THẦN HỌC XÁC THÂN
của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ
CHƯƠNG BA: Tội Lỗi và Xấu Hổ
Bài 1
Trong chu kỳ thứ nhất của loạt bài THXT (từ các số 1-23), ĐGH áp dụng phương pháp hiện tượng luận vào việc khảo sát chương hai và chương ba sách Sáng Thế, trong đó ngài nhìn thấy nỗi cô đơn và sự hợp nhất nguyên thủy của nhân loại xét như các kinh nghiệm đầu tiên mà Ađam với tư cách là con người đã cảm nhận trước tiên, rồi sau đó đến lượt Ađam và Evà với tư cách nguyên tổ. Qua các kinh nghiệm này được ghi nhận trong ý thức, Ađam và Evà biết mình là hữu thể có trí tuệ, ý chí và thân xác, cũng như là hình ảnh của Thiên Chúa, được tạo dựng trong tình yêu và cho tình yêu. Sự tự tri này chính là điều ĐGH gọi là ý nghĩa của các kinh nghiệm mà Ađam và Evà đã trải qua. Điều thú vị là sự tự tri mà Ađam và Evà thủ đắc từ kinh nghiệm chủ quan thì giống hệt với điều được Thiên Chúa mạc khải một cách khách quan trong chương nhất sách Sáng Thế.
Trong cách áp dụng phương pháp hiện tượng luận vào sách Sáng Thế, ta thấy được sự xoắn xít “của hai luồng dữ kiện của Kinh Thánh.” Kinh nghiệm con người không chỉ dẫn đến các ý nghĩa, mà còn đưa tới huyền nhiệm nhân vị tính vốn từ đó nẩy sinh các câu hỏi tỉ như: nhân vị là gì và nhân vị phải hành động ra sao? Chương hai và chương ba sách Sáng Thế ghi lại các kinh nghiệm đầu tiên của con người cũng như ý nghĩa của chúng. Cũng như toàn thể Thánh Kinh, sách Sáng Thế chính là Mạc Khải của Thiên Chúa. Do đó, trong sách Sáng Thế, ta tìm ra lối vào và cửa ngõ dẫn đến huyền nhiệm nhân vị tính cùng với các câu hỏi nẩy sinh từ huyền nhiệm ấy. Thế nhưng ta cũng tìm được những lời giải đáp cho các câu hỏi ấy nữa. Vả lại, các kinh nghiệm, các ý nghĩa, và nguồn Mạc Khải vốn soi sáng các kinh nghiệm và ý nghĩa này thì liên kết nhau một cách cô đọng và bất khả phân. Khi phần nào tách biệt các khía cạnh này ra, ĐGH đã xây dựng được nền móng cho 106 bài diễn từ còn lại trong loạt bài THXT của ngài..
Mở đầu cho chu kỳ thứ hai (từ các số 24-63), ĐGH đào sâu phần phân tích về một trong các kinh nghiệm đầu tiên của Ađam và Evà, đó là sự trần truồng của họ, nhất là sau khi phạm tội. Qua 10 bài diễn từ của chu kỳ thứ hai (24-33), ĐGH chứng minh rõ ràng là phân tích này thực sự cần thiết để thấu hiểu những lời sau đây của Chúa Kitô đã trở thành chủ điểm chu kỳ thứ hai của nền THXT: “Anh em đã nghe Luật dậy rằng: Chớ ngoại tình; nhưng Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” Khi giảng giải về ngoại tình, Chúa Kitô đã ngỏ lời với quí ông quí bà trong thời của Ngài, là miêu duệ của Ađam và Evà, là những kẻ thừa tự các kinh nghiệm và ý nghĩa nguyên thủy, cũng như thừa tự kinh nghiệm về sự trần truồng, nhất là sự trần truồng sau khi phạm tội vốn đã làm Ađam và Evà xấu hổ. Muốn hiểu lời giảng giải của Chúa Kitô về ngoại tình, ĐGH cho rằng ta phải am tường cử toạ lắng nghe Ngài. Mà muốn hiểu cử toạ ấy, ta phải hiểu chính mình, bởi vì, giống như họ, ta cũng là con cháu Ađam Evà.
Thông thường, để hiểu ý diễn giả, cần phải hiểu cử toạ, bởi vì diễn giả sẽ điều chỉnh lời nói sao cho phù hợp với cử toạ. Điều này khá đúng với trường hợp của Chúa khi nói về việc ngoại tình. Tuy nhiên, bởi vì Chúa trỏ các nhận xét vào hướng nội tâm của mỗi người, do đó, càng cần phải hiểu chiều kích nội tâm này nhiều hơn nữa thì mới giải thích đúng lời Chúa rao giảng được. ĐGH viết, “Chúa Kitô đã chuyển hướng cái cốt lõi vấn đề (ngoại tình) sang một chiều kích khác, khi Ngài nói: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. Nói thế là Chúa đã đi vào cõi thẳm sâu tâm hồn con người.” Khi nói đến một hành vi nội tâm, “cái nhìn thèm muốn,” Chúa đã ám chỉ điều đang ‘luẩn quẩn’ trong con ngườI, vốn phần nào là hậu quả của tội lỗi. Các kinh nghiệm đích thân đầu đời của Ađam Evà sau khi phạm tội sẽ biểu lộ trạng huống nội tâm này của tất cả chúng ta. Các kinh nghiệm này sẽ bộc lộ trạng huống nội tâm của cái mà ĐGH goị là “con người lịch sử,” nghĩa là, tất cả mọi hữu thể nhân sinh vốn gánh chịu hậu quả nguyên tội (ngoại trừ Chúa Kitô và Mẹ Maria). Do đó, việc khảo sát về sự trần truồng của Ađam và Evà sau khi phạm tội sẽ giúp ta giải thích đúng lời giảng dậy của Chúa.
Một lần nữa, qua 10 bài diễn từ của chu kỳ thứ hai trong loạt bài THXT, ĐGH sử dụng phương pháp hiện tượng luận để khảo sát kinh nghiệm về sự trần truồng của Ađam và Evà. Ngài dựa trên nguyên tắc này: mọi ‘con người lịch sử’ đều có chung các kinh nghiệm vốn được soi sáng qua Mạc Khải, tức Lời Chúa, là chính Chúa Kitô, “Đấng hiểu thấu mọi sự trong mọi người.” Ngài là chính Thiên Chúa Ngôi Con, đã mạc khải Cha, Con và Thánh Thần từ bên trong và xuyên qua nhân tính hữu hình của mình. Khi mạc khải Cha, Con và Thánh Thần, Chúa Kitô mạc khải chính Thiên Chúa. Khi mạc khải chính Thiên Chúa, Ngài cho mỗi người (vốn được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa) biết mình là ai, và phải hành động thế nào. Chúa Kitô “mạc khải con người cho chính con người,” bởi vì, là Thiên Chúa, Ngài cho mỗi người (vốn được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa) biết mình là ai, và phải hành động thế nào. Do đó, Chúa Kitô biết điều chất chứa “trong con người.” Vì thế, lời của Ngài, trong khi chạm đến các kinh nghiệm sâu xa nhất của ‘con người lịch sử,’ đã soi sáng và giải thích các kinh nghiệm ấy. Lời Chúa thật quan yếu cho nền THXT.
I. Ađam và Evà Kinh Nghiệm về sự Trần Truồng
Trước khi phạm tội, hay nói theo thần học, trước cuộc Sa Ngã, Ađam và Evà đều trần truồng mà không xấu hổ. Nhưng sau khi phạm tội, “Mắt họ mở ra, thấy mình trần truồng, nên kết lá vả che thân.” Rồi họ đi kiếm chỗ nấp chỉ sợ gặp Chúa khi đang tảo bộ trong vườn trong một ngày dịu mát.
Có hai hậu quả của tội được sách Sáng Thế nói đến: trước hết, họ che thân; thứ đến, họ sợ hãi Thiên Chúa. Quả thế, Ađam thưa với Chúa rằng: “Tôi nghe tiếng Chúa trong vườn; nhưng tôi sợ, bởi vì tôi trần truồng, tôi phải lẩn trốn.” Cả hai hậu quả của tội lỗi đã đánh dấu những đổi thay đáng kể. Trước khi sa ngã, họ cũng trần truồng, nhưng không xấu hổ, nghĩa là không phải che đậy gì cả. Hơn nữa, trước khi sa ngã, việc liên lạc với Chúa thật dễ dàng và thân tình. Ađam không hề chống cưỡng hoặc phản ứng khi nhận lệnh Chúa truyền không ăn trái cây biết thiện biết ác.
Sợ hãi hầu như luôn luôn đi kèm với xấu hổ. Thế nhưng Ađam và Evà không chỉ sợ hãi khi xấu hổ vì trần truồng. “Trần truồng ở đây không chỉ hiểu theo nghĩa đen của thân xác…Thực ra, trần truồng biểu hiện sự kiện con người bị tước mất quyền thông dự vào Tặng Ân; nó ám chỉ việc con người bị tha hoá khỏi Tình Yêu vốn là nguồn mạch của tặng ân nguyên thủy…”
Ađam và Evà đã phạm tội và cảm nghiệm xấu hổ và sợ hãi. Cảm nghiệm này ghi dấu trong tâm khảm họ và cũng được ghi vào các trang sách Sáng Thế. Thế nhưng căn nguyên đích thực đưa đến nỗi xấu hổ và sợ hãi nơi Ađam và Evà lại vượt xa sự trần truồng của thể xác. ĐGH giải thích rằng, trước khi phạm tội, Ađam có thể tự hiểu mình như là một nhân vị trong thân xác và qua thân xác mình. Nỗi cô đơn và ý thức của Ađam về sự kiện không có một thân thể sinh vật nào lại giống thân xác mình (cho đến khi Evà được tạo dựng), đã chính là ngọn nguồn đưa đến việc Ađam hiểu rằng, là một nhân vị, ông thật khác biệt với loài vật. Sau khi Evà được tạo dựng, thì chính ý thức của cả hai về sự kiện thân xác họ đã được tạo thành để kết hợp với nhau đã trở thành ngọn nguồn khiến cả hai đều hiểu rằng mình được tạo dựng để yêu thương, nghĩa là để thương yêu nhau như Chúa đã yêu thương họ. Qua ý thức về nỗi cô đơn nhân loại (phân biệt với loài vật) và về sự hợp nhất, Ađam và Evà hiểu rằng mình được tạo dựng để yêu thương. Tri thức này xuất phát từ kinh nghiệm về thân xác--trước tiên, biết rằng thân xác mình khác biệt hoàn toàn so với loài vật, kế đến, biết rằng thân xác mình, là nam là nữ, đã được tạo dựng người này cho người kia.
Cùng với kinh nghiệm về sự trần truồng sau khi phạm tội, một kinh nghiệm cũng đặt nền trên thân xác, ý thức của Ađam và Evà về thân xác mình thì hoàn toàn khác với ý thức họ có trước đây về thân xác. Ý thức đã bị chuyển đổi này về thân xác cho thấy một đổi thay triêt để trong thâm tâm họ. Kinh nghiệm về xấu hổ và sợ hãi của Ađam và Evà không chỉ là xấu hổ sợ hãi vì sự trần truồng thể lý, mà còn là xấu hổ sợ hãi xuất phát tự cách thế hiện hữu mới của họ trên trần gian, một cách thế không được Thiên Chúa hoạch định “từ khởi đầu.”
Ađam và Evà được tạo thành như là nhân vị có thể xác và được trao quyền quản cai trái đất. Câu nói của Ađam, “Tôi sợ, bởi tôi trần truồng, nên phải lẩn trốn,” dường như “nói lên ý thức về sự bất lực, về cảm thức bất an của xác thân đứng trước thiên nhiên.” Nói khác đi, trước khi phạm tội, Ađam và Evà đã nắm vai chủ động. Là nhân vị, họ không hề lệ thuộc các diễn trình của thiên nhiên, mà ngược lại, thiên nhiên phải hàng phục họ. Nhưng sau khi phạm tội, cái trật tự nguyên thủy đã bị đảo lộn. Nỗi sợ hãi của họ trở thành phản ứng tự nhiên trước tình thế mới: sợ những gì diễn trình thiên nhiên có thể gây nên cho mình.
Ý thức của Ađam và Evà về xấu hổ và sợ hãi còn trỏ về một cái gì lớn hơn là sự đảo ngược trật tự nguyên thủy của thiên nhiên. “Họ kết lá vả làm khố che thân.” Họ che đậy thân thể mình “để mắt người nam khỏi nhìn thấy cái chỉ dấu hữu hình của nữ tính, và mắt người nữ khỏi chứng kiến cái chỉ dấu hữu hình của nam tính.” Khi thấy người kia trần truồng (sau lần sa ngã), họ phản ứng theo một cách thức trái ngược với hệ thống giá trị của mình. Người này biết người kia có đó để ôm ấp yêu thương. Thế nhưng, sau khi phạm tội, và nhìn thấy người kia không một mảnh vải, họ cảm nghiệm một phản ứng trái ngược với phong cách đúng đắn lẽ ra phải có trước mặt người kia. Họ xấu hổ vì các phản ứng thể lý của họ nói lên một thứ ngôn ngữ, ngôn ngữ của ‘nắm giữ và sử dụng’ theo dục tính. Nó hoàn toàn trái ngược với thứ ngôn ngữ của ‘cho đi và nhận lãnh’ mà thân xác ho (trước khi phạm tội) vẫn hằng thốt lên. Tóm lại, trong khi có kinh nghiệm về tính lăng loàn, họ vẫn biết mình phải yêu thương, chứ không được lợi dụng nhau. Khi hành đông ngược lại với hệ thống giá trị của mình, họ thấy xấu hổ với chính mình. Họ cũng sợ rằng khi hành động như thế, họ sẽ đánh mất một giá trị: đó là đánh mất người kia như một món quà, bởi vì khi coi người kia như là đối tượng để sử dụng thì đã thực sự xúc phạm nặng nề đến người ấy rồi. Việc đánh mất người kia sẽ làm cho cả hai trở thành cô đơn và cảm thấy như bị bỏ rơi. Xấu hổ và sợ hãi trước sự đảo ngược trật tự thiên nhiên và trước các phản ứng nhìn thấy người kia trần truồng: tất cả đều chứng thực cho một ý thức hoàn toàn khác về thân xác mình.
(còn tiếp)
của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ
CHƯƠNG BA: Tội Lỗi và Xấu Hổ
Bài 1
Trong chu kỳ thứ nhất của loạt bài THXT (từ các số 1-23), ĐGH áp dụng phương pháp hiện tượng luận vào việc khảo sát chương hai và chương ba sách Sáng Thế, trong đó ngài nhìn thấy nỗi cô đơn và sự hợp nhất nguyên thủy của nhân loại xét như các kinh nghiệm đầu tiên mà Ađam với tư cách là con người đã cảm nhận trước tiên, rồi sau đó đến lượt Ađam và Evà với tư cách nguyên tổ. Qua các kinh nghiệm này được ghi nhận trong ý thức, Ađam và Evà biết mình là hữu thể có trí tuệ, ý chí và thân xác, cũng như là hình ảnh của Thiên Chúa, được tạo dựng trong tình yêu và cho tình yêu. Sự tự tri này chính là điều ĐGH gọi là ý nghĩa của các kinh nghiệm mà Ađam và Evà đã trải qua. Điều thú vị là sự tự tri mà Ađam và Evà thủ đắc từ kinh nghiệm chủ quan thì giống hệt với điều được Thiên Chúa mạc khải một cách khách quan trong chương nhất sách Sáng Thế.
Trong cách áp dụng phương pháp hiện tượng luận vào sách Sáng Thế, ta thấy được sự xoắn xít “của hai luồng dữ kiện của Kinh Thánh.” Kinh nghiệm con người không chỉ dẫn đến các ý nghĩa, mà còn đưa tới huyền nhiệm nhân vị tính vốn từ đó nẩy sinh các câu hỏi tỉ như: nhân vị là gì và nhân vị phải hành động ra sao? Chương hai và chương ba sách Sáng Thế ghi lại các kinh nghiệm đầu tiên của con người cũng như ý nghĩa của chúng. Cũng như toàn thể Thánh Kinh, sách Sáng Thế chính là Mạc Khải của Thiên Chúa. Do đó, trong sách Sáng Thế, ta tìm ra lối vào và cửa ngõ dẫn đến huyền nhiệm nhân vị tính cùng với các câu hỏi nẩy sinh từ huyền nhiệm ấy. Thế nhưng ta cũng tìm được những lời giải đáp cho các câu hỏi ấy nữa. Vả lại, các kinh nghiệm, các ý nghĩa, và nguồn Mạc Khải vốn soi sáng các kinh nghiệm và ý nghĩa này thì liên kết nhau một cách cô đọng và bất khả phân. Khi phần nào tách biệt các khía cạnh này ra, ĐGH đã xây dựng được nền móng cho 106 bài diễn từ còn lại trong loạt bài THXT của ngài..
Mở đầu cho chu kỳ thứ hai (từ các số 24-63), ĐGH đào sâu phần phân tích về một trong các kinh nghiệm đầu tiên của Ađam và Evà, đó là sự trần truồng của họ, nhất là sau khi phạm tội. Qua 10 bài diễn từ của chu kỳ thứ hai (24-33), ĐGH chứng minh rõ ràng là phân tích này thực sự cần thiết để thấu hiểu những lời sau đây của Chúa Kitô đã trở thành chủ điểm chu kỳ thứ hai của nền THXT: “Anh em đã nghe Luật dậy rằng: Chớ ngoại tình; nhưng Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” Khi giảng giải về ngoại tình, Chúa Kitô đã ngỏ lời với quí ông quí bà trong thời của Ngài, là miêu duệ của Ađam và Evà, là những kẻ thừa tự các kinh nghiệm và ý nghĩa nguyên thủy, cũng như thừa tự kinh nghiệm về sự trần truồng, nhất là sự trần truồng sau khi phạm tội vốn đã làm Ađam và Evà xấu hổ. Muốn hiểu lời giảng giải của Chúa Kitô về ngoại tình, ĐGH cho rằng ta phải am tường cử toạ lắng nghe Ngài. Mà muốn hiểu cử toạ ấy, ta phải hiểu chính mình, bởi vì, giống như họ, ta cũng là con cháu Ađam Evà.
Thông thường, để hiểu ý diễn giả, cần phải hiểu cử toạ, bởi vì diễn giả sẽ điều chỉnh lời nói sao cho phù hợp với cử toạ. Điều này khá đúng với trường hợp của Chúa khi nói về việc ngoại tình. Tuy nhiên, bởi vì Chúa trỏ các nhận xét vào hướng nội tâm của mỗi người, do đó, càng cần phải hiểu chiều kích nội tâm này nhiều hơn nữa thì mới giải thích đúng lời Chúa rao giảng được. ĐGH viết, “Chúa Kitô đã chuyển hướng cái cốt lõi vấn đề (ngoại tình) sang một chiều kích khác, khi Ngài nói: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. Nói thế là Chúa đã đi vào cõi thẳm sâu tâm hồn con người.” Khi nói đến một hành vi nội tâm, “cái nhìn thèm muốn,” Chúa đã ám chỉ điều đang ‘luẩn quẩn’ trong con ngườI, vốn phần nào là hậu quả của tội lỗi. Các kinh nghiệm đích thân đầu đời của Ađam Evà sau khi phạm tội sẽ biểu lộ trạng huống nội tâm này của tất cả chúng ta. Các kinh nghiệm này sẽ bộc lộ trạng huống nội tâm của cái mà ĐGH goị là “con người lịch sử,” nghĩa là, tất cả mọi hữu thể nhân sinh vốn gánh chịu hậu quả nguyên tội (ngoại trừ Chúa Kitô và Mẹ Maria). Do đó, việc khảo sát về sự trần truồng của Ađam và Evà sau khi phạm tội sẽ giúp ta giải thích đúng lời giảng dậy của Chúa.
Một lần nữa, qua 10 bài diễn từ của chu kỳ thứ hai trong loạt bài THXT, ĐGH sử dụng phương pháp hiện tượng luận để khảo sát kinh nghiệm về sự trần truồng của Ađam và Evà. Ngài dựa trên nguyên tắc này: mọi ‘con người lịch sử’ đều có chung các kinh nghiệm vốn được soi sáng qua Mạc Khải, tức Lời Chúa, là chính Chúa Kitô, “Đấng hiểu thấu mọi sự trong mọi người.” Ngài là chính Thiên Chúa Ngôi Con, đã mạc khải Cha, Con và Thánh Thần từ bên trong và xuyên qua nhân tính hữu hình của mình. Khi mạc khải Cha, Con và Thánh Thần, Chúa Kitô mạc khải chính Thiên Chúa. Khi mạc khải chính Thiên Chúa, Ngài cho mỗi người (vốn được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa) biết mình là ai, và phải hành động thế nào. Chúa Kitô “mạc khải con người cho chính con người,” bởi vì, là Thiên Chúa, Ngài cho mỗi người (vốn được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa) biết mình là ai, và phải hành động thế nào. Do đó, Chúa Kitô biết điều chất chứa “trong con người.” Vì thế, lời của Ngài, trong khi chạm đến các kinh nghiệm sâu xa nhất của ‘con người lịch sử,’ đã soi sáng và giải thích các kinh nghiệm ấy. Lời Chúa thật quan yếu cho nền THXT.
I. Ađam và Evà Kinh Nghiệm về sự Trần Truồng
Trước khi phạm tội, hay nói theo thần học, trước cuộc Sa Ngã, Ađam và Evà đều trần truồng mà không xấu hổ. Nhưng sau khi phạm tội, “Mắt họ mở ra, thấy mình trần truồng, nên kết lá vả che thân.” Rồi họ đi kiếm chỗ nấp chỉ sợ gặp Chúa khi đang tảo bộ trong vườn trong một ngày dịu mát.
Có hai hậu quả của tội được sách Sáng Thế nói đến: trước hết, họ che thân; thứ đến, họ sợ hãi Thiên Chúa. Quả thế, Ađam thưa với Chúa rằng: “Tôi nghe tiếng Chúa trong vườn; nhưng tôi sợ, bởi vì tôi trần truồng, tôi phải lẩn trốn.” Cả hai hậu quả của tội lỗi đã đánh dấu những đổi thay đáng kể. Trước khi sa ngã, họ cũng trần truồng, nhưng không xấu hổ, nghĩa là không phải che đậy gì cả. Hơn nữa, trước khi sa ngã, việc liên lạc với Chúa thật dễ dàng và thân tình. Ađam không hề chống cưỡng hoặc phản ứng khi nhận lệnh Chúa truyền không ăn trái cây biết thiện biết ác.
Sợ hãi hầu như luôn luôn đi kèm với xấu hổ. Thế nhưng Ađam và Evà không chỉ sợ hãi khi xấu hổ vì trần truồng. “Trần truồng ở đây không chỉ hiểu theo nghĩa đen của thân xác…Thực ra, trần truồng biểu hiện sự kiện con người bị tước mất quyền thông dự vào Tặng Ân; nó ám chỉ việc con người bị tha hoá khỏi Tình Yêu vốn là nguồn mạch của tặng ân nguyên thủy…”
Ađam và Evà đã phạm tội và cảm nghiệm xấu hổ và sợ hãi. Cảm nghiệm này ghi dấu trong tâm khảm họ và cũng được ghi vào các trang sách Sáng Thế. Thế nhưng căn nguyên đích thực đưa đến nỗi xấu hổ và sợ hãi nơi Ađam và Evà lại vượt xa sự trần truồng của thể xác. ĐGH giải thích rằng, trước khi phạm tội, Ađam có thể tự hiểu mình như là một nhân vị trong thân xác và qua thân xác mình. Nỗi cô đơn và ý thức của Ađam về sự kiện không có một thân thể sinh vật nào lại giống thân xác mình (cho đến khi Evà được tạo dựng), đã chính là ngọn nguồn đưa đến việc Ađam hiểu rằng, là một nhân vị, ông thật khác biệt với loài vật. Sau khi Evà được tạo dựng, thì chính ý thức của cả hai về sự kiện thân xác họ đã được tạo thành để kết hợp với nhau đã trở thành ngọn nguồn khiến cả hai đều hiểu rằng mình được tạo dựng để yêu thương, nghĩa là để thương yêu nhau như Chúa đã yêu thương họ. Qua ý thức về nỗi cô đơn nhân loại (phân biệt với loài vật) và về sự hợp nhất, Ađam và Evà hiểu rằng mình được tạo dựng để yêu thương. Tri thức này xuất phát từ kinh nghiệm về thân xác--trước tiên, biết rằng thân xác mình khác biệt hoàn toàn so với loài vật, kế đến, biết rằng thân xác mình, là nam là nữ, đã được tạo dựng người này cho người kia.
Cùng với kinh nghiệm về sự trần truồng sau khi phạm tội, một kinh nghiệm cũng đặt nền trên thân xác, ý thức của Ađam và Evà về thân xác mình thì hoàn toàn khác với ý thức họ có trước đây về thân xác. Ý thức đã bị chuyển đổi này về thân xác cho thấy một đổi thay triêt để trong thâm tâm họ. Kinh nghiệm về xấu hổ và sợ hãi của Ađam và Evà không chỉ là xấu hổ sợ hãi vì sự trần truồng thể lý, mà còn là xấu hổ sợ hãi xuất phát tự cách thế hiện hữu mới của họ trên trần gian, một cách thế không được Thiên Chúa hoạch định “từ khởi đầu.”
Ađam và Evà được tạo thành như là nhân vị có thể xác và được trao quyền quản cai trái đất. Câu nói của Ađam, “Tôi sợ, bởi tôi trần truồng, nên phải lẩn trốn,” dường như “nói lên ý thức về sự bất lực, về cảm thức bất an của xác thân đứng trước thiên nhiên.” Nói khác đi, trước khi phạm tội, Ađam và Evà đã nắm vai chủ động. Là nhân vị, họ không hề lệ thuộc các diễn trình của thiên nhiên, mà ngược lại, thiên nhiên phải hàng phục họ. Nhưng sau khi phạm tội, cái trật tự nguyên thủy đã bị đảo lộn. Nỗi sợ hãi của họ trở thành phản ứng tự nhiên trước tình thế mới: sợ những gì diễn trình thiên nhiên có thể gây nên cho mình.
Ý thức của Ađam và Evà về xấu hổ và sợ hãi còn trỏ về một cái gì lớn hơn là sự đảo ngược trật tự nguyên thủy của thiên nhiên. “Họ kết lá vả làm khố che thân.” Họ che đậy thân thể mình “để mắt người nam khỏi nhìn thấy cái chỉ dấu hữu hình của nữ tính, và mắt người nữ khỏi chứng kiến cái chỉ dấu hữu hình của nam tính.” Khi thấy người kia trần truồng (sau lần sa ngã), họ phản ứng theo một cách thức trái ngược với hệ thống giá trị của mình. Người này biết người kia có đó để ôm ấp yêu thương. Thế nhưng, sau khi phạm tội, và nhìn thấy người kia không một mảnh vải, họ cảm nghiệm một phản ứng trái ngược với phong cách đúng đắn lẽ ra phải có trước mặt người kia. Họ xấu hổ vì các phản ứng thể lý của họ nói lên một thứ ngôn ngữ, ngôn ngữ của ‘nắm giữ và sử dụng’ theo dục tính. Nó hoàn toàn trái ngược với thứ ngôn ngữ của ‘cho đi và nhận lãnh’ mà thân xác ho (trước khi phạm tội) vẫn hằng thốt lên. Tóm lại, trong khi có kinh nghiệm về tính lăng loàn, họ vẫn biết mình phải yêu thương, chứ không được lợi dụng nhau. Khi hành đông ngược lại với hệ thống giá trị của mình, họ thấy xấu hổ với chính mình. Họ cũng sợ rằng khi hành động như thế, họ sẽ đánh mất một giá trị: đó là đánh mất người kia như một món quà, bởi vì khi coi người kia như là đối tượng để sử dụng thì đã thực sự xúc phạm nặng nề đến người ấy rồi. Việc đánh mất người kia sẽ làm cho cả hai trở thành cô đơn và cảm thấy như bị bỏ rơi. Xấu hổ và sợ hãi trước sự đảo ngược trật tự thiên nhiên và trước các phản ứng nhìn thấy người kia trần truồng: tất cả đều chứng thực cho một ý thức hoàn toàn khác về thân xác mình.
(còn tiếp)