trường hợp của ông Gandhi, ông đã nhịn ăn hay tuyệt thực để tranh đấu bất bạo động cho dân tộc của ông. Cuộc tuyệt thực này là một hy sinh vượt lên cao và đem lại nguồn hy vọng. Nhịn ăn không chỉ là từ chối những tiện nghi, nhưng còn để hoàn tất một lý tưởng. Đối với ông Gandhi, nhịn ăn là một kỷ luật khổ hạnh làm cho trong sạch tâm hồn và thể xác vả lại cuộc tuyệt thực còn là dấu hiệu bên ngoài của cuộc đấu tranh bất bạo động dùng để nói lên sự thật và khơi dậy lòng cảm mến..
“Ăn chay và cùng nhau cầu nguyện là giúp nhau nhận biết sự yếu đuối của mình, sự thiếu sót trong việc kết hợp với Thiên Chúa và lòng ước ao được đến gần với Chúa. Ăn chay giúp nhận thức được chính mình trước nhan thánh Chúa, trước sự cám dỗ của ma quỷ và thành tâm cầu khẩn: “Xin Chúa ban cho con một trái tim trong sạch, lạy Chúa, xin sửa đổi lòng con để có một tinh thần vững chắc cương quyết.” (Tv 51,12) Nhưng con đã làm cho lòng con câm điếc với lời của tiên tri Isaiê (Tv 58, 6,12): “Ôi ăn chay làm cho lòng tôi được hoan hĩ…”
Người Kitô hữu ăn chay như một thời gian để ăn năn trở lại như dân Do Thái khi xưa, đuợc khơi dậy bởi Chúa Kitô (Mt 4,2; 6, 16-18; 9,15) và được đón nhận bởi truyền thống cao cả của Gíao Hội, ăn chay trước tiên là một hành động trong sự trở lại, đón nhận lời mời gọi đi theo gương mẫu của Chúa Kitô khi Chúa bị thử thách trong sa mạc.
Theo như lời thánh Phêrô Chrysologue, ăn chay cần phải khiêm nhương, kín đáo, để đào sâu lòng đói khát mong mỏi đuợc gặp gỡ và mở rộng vòng tay đón nhận sự sống lại của Chúa Kitô phát sinh từ ngôi mộ trống trong ngày Phục Sinh và nhận lãnh luơng thực mới từ Đấng Tối Cao.
Mùa Chay là thời gian thử thách và thanh tẩy, một thời gian đặc ân để làm cho linh hồn và giác quan trở nên tốt đẹp, một cuộc chiến đấu thiêng liêng và “gìn giữ tâm hồn” khỏi sa ngã và khao khát đón nhận “Chiên Vượt Qua”.
Trích từ “Les Mots de la vie intérieure” và “Passer de soi-même à Dieu” của Robert Thomas
“Ăn chay hay nhịn ăn chữa lành mọi bệnh tật, ăn chay làm cho sự bài tiết được điều hòa. Ăn chay còn xua đuổi ma quỷ cám dỗ và gạt đi mọi ý tưởng xấu xa. Ăn chay làm cho tinh thần được sáng suốt và làm cho tâm hồn được thanh sạch. Ăn chay thánh hóa thân thể và đưa con người đến gần ngai của Thiên Chúa. Ăn chay là một sức mạnh tuyệt vời.”
Hiệu quả của ăn chay được phổ biến vào thế kỷ thứ VI và có một giá trị thiết yếu: bao trùm mọi bình diện về sức khỏe con người. Đó là một chương trình lành mạnh hóa về sức khỏe thể lý cũng như đời sống thiêng liêng, một cách chữa bệnh rất thông thường, một phương pháp huấn luyện để có đời sống khỏe mạnh bằng cách giảm bớt lòng ham mê ăn uống …
“Ăn chay trước tiên là kỷ luật cho việc ăn uống có chừng mực” các nhà nhân chủng học đã giải thích như vậy.
Trên thực tế: Ăn uống là một ham thích (một dục vọng). Ham muốn ăn uống cũng như nói năng, những cử chỉ điệu bộ, cũng như tình dục. Đứa bé sơ sinh, được ôm ấp trong lòng mẹ, không chỉ được nuôi nấng bằng sữa! Nó còn được nghe tiếng nói, những hương vị, những nét mặt, bao bọc bởi lòng tin cậy, được xây đắp nền tảng trên cuộc đời yêu thương.
Cha Enzo Bianchi, viện trưởng tu viện Bose giải thích ăn chay giúp chúng ta nhận biết, học hỏi và kìm hãm được nhiều thứ dục vọng, qua những kỷ luật tự chế trong sự sống căn bản và thiết yếu là : Ăn uống để thỏa mãn cơn đói khát. Nếu tự chế được trong việc ăn uống, chúng ta học được kỷ luật trong việc giao tiếp với kẻ khác và với những thực tại bên ngoài và cùng với Thiên Chúa”
Ăn chay giúp luyện tập thân xác và trí tuệ, từ bỏ được mọi tà ma ám ảnh rồi tiến bước trên con đường đi dến chổ từ bỏ chính mình, thực hành khổ hạnh, và kìm hãm những dục vọng…
Sách khôn ngoan của mọi tôn giáo từ thời xa xưa đều nói đến vai trò quan trọng của việc ăn chay. Ăn chay là một lối luyện tập thể xác và tinh thần giúp thăng tiến trên con đường tu hành khổ hạnh, soi sáng trong việc đi tìm kiếm gặp gỡ sự hiện diện của Đấng Tối Cao”. Cùng với lời cầu nguyện và bố thí, là hình thức mà người tín hữu bày tỏ niềm tin qua thể xác và tâm hồn. “
Thánh Augustin đã viết những dòng tư tưởng tuyệt vời như sau: “Ăn Chay và Bố Thí: là lời nguyện cầu bay bổng lên trời cao bằng đôi cánh hùng vĩ”
Tuy vậy ăn chay không có cùng chung một ý nghĩa với mọi người.
Cha Christian de Chergé, viện phụ khổ tu Tibhirine nói: “Ăn chay, trong Mùa Chay trong Kitô giáo hay Mùa Chay Ramadan của người Hồi giáo (…) Kitô giáo, Hồi giáo hoặc Do Thái giáo (…) dù không cùng thực hành cùng một lúc, nhưng trên con đường đó sẽ đưa đến cho mọi người nhiều con đường rộng rãi thênh thang!”
Người Do thái giữ chay những ngày có liên can đến lịch sử của họ. Đối với người Do thái, ăn chay, trước tiên là nhắc nhở đến ngày Yom Kippour, ngày ăn chay là ngày thực sự nhịn ăn nhịn uống từ mặt trời lặn ngày hôm trước cho đến mặt trời lặn ngày hôm sau. Họ bắt đầu cầu nguyện và sám hối 10 ngày trước khi có những ngày lễ chính như lễ Roch Hachana, ngày lễ Tết của người Do thái. Trong những ngày này, mỗi người Do thái sẽ đến trước ngai Thiên Chúa để bị xét xử và kê khai những tội lỗi đã vi phạm trong năm vừa qua, rổi bắt đầu một năm mới đặt hết lòng tin cậy vào Thiên Chúa và chờ đợi ngày Đại Toàn Xá.
Ngoài lễ Kippour, người Do thái còn giữ những ngày chay tịnh khác trong năm, có liên can đến lịch sử của dân tộc họ. Trong tháng “têvêth” họ ăn chay để kỷ nịệm cuộc tàn phá và sụp đổ Đền Thánh Jerusalem lần thứ nhất và lần thứ hai. Họ cũng ăn chay để nhớ lại kỷ niệm “Cuộc ăn chay và bôi tro lên mình của “Hoàng hậu Esther”và người Do thái đã làm để ăn năn tội. Họ nhắc nhở đến người đàn bà tuyệt đẹp đã dâng mình cho vua Assuéreus xứ Ba tư để cứu dân tộc Do thái.khỏi phải tuyệt tự.
Ăn chay là cột trụ thứ tư trong năm cột trụ của Hồi giáo.
Đối với người Hồi giáo trong Mùa Ramadan là kỷ niệm lúc thiên thần mặc khải Kinh Coran cho ông Mahommed và được định nghĩa như sau: “Hởi người tín hữu! Ăn chay được truyền cho ngươi như đã được truyền qua nhiều thế hệ trong qua khứ. “Hãy kính sợ Đấng Tối Cao.” Đây là một dịp đặc ân để được thanh tẩy và suy tư về sự cao cả của Đấng Tối Cao và luật pháp của Ngài.
Đối với người Hồi giáo cũng như các tín hữu Kitô giáo thời sơ khai ăn chay không chỉ là nhịn ăn mà còn nhịn mọi thứ vui thú khác nữa. Họ nêu lên gương mẫu của Đức Trinh Nữ Maria là tự chế mọi lời nói để lòng lắng lại hầu nghe tiếng Thánh Thần thấm vào trong tâm khảm của mình mà lãnh nhận mầu nhiệm của Đấng Tối Cao..
Trường hợp của ông Gandhi, ông đã nhịn ăn hay tuyệt thực để tranh đấu bất bạo động cho dân tộc của ông. Cuộc tuyệt thực này là một hy sinh vượt lên cao và đem lại nguồn hy vọng. Nhịn ăn không chỉ là từ chối những tiện nghi, nhưng còn để hoàn tất một lý tưởng. Đối với ông Gandhi, nhịn ăn là một kỷ luật khổ hạnh làm cho trong sạch tâm hồn và thể xác vả lại cuộc tuyệt thực còn là dấu hiệu bên ngoài của cuộc đấu tranh bất bạo động dùng để nói lên sự thật và khơi dậy lòng cảm mến..
“Ăn chay và cùng nhau cầu nguyện là giúp nhau nhận biết sự yếu đuối của mình, sự thiếu sót trong việc kết hợp với Thiên Chúa và lòng ước ao được đến gần với Chúa. Ăn chay giúp nhận thức được chính mình trước nhan thánh Chúa, trước sự cám dỗ của ma quỷ và thành tâm cầu khẩn: “Xin Chúa ban cho con một trái tim trong sạch, lạy Chúa, xin sửa đổi lòng con để có một tinh thần vững chắc cương quyết.” (Tv 51,12) Nhưng con đã làm cho lòng con câm điếc với lời của tiên tri Isaiê (Tv 58, 6,12): “Ôi ăn chay làm cho lòng tôi được hoan hĩ…”
Người Kitô hữu ăn chay như một thời gian để ăn năn trở lại như dân Do Thái khi xưa, đuợc khơi dậy bởi Chúa Kitô (Mt 4,2; 6, 16-18; 9,15) và được đón nhận bởi truyền thống cao cả của Gíao Hội, ăn chay trước tiên là một hành động trong sự trở lại, đón nhận lời mời gọi đi theo gương mẫu của Chúa Kitô khi Chúa bị thử thách trong sa mạc.
Theo như lời thánh Phêrô Chrysologue, ăn chay cần phải khiêm nhương, kín đáo, để đào sâu lòng đói khát mong mỏi đuợc gặp gỡ và mở rộng vòng tay đón nhận sự sống lại của Chúa Kitô phát sinh từ ngôi mộ trống trong ngày Phục Sinh và nhận lãnh luơng thực mới từ Đấng Tối Cao.
Mùa Chay là thời gian thử thách và thanh tẩy, một thời gian đặc ân để làm cho linh hồn và giác quan trở nên tốt đẹp, một cuộc chiến đấu thiêng liêng và “gìn giữ tâm hồn” khỏi sa ngã và khao khát đón nhận “Chiên Vượt Qua”.
Trích từ “Les Mots de la vie intérieure” và “Passer de soi-même à Dieu” của Robert Thomas