Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy truyền cho các con (Mt 28, 19- 20). Chúa Kitô, trước khi về trời đã để lại cho Hội Thánh lệnh truyền ấy như là lời di chúc đặc biệt mà Hội Thánh phải cất giữ và ấp ủ từng ngày, để thao thức truyền giáo của Chúa Kitô trở thành nỗi thao thức và niềm say mê của Hội Thánh.
Lệnh truyền ấy vừa là bổn phận, vừa làm cho Hội Thánh vinh quang. Bổn phận là vì Hội Thánh phải tiếp tục sứ mạng của Chúa Kitô. Còn vinh quang là vì Hội Thánh được cộng tác với Chúa Kitô mang ơn cứu độ cho trần gian. Ý thức bổn phận vinh quang ấy, Hội Thánh luôn luôn lên đường dấn thân cho hoạt động truyền giáo.
Sau những năm dạy giáo lý, nhất là giáo lý dự tòng, với kinh nghiệm cá nhân, chắc còn nhiều hạn chế, tôi thử đưa ra một vài yếu tố mà tôi cho là cần thiết đối với hoạt động truyền giáo. Không nhắm đến nghệ thuật, làm sao để truyền giáo cho hay, cho tốt, tôi chỉ muốn nói đến chính bản thân người làm công tác truyền giáo. Người làm công tác truyền giáo rất cần có tinh thần hiệp thông, lòng bác ái và sự nghèo khó.
TINH THẦN HIỆP THÔNG
Trước hết, tinh thần hiệp thông phải là điều kiện hàng đầu mà nhà truyền giáo cần quan tâm. Tôi lấy làm tâm đắc khi đọc Bản góp ý cho Tài liệu làm việc của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu mà Hội Đồng Giám mục Việt Nam soạn thảo trước khi một số giám mục Việt Nam lên đường dự Thượng Hội Đồng Giám mục Á châu tại Rôma (từ 19. 4 đến 14. 5. 1998). Hội Đồng Giám mục Việt Nam gọi Hiệp thông là thái độ nền tảng trong việc phục vụ và rao giảng Tin Mừng.
Hiệp thông không chỉ trong nội bộ của từng Hội Thánh địa phương, giữa các Hội Thánh địa phương với nhau - Bởi điều đó hết sức quang trọng vì những người sống gần nhau, những cộng đoàn sống gần nhau mà không thể chia sớt cho nhau niềm vui, nỗi buồn, chia sớt cho nhau tinh thần cũng như vật chất, ngược lại còn hiềm khích nhau, thì sẽ không bao giờ làm nỗi một tấm gương chứng tá. Nhất là chứng tá càng rạng sáng bao nhiêu thì truyền giáo càng có sức sống bấy nhiêu Nhưng hiệp thông còn là sự gắn bó với mọi người quanh ta. Không dám nói điều gì rộng lớn và xa xôi, tôi có kinh nghiệm thế này, khi dạy giáo lý dự tòng, nếu ta chịu khó nhín thời gian một chút, tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng, ước mơ của riêng từng học viên dự tòng, dẫu họ chưa là người tự nguyện hoàn toàn đi học đạo, nhưng do một động lực khác như để lập gia đình chẳng hạn, ta vẫn có thể tạo được mối tương quan thân thiện, gần gũi và hiểu biết giữa người hướng dẫn và người được hướng dẫn, từ đó gây cho họ cảm tình với bản thân ta, đi xa hơn: với Thiên Chúa, với Chúa Kitô, với Hội Thánh.
Hiệp thông với mọi người còn là sự liên đới với người nghèo, người ít học. Tại Việt Nam, thành phần này rất đông. Đông đến mức gấp ba, gấp bốn số người giàu cộng lại. Ta có thể hiện diện với họ bằng thái độ chân tình, cởi mở, bằng lui tới thăm nom, đừng bao giờ có thái độ trọng sang khinh bần. Nếu có biếu một ít vật chất nào đó, xin đừng có thái độ kẻ cả ban ơn. Trên hết mọi sự, ta cần có lòng yêu thương chân thành. Chính tình yêu sẽ dạy ta biết sống thế nào với anh chị em quanh mình. Điều quí giá là trao ban tình yêu chứ không phải là cho đi sự bố thí. Tình yêu của ta, nhất là của các mục tử sẽ là nguồn an ủi lớn lao dành cho anh chị em.
Trên hết mọi tương quan hiệp thông, ta không thể nào bỏ qua sự hiệp thông với Hội Thánh toàn cầu. Hiệp thông với Hội Thánh để rao giảng Tin Mừng bằng ý hướng của Hội Thánh, dựa trên nền tảng Huấn Quyền của Hội Thánh. Có như thế mới bảo đảm được tính nhất quáng đồng bộ khắp nơi trong lời rao giảng của nhà truyền giáo này với nhà truyền giáo kia. Nếu không, sẽ rơi vào nguy cơ sống lập dị, suy nghĩ khác những gì Hội Thánh nhìn nhận, và cuối cùng loan báo Lời Chúa theo suy nghĩ cá nhân chứ không phải của Hội Thánh. Với cách sống, cách suy nghĩ, và lời loan báo như thế, sẽ làm nguy hại cho công cuộc truyền giáo. Bởi nếu đi ngược chân lý đức tin mà Hội Thánh rao giảng là phá hoại chứ không phải truyền giáo.
Hiệp thông với Hội Thánh còn là lòng yêu mến, và nhìn nhận Hội Thánh là mẹ đã sinh chúng ta trong đức tin. Có yêu mến Hội Thánh, ta mới dễ dàng thông cảm cho những yếu đuối, những sa ngã của nhiều phần tử trong Hội Thánh, có lúc trở thành tấm gương mù tồi tệ. Người rao giảng Tin Mừng có thể nói đến những khuyết điểm của Hội Thánh như là bằng chứng về yếu tố con người để xin sự thông cảm, chứ không phải tấn công, hay nặng lời chê trách Hội Thánh. Ta không thể mời gọi ai đi theo mẹ mình mà lại sĩ nhục mẹ bằng chính những lỗi lầm của bà. Cũng thế, làm sao ta có thể nói đến sự thánh thiện, để mời gọi mọi người vào Hội Thánh mà chẳng yêu thương Hội Thánh! Nếu chỉ công kích Hội Thánh thì làm sao anh chị em của ta có thể nhận ra sự thánh thiện của Hội Thánh mà can đảm dấn thân sống đời Kitô hữu, trong khi sự thánh thiện của Hội Thánh là điều có thật. Suốt chiều dài lịch sử, Biết bao nhiêu người con của Hội Thánh, bằng đời sống chứng tá của bản thân, đã ghi nên những trang sử vàng rất hào hùng, rất oanh liệt, làm rạng danh Mẹ Hội Thánh của mình. Sự thánh thiện của Hội Thánh còn khơi nguồn từ Đấng Thánh, rất Thánh, chí Thánh của chúng ta: Đức Giêsu Kitô, Đấng sáng lập, là Đầu và Thủ lãnh của Hội Thánh.
Hội Thánh là Mẹ, mỗi Kitô hữu là con cùng một Mẹ. Chúng ta hiệp thông với Mẹ của mình để tất cả trở thành anh em là điều hợp lý. Mỗi anh em trong cùng một gia đình, đều lãnh nhận từ người Mẹ chung ấy đức tin duy nhất, để cùng rao giảng chỉ một đức tin tinh tuyền do Mẹ Hội Thánh truyền lại mà thôi.
LÒNG BÁC ÁI
Bác ái cũng là một đặc điểm cần thiết nơi một chứng nhân Tin Mừng. Giảng về Thiên Chúa yêu thương mà nhà truyền giáo không biết yêu thương, không tận tâm, tận tình với anh chị em, nhất là với người bần cùng, bất hạnh, cách sống đó không đúng, có thể là phản chứng của lời rao giảng. Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã trở thành một nhà truyền giáo lừng danh vì Mẹ đã sống tinh thần bác ái ấy. Mẹ Têrêsa là mẫu gương thời đại cho tất cả những người làm chứng cho Tin Mừng. Đức Hồng y Phạm Đình Tụng, trong bài phát biểu tại Thượng Hội đồng Giám mục Á châu đã nêu gương Mẹ Têrêsa như sau: Bởi sự kính trọng sâu xa và tình yêu thương hữu hiệu của Mẹ đối với mọi người, Mẹ đã giảng dạy một cách hữu hiệu cho chúng ta biết thế nào là Đấng Thiên Chúa tình thương của người Kitô.
Bác ái còn là sự thông cảm và tha thứ đối với lỗi lầm của anh chị em. Ta không bao che, không dung túng cho tội lỗi, nhưng độ lượng với người có tội để mời gọi họ trở về đường ngay nẻo chính. Chính Chúa Giêsu đã nêu gương về lòng độ lượng, thông cảm và tha thứ này. Đối với người phụ nữ xứ Samari có đến sáu đời chồng, bằng những lời ân cần hết sức, nhưng cũng không kém phần dứt khoát, Chúa Giêsu đã đánh thẳng vào vấn đề của chị, buộc chị phải nhìn nhận thân phận của mình mà vẫn không cảm thấy bị xúc phạm: Người bảo chị: Chị hãy gọi chồng chị rồi trở lại đây. Người phụ nữ đáp: Tôi không có chồng. Đức Giêsu bảo: Chị nói: tôi không có chồng là phải, vì chị đã có năm đời chồng, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị nói đúng (Ga 4, 1- 30).
Đối với người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang cũng vậy. Trước sự hung hăng đắc thắng của những kẻ vừa bắt được một tội nhân, như một thành quả to lớn của mình để bảo vệ lề luật, vừa có thể gài bẫy một người khác, Chúa Giêsu đã hết sức nhẹ nhàng: Người bảo họ: Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi Người ngẩng lên và nói: Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!.
Lời của Chúa Giêsu nhẹ nhàng là thế, nhưng cũng rất dứt khoát, làm cho những kẻ to tiếng kết tội chị phụ nữ phải cúi mặt nhận ra thân phận của mình. Nhưng cũng chính thái độ nhẹ nhàng và dứt khoát của Chúa Giêsu lại mang lại sự giải thoát cho chị phụ nữ. Không chỉ giải thoát chị khỏi tay những kẻ kết án mà còn là một sự giải thoát đúng nghĩa và quan trọng: cứu chị khỏi vòng kềm hãm của tội, đưa chị vào thế giới của bình an và tình yêu.
Lòng bác ái và độ lượng lớn lao như thế chắc chắn sẽ đem lại thành quả cũng lớn lao không kém cho những người tha thiết với trách vụ truyền giáo.
3. TINH THẦN NGHÈO KHÓ
Người truyền giáo cũng rất cần có lối sống giản dị, Tinh thần khiêm nhu, cởi mở. Lối sống kiểu cách, cầu kỳ có thể trở thành rào chắn làm cho ta ngại dấn thân đã vậy, nó cũng sẽ tạo ra một khoảng cách lớn với anh chị em, khiến ta trở thành xa lạ với mọi người. Lối sống càng giản dị, ta càng dễ khiêm nhu, cởi mở. Một lối sống và một tinh thần như thế đòi phải có đức khó nghèo ngự trị thẳm sâu nơi nhà truyền giáo. Bởi đó, ta cần khước từ những sa hoa, những tiện nghi, không tranh giành quyền lợi, không tranh giành ảnh hưởng. Chỉ cần như thế thôi, nhà truyền giáo đã là một bằng chứng hấp dẫn, mạnh mẽ và quan trọng của Tin Mừng.
Một lối sống giản dị, một tinh thần khiêm nhu, cởi mở, một đức tính khó nghèo như thế, còn giúp ta dễ dàng tôn trọng những tập quán, những tôn giáo, những hình thức văn hóa và các dị biệt khác của anh chị em.
Cả một đời trần thế của Chúa Giêsu là bài học quí giá cho ta về tất cả những nhân đức trên. Từ khi sinh ra, Chúa là Chúa trời đất đã không chọn sự giàu sang để nương thân. Cung điện dù nguy nga đến đâu, đền đài dù tráng lệ cách mấy, lại không có chỗ chứa đựng Đức Chúa cao cả ấy. Vậy mà chỉ cần một hang đá Bêlem khiêm cung lại có thể chứa đựng Đấng quyền năng vô biên.
Lúc sinh ra là thế. Chúa Giêsu lớn lên cũng bắt đầu từ một gia đình nghèo, không tiếng tăm, ẩn khuất giữa một làng quê Nagiarét bình dị như bao nhiêu gia đình ở nơi ấy. Đến khi ra đi rao giảng Tin Mừng lại bị người đời chống đối và rắp tâm thủ tiêu.
Đến lúc sinh thì, chính những kẻ mà Chúa yêu quí mang Tin Mừng đến cho họ, lại bị họ trở mặt, tước sạch những gì là nhân phẩm, là giá trị của một con người. Tước cả mạng sống vẫn chưa lấy làm đủ, sau khi đã gục đầu tắt thở, con người đan tâm tước đoạt cả đến giọt máu cuối cùng của Thiên Chúa làm người. Lồng ngực bị mở ra là vết thương rốt hết để đón lấy mọi tội nhân và ôm lấy cả những kẻ giết hại mình. Bằng cách ấy, Chúa Giêsu đã diễn tả đến kỳ cùng lòng thương xót của Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ (Philip 2, 6 7).
Nhìn ngắm Chúa Giêsu, người truyền giáo sẽ học được cách thức truyền giáo mà Chúa đã chọn.
4. KẾT LUẬN
Mỗi người Kitô hữu đều có trách nhiệm truyền giáo vì đó là lệnh truyền, cũng là lời di chúc của Chúa Giêsu. Nó còn là trách nhiệm và vinh dự cho những ai tha thiết với Lời Chúa, tha thiết mang Chúa ra đi giới thiệu cho muôn người.
Sứ điệp Thượng Hội Đồng Giám mục Á châu có nói: Chúng tôi coi đức tin của chúng tôi như một kho tàng quí giá nhất và chúng tôi muốn chia sẻ với tất cả mọi người. Bởi thế mang đức tin đến cho anh chị em là mang đến cho họ cả một món quà vô giá của ơn cứu độ. Bởi thế, chúng ta không sợ gian nan, không sợ khó khăn, tìm mọi cách chia sẻ đức tin của mình cho mọi người.
Hiểu như thế, bạn và tôi sẽ nhận ra công tác rao giảng của mình có một giá trị to lớn. Bởi trong niềm tin vào Đấng cứu độ duy nhất, chúng ta luôn luôn nhìn nhận rằng, ai cũng cần được Chúa Kitô cứu độ. Do đó công tác rao giảng Tin Mừng càng khẩn thiết hơn.
Chính các linh mục và tất cả những ai được trao nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa, càng phải ý thức hơn ai hết, trách nhiệm cao cả và vinh quang lớn lao của công tác truyền giáo.
Sau hết, tôi muốn kết thúc ở đây bằng chính sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2002 của Đức Thánh Cha để bạn và tôi cùng thao thức với vị Cha chung của cả Hội Thánh. Đức Thánh Cha viết: Cùng với Thánh Phaolô, vị tông đồ và nhà truyền giáo vĩ đại, chúng ta muốn lặp lại rằng Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó (1 Cor 9, 16-17). Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa, điều có thể khiến cho muôn người của các chủng tộc và văn hóa khác nhau nên anh chị em với nhau, mới có thể chữa lành những chia rẽ đau đớn: tranh chấp ý thức hệ, mất quân bình kinh tế và bạo lực là những gì đang đè nặng lên nhân loại (Sứ điệp Truyền giáo, số 2).
Vâng, chúng ta không bao giờ xấu hổ vì Tin Mừng và không bao giờ sợ hãi tuyên bố rằng chúng ta là Kitô Hữu, không bao giờ che dấu đức tin chúng ta. Thay vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nói để mở rộng những không gian cho việc công bố ơn cứu độ, vì Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta mãi mãi và Ngài luôn luôn ở giữa các môn đệ Ngài (Sứ điệp Truyền giáo 2002, số 6).