BÀI 10. GIÊSU, ĐẤNG CỨU THẾ.
Đúng như Ngài đã hứa, khi thời chuẩn bị đã mãn, Thiên Chúa gởi Đấng Cứu Thế xuống trần.
1. LÀM SAO TA BIẾT ĐƯỢC CUỘC ĐỜI ĐỨC GIÊSU.
Không phải chỉ có các môn đệ của Đức Giêsu nói về Ngài nhưng cả những sứ giả ngoài Kitô giáo (như Tacite năm 115 sau Công nguyên) cũng làm chứng Đức Giêsu là một nhân vật lịch sử. Ta còn biết về Đức Giêsu gián tiếp (phong tục, tâm lý, đời sống tôn giáo của dân chúng, tổ chức chính trị và xã hội của quê hương Ngài) nhờ các sách Thánh gọi là Cựu Ước, nhờ lịch sử và những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ.
Nguồn tư liệu chính cho ta biết về cuộc đời, con người và hoạt động của Đức Giêsu là các sách Tin Mừng.
Bốn sách Tin Mừng do bốn môn đệ của Đức Giêsu viết. Marcô khoảng năm 65; Matthêu và Luca khoảng 80; Gioan khoảng 100. Đây không phải là những tiểu sử với chi tiết tỉ mỉ. Trong những tập này chỉ ghi lại những biến cố quan trọng đối với lòng tin của tín hữu, nhất là giáo huấn của Đức Giêsu. Vì thế mới gọi là sách Tin Mừng.
Ban đầu những việc làm và lời nói của Đức Giêsu được thuật lại, truyền khẩu cho nhau nghe. Dần dần một số người ghi thành văn trong những tập nhỏ. Sau hết những tập này được dùng để soạn các sách Tin Mừng.
2. QUÊ HƯƠNG ĐỨC GIÊSU.
Palestine là một xứ nhỏ, khô nóng, hiểm trở, nhiều núi đồi vây quanh một số đồng bằng nhỏ hẹp. Xứ chia làm ba miền : Galillée ở phía Bắc, Samarie ở giữa và Judée ở phía Nam.
Từ biên giới phía Bắc, sông Jordan chảy xuống mở thành hồ Génésareth (hoặc Tiberiade) ở Galilée, rồi tiếp tục đổ vào Biển Chết ở Judée.
Một số địa danh thường được nhắc đến : các thị trấn Nazareth, Cana, Capharnaum, núi Thaber (Galilée), các thị trấn Sichem, núi Garizim (Samarie); các thị trấn Bethleem, Jericho, Bethanie, núi Cây Dầu, thủ đô Jerusalem (Judée).
Một vua bản xứ cai trị xứ Palestine dưới quyền kiểm soát của một Tổng trấn Rôma. Ngoài ra còn có một Thượng hội đồng để xử án và lo các việc nội bộ.
Trong xã hội Do Thái, ba giới nắm quyền lãnh đạo dân chúng : Tư tế, Kỳ lão và Luật sĩ thuộc nhóm nhiệm nhặt Biệt phái.
3. THỜI THƠ ẤU.
Đức Giêsu sinh ra ở Bethlehem (quê hương David) khoảng năm 06 trước Công nguyên dưới triều hoàng đế Rôma là César Auguste. Mẹ Ngài là Maria, một trinh nữ đã thụ thai và sinh con mà vẫn đồng trinh nhờ đặc ân của Thiên Chúa, Giuse là cha nuôi Ngài. Maria và Giuse sinh sống ở Nazareth, nhưng cả hai đều thuộc chi tộc David.
Đức Giêsu sinh trong cảnh cô đơn, nghèo khó. Mục đồng ở miền quanh là những người đầu tiên viếng thăm Ngài.
Đủ 40 ngày sau khi sanh, cha mẹ Ngài đưa Ngài lên Jerusalem dâng lễ vật ở Đền thờ theo luật dạy (các con đầu lòng người Do Thái đã được cứu sống ngày ra khỏi Ai Cập).
Ít lâu sau, mấy đạo sĩ từ Cận Đông tìm đến Bethlehem thờ lạy Đấng Cứu Thế mới sinh và dâng lễ vật. Sau cuộc viếng thăm này, Thánh gia phải lánh sang Ai Cập, vì Hérode, Vua Do Thái, tìm cách bách hại. Thánh gia tạm trú ở đó một thời gian cho tới khi Hérode chết mới trở về sống ở Nazareth.
Gia đình Đức Giêsu thuộc giới nghèo. Thánh Giuse làm thợ. Đức Maria lo việc nội trợ. Trong khung cảnh đơn giản đó, Đức Giêsu đã lớn lên, sinh sống, lao động cho tới khi truyền giảng.
4. CUỘC ĐỜI TRUYỀN GIẢNG.
Thời hoạt động công khai của Đức Giêsu khởi sự khoảng năm 28. Trước đó ít lâu, một tiên tri và là anh họ của Đức Giêsu, đã đi truyền giảng, kêu gọi mọi người sám hối, chuẩn bị đón Đấng Cứu Thế. Ông làm phép rửa sám hối cho họ tại bờ sông Jordan. Chính Đức Giêsu cũng đến chịu phép rửa bởi tay Gioan.
Đức Giêsu mở đầu thời hoạt động của Ngài bằng 40 ngày chuẩn bị tâm linh : cầu nguyện và chay tịnh trong sa mạc. Ở đó Ngài đã chế ngự được quỉ thần cám dỗ.
Ngài đã chọn 12 Tông đồ, đa số là ngư phủ, huấn luyện các ông, cho các ông chung sống với Ngài, chuẩn bị để sau này các ông sẽ nối tiếp công cuộc cứu thế của Ngài. Ngoài ra còn có một số đông môn đệ đi theo Đức Giêsu.
Đức Giêsu trực tiếp gặp gỡ và giảng cho dân chúng về Nước Thiên Chúa, mời gọi và chỉ cách cho họ đón nhận Nước ấy (tức là đón nhận ơn cứu rỗi Thiên Chúa ban). Ngài dạy chân lý cao siêu bằng những lời giản dị, nhiều khi dưới hình thức ngụ ngôn.
Trong khi đi truyền giảng, Đức Giêsu còn làm nhiều dấu lạ : chữa lành bệnh tật, trừ tà, làm bánh hóa nhiều, biến nước thành rượu, truyền lệnh cho bão táp im lặng, làm cho người chết sống lại. ..
Những dấu lạ đó minh chứng Ngài quả là Đấng Cứu Thế Thiên Chúa sai đến và Lời Ngài dạy là chân lý.
Mặc dầu bận rộn dạy dỗ và chia sẻ đời sống của quần chúng, Đức Giêsu vẫn dành ra những lúc thuận lợi để giao tiếp với Thiên Chúa. Ngài thường cầu nguyện Chúa Cha ban đêm hoặc sáng sớm, ở nơi thanh vắng.
Cuộc đời truyền giảng của Đức Giêsu kéo dài đến hết muà xuân năm 30. Một biến cố quyết định đang chờ đợi Ngài. Ngài đến không phải chỉ giảng dạy, nhưng còn để hiến dâng mạng sống cứu chuộc mọi người.
5. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG.
Lời truyền giảng của Đức Giêsu gặp nhiều tâm hồn chân thành đón nhận, nhưng cũng không thiếu người hoài nghi và chống đối, nhất là về phía giới cầm đầu dân. Họ tìm cách giết Ngài.
Chúa nhật đầu tháng tư (2/4/30), Ngài vào Jerusalem công khai, được dân chúng đón tiếp long trọng và suy tôn là Đấng Cứu Thế.
Chiều Thứ Năm, Ngài mừng Lễ Vượt Qua, cùng với các tông đồ theo tục lệ Do Thái. Trong bữa ăn chia tay này, Ngài biến rượu và bánh thành Mình và Máu Ngài làm lễ vật dâng lên Thiên Chúa và làm lương thiêng nuôi các tín hữu. Bữa tiệc này là nguồn gốc của Thánh Lễ.
Sau tiệc, Đức Giêsu vào vườn Cây Dầu cầu nguyện, tâm hồn như hấp hối, cho tới khi Giuđa, một tông đồ phản bội dẫn người Do Thái đến bắt. Ngài bị nộp cho Thượng hội đồng rồi cho Tổng trấn Philatô. Họ chế diễu, hành hạ rồi kết án tử hình.
Ngày Thứ Sáu, Đức Giêsu chịu đóng đanh trên thập giá như một tội phạm. Ngài tắt thở lúc 3 giờ chiều. Các môn đệ hạ xác và mai táng trong huyệt đá.
Ngày Thứ Bảy, người Do Thái mừng Lễ Vượt Qua. Xác Đức Giêsu an nghỉ trong mồ.
Sáng Chúa Nhật (9/4/30), xác Đức Giêsu không còn trong mồ. Sứ thần cho các môn đệ đến viếng mồ biết : Đức Giêsu đã sống lại như Ngài đã loan báo trước đây. Ngài sẽ gặp lại các ông.
Chiều hôm đó vàtrong những ngày kế tiếp, Đức Giêsu đã hiện đến với các môn đệ nhiều lần ở Jerusalem, Emau hoặc trên bờ hồ Tiberiade. Ngài trao cho các tông đồ các quyền bính cần thiết để tiếp tục công cuộc cứu thế của Ngài.
Hết 40 ngày kể từ khi sống lại, Đức Giêsu không còn hiện đến với các môn đồ nữa, Ngài đã vào cõi hằng sống bên Thiên Chúa. Ngài còn hiện diện và hoạt động trong trần thế, nhưng một cách vô hình.
Khi sống lại, Ngài đã ban Thần Linh của Ngài (Chúa Thánh Thần) cho các môn đệ như Ngài đã hứa. Năm mươi ngày sau Ngài lại gởi Thánh Thần cách long trọng xuống trên các tông đồ để các ông làm chứng về Ngài và xây dựng Giáo hội của Ngài trong thế giới (gọi là Ngày Hiện Xuống).
Cuối lịch sử, Đức Giêsu sẽ tái hiệp trong vinh quang để xét xử loài người. Từ nay tới đó Giáo hội nối tiếp công cuộc của Ngài dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.
Đúng như Ngài đã hứa, khi thời chuẩn bị đã mãn, Thiên Chúa gởi Đấng Cứu Thế xuống trần.
1. LÀM SAO TA BIẾT ĐƯỢC CUỘC ĐỜI ĐỨC GIÊSU.
Không phải chỉ có các môn đệ của Đức Giêsu nói về Ngài nhưng cả những sứ giả ngoài Kitô giáo (như Tacite năm 115 sau Công nguyên) cũng làm chứng Đức Giêsu là một nhân vật lịch sử. Ta còn biết về Đức Giêsu gián tiếp (phong tục, tâm lý, đời sống tôn giáo của dân chúng, tổ chức chính trị và xã hội của quê hương Ngài) nhờ các sách Thánh gọi là Cựu Ước, nhờ lịch sử và những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ.
Nguồn tư liệu chính cho ta biết về cuộc đời, con người và hoạt động của Đức Giêsu là các sách Tin Mừng.
Bốn sách Tin Mừng do bốn môn đệ của Đức Giêsu viết. Marcô khoảng năm 65; Matthêu và Luca khoảng 80; Gioan khoảng 100. Đây không phải là những tiểu sử với chi tiết tỉ mỉ. Trong những tập này chỉ ghi lại những biến cố quan trọng đối với lòng tin của tín hữu, nhất là giáo huấn của Đức Giêsu. Vì thế mới gọi là sách Tin Mừng.
Ban đầu những việc làm và lời nói của Đức Giêsu được thuật lại, truyền khẩu cho nhau nghe. Dần dần một số người ghi thành văn trong những tập nhỏ. Sau hết những tập này được dùng để soạn các sách Tin Mừng.
2. QUÊ HƯƠNG ĐỨC GIÊSU.
Palestine là một xứ nhỏ, khô nóng, hiểm trở, nhiều núi đồi vây quanh một số đồng bằng nhỏ hẹp. Xứ chia làm ba miền : Galillée ở phía Bắc, Samarie ở giữa và Judée ở phía Nam.
Từ biên giới phía Bắc, sông Jordan chảy xuống mở thành hồ Génésareth (hoặc Tiberiade) ở Galilée, rồi tiếp tục đổ vào Biển Chết ở Judée.
Một số địa danh thường được nhắc đến : các thị trấn Nazareth, Cana, Capharnaum, núi Thaber (Galilée), các thị trấn Sichem, núi Garizim (Samarie); các thị trấn Bethleem, Jericho, Bethanie, núi Cây Dầu, thủ đô Jerusalem (Judée).
Một vua bản xứ cai trị xứ Palestine dưới quyền kiểm soát của một Tổng trấn Rôma. Ngoài ra còn có một Thượng hội đồng để xử án và lo các việc nội bộ.
Trong xã hội Do Thái, ba giới nắm quyền lãnh đạo dân chúng : Tư tế, Kỳ lão và Luật sĩ thuộc nhóm nhiệm nhặt Biệt phái.
3. THỜI THƠ ẤU.
Đức Giêsu sinh ra ở Bethlehem (quê hương David) khoảng năm 06 trước Công nguyên dưới triều hoàng đế Rôma là César Auguste. Mẹ Ngài là Maria, một trinh nữ đã thụ thai và sinh con mà vẫn đồng trinh nhờ đặc ân của Thiên Chúa, Giuse là cha nuôi Ngài. Maria và Giuse sinh sống ở Nazareth, nhưng cả hai đều thuộc chi tộc David.
Đức Giêsu sinh trong cảnh cô đơn, nghèo khó. Mục đồng ở miền quanh là những người đầu tiên viếng thăm Ngài.
Đủ 40 ngày sau khi sanh, cha mẹ Ngài đưa Ngài lên Jerusalem dâng lễ vật ở Đền thờ theo luật dạy (các con đầu lòng người Do Thái đã được cứu sống ngày ra khỏi Ai Cập).
Ít lâu sau, mấy đạo sĩ từ Cận Đông tìm đến Bethlehem thờ lạy Đấng Cứu Thế mới sinh và dâng lễ vật. Sau cuộc viếng thăm này, Thánh gia phải lánh sang Ai Cập, vì Hérode, Vua Do Thái, tìm cách bách hại. Thánh gia tạm trú ở đó một thời gian cho tới khi Hérode chết mới trở về sống ở Nazareth.
Gia đình Đức Giêsu thuộc giới nghèo. Thánh Giuse làm thợ. Đức Maria lo việc nội trợ. Trong khung cảnh đơn giản đó, Đức Giêsu đã lớn lên, sinh sống, lao động cho tới khi truyền giảng.
4. CUỘC ĐỜI TRUYỀN GIẢNG.
Thời hoạt động công khai của Đức Giêsu khởi sự khoảng năm 28. Trước đó ít lâu, một tiên tri và là anh họ của Đức Giêsu, đã đi truyền giảng, kêu gọi mọi người sám hối, chuẩn bị đón Đấng Cứu Thế. Ông làm phép rửa sám hối cho họ tại bờ sông Jordan. Chính Đức Giêsu cũng đến chịu phép rửa bởi tay Gioan.
Đức Giêsu mở đầu thời hoạt động của Ngài bằng 40 ngày chuẩn bị tâm linh : cầu nguyện và chay tịnh trong sa mạc. Ở đó Ngài đã chế ngự được quỉ thần cám dỗ.
Ngài đã chọn 12 Tông đồ, đa số là ngư phủ, huấn luyện các ông, cho các ông chung sống với Ngài, chuẩn bị để sau này các ông sẽ nối tiếp công cuộc cứu thế của Ngài. Ngoài ra còn có một số đông môn đệ đi theo Đức Giêsu.
Đức Giêsu trực tiếp gặp gỡ và giảng cho dân chúng về Nước Thiên Chúa, mời gọi và chỉ cách cho họ đón nhận Nước ấy (tức là đón nhận ơn cứu rỗi Thiên Chúa ban). Ngài dạy chân lý cao siêu bằng những lời giản dị, nhiều khi dưới hình thức ngụ ngôn.
Trong khi đi truyền giảng, Đức Giêsu còn làm nhiều dấu lạ : chữa lành bệnh tật, trừ tà, làm bánh hóa nhiều, biến nước thành rượu, truyền lệnh cho bão táp im lặng, làm cho người chết sống lại. ..
Những dấu lạ đó minh chứng Ngài quả là Đấng Cứu Thế Thiên Chúa sai đến và Lời Ngài dạy là chân lý.
Mặc dầu bận rộn dạy dỗ và chia sẻ đời sống của quần chúng, Đức Giêsu vẫn dành ra những lúc thuận lợi để giao tiếp với Thiên Chúa. Ngài thường cầu nguyện Chúa Cha ban đêm hoặc sáng sớm, ở nơi thanh vắng.
Cuộc đời truyền giảng của Đức Giêsu kéo dài đến hết muà xuân năm 30. Một biến cố quyết định đang chờ đợi Ngài. Ngài đến không phải chỉ giảng dạy, nhưng còn để hiến dâng mạng sống cứu chuộc mọi người.
5. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG.
Lời truyền giảng của Đức Giêsu gặp nhiều tâm hồn chân thành đón nhận, nhưng cũng không thiếu người hoài nghi và chống đối, nhất là về phía giới cầm đầu dân. Họ tìm cách giết Ngài.
Chúa nhật đầu tháng tư (2/4/30), Ngài vào Jerusalem công khai, được dân chúng đón tiếp long trọng và suy tôn là Đấng Cứu Thế.
Chiều Thứ Năm, Ngài mừng Lễ Vượt Qua, cùng với các tông đồ theo tục lệ Do Thái. Trong bữa ăn chia tay này, Ngài biến rượu và bánh thành Mình và Máu Ngài làm lễ vật dâng lên Thiên Chúa và làm lương thiêng nuôi các tín hữu. Bữa tiệc này là nguồn gốc của Thánh Lễ.
Sau tiệc, Đức Giêsu vào vườn Cây Dầu cầu nguyện, tâm hồn như hấp hối, cho tới khi Giuđa, một tông đồ phản bội dẫn người Do Thái đến bắt. Ngài bị nộp cho Thượng hội đồng rồi cho Tổng trấn Philatô. Họ chế diễu, hành hạ rồi kết án tử hình.
Ngày Thứ Sáu, Đức Giêsu chịu đóng đanh trên thập giá như một tội phạm. Ngài tắt thở lúc 3 giờ chiều. Các môn đệ hạ xác và mai táng trong huyệt đá.
Ngày Thứ Bảy, người Do Thái mừng Lễ Vượt Qua. Xác Đức Giêsu an nghỉ trong mồ.
Sáng Chúa Nhật (9/4/30), xác Đức Giêsu không còn trong mồ. Sứ thần cho các môn đệ đến viếng mồ biết : Đức Giêsu đã sống lại như Ngài đã loan báo trước đây. Ngài sẽ gặp lại các ông.
Chiều hôm đó vàtrong những ngày kế tiếp, Đức Giêsu đã hiện đến với các môn đệ nhiều lần ở Jerusalem, Emau hoặc trên bờ hồ Tiberiade. Ngài trao cho các tông đồ các quyền bính cần thiết để tiếp tục công cuộc cứu thế của Ngài.
Hết 40 ngày kể từ khi sống lại, Đức Giêsu không còn hiện đến với các môn đồ nữa, Ngài đã vào cõi hằng sống bên Thiên Chúa. Ngài còn hiện diện và hoạt động trong trần thế, nhưng một cách vô hình.
Khi sống lại, Ngài đã ban Thần Linh của Ngài (Chúa Thánh Thần) cho các môn đệ như Ngài đã hứa. Năm mươi ngày sau Ngài lại gởi Thánh Thần cách long trọng xuống trên các tông đồ để các ông làm chứng về Ngài và xây dựng Giáo hội của Ngài trong thế giới (gọi là Ngày Hiện Xuống).
Cuối lịch sử, Đức Giêsu sẽ tái hiệp trong vinh quang để xét xử loài người. Từ nay tới đó Giáo hội nối tiếp công cuộc của Ngài dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.