BÀI 8. THIÊN CHÚA CHUẨN BỊ ƠN CỨU RỖI.
Để loài người có thể đón nhận Đấng Cứu Thế, cần có một thời gian chuẩn bị tâm linh khá dài. Thời chuẩn bị này trùng hợp với lịch sử Israel. Dân này được thành lập với sứ mệnh làm vườn ươm chân lý và làm mảnh đất từ đó sẽ nẩy sinh Đấng Cứu Thế.
Lịch sử Israel chia làm nhiều giai đoạn :
1. NGUỒN GỐC.
Khoảng 1800 năm trước Công Nguyên, Abraham, một tộc trưởng du mục từ Mésopotamic xuống định cư tại Canaan. Theo tiếng Thiên Chúa gọi ông rời đất tổ, bỏ thần mình đang thờ, ra đi theo lời Thiên Chúa. Thiên Chúa đã thử ông. Ngài hứa cho ông trở thành tổ phụ một dân đông. Ông tin mặc dầu tuổi đã già và không con. Khi Isaac, người con của lời hứa, đã lớn, Thiên Chúa lại thử lòng ông bảo đem con lên núi hiến tế. Ông đã vâng theo không ngần ngại.
Thiên Chúa đã giữ lời hứa. Abraham đã trở thành ông tổ của Israel và sau này Đức Giêsu sẽ sinh ra từ dân ấy. Ông còn trở thành tổ phụ của mọi người tin.
Yacob, cháu của Abraham, có 12 người con (từ đó sinh ra 12 chi tộc Israel), trong đó có Giuse. Giuse bị các anh bán cho người Ai Cập và sau này ông làm tới thượng thư triều đình Ai Cập. Khi xảy ra nạn đói ở Canaan, các anh của Giuse cũng sang sống nhờ ở Ai Cập. Họ và con cháu họ đã định cư tại đó suốt bốn thế kỷ, cho tới khi Môisen đưa Israel về Canaan vào khoảng 1225 trước Công nguyên.
2. THÀNH LẬP.
Ở Ai Cập, ban đầu người Do Thái được đối xử tử tế nhưng càng ngày họ càng bị nghi kỵ và áp chế. Thiên Chúa thương dân nên đã chọn Môisen làm người lãnh đạo tranh đấu buộc Pharson phải để cho Israel ra đi trở về đất hứa.
Ngày ra đi được đánh dấu bằng bữa tiệc “Vượt Qua” với thịt chiên nướng. Máu chiên thì bôi lên cửa làm dấu. Nhờ dấu này con đầu lòng người Do Thái được an toàn đêm ấy khi Sứ thần đi qua để tàn sát các con đầu lòng người Ai Cập.
Từ đó, hàng năm người Do Thái phải kỷ niệm ngày Vượt Qua này. (Sau này, Đức Giêsu sẽ hiến dâng mình như chiên Vượt Qua. Ngài là chiên Vượt Qua đích thực, vì chính Ngài sẽ giải thoát loài người khỏi nô lệ tội lỗi).
Sau tiệc, Israel vội vã lên đường. Nước Biển Đỏ rẽ đôi để họ băng qua. Khi binh đoàn Ai Cập đuổi theo tới lòng biển, nước ập lại giết chết chẳng còn ai. Thiên Chúa biểu dương sức mạnh giải thoát của Ngài.
Đây là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Israel.
Mười hai chi tộc Israel tiến dần về Sinai. Ở đây một biến cố quan trọng khác đã xảy ra : Thiên Chúa giao ước với Israel (Giao ước là thề hứa một cách chính thức và long trọng). Qua Giao ước này, Thiên Chúa nhận Israel là dân tuyển lựa, được chăm sóc đặc biệt, còn Israel nhận Thiên Chúa làm Chúa độc nhất và vâng phục Ngài trọn vẹn.
Qua Môisen, Thiên Chúa ban cho dân Mười Giới Luật. Môisen còn lập luật qui định đời sống tôn giáo, luân lý, xã hội của dân, Israel trở thành một dân có tổ chức.
(Sau này Đức Giêsu sẽ lấy máu Ngài thực hiện Giao Ước mới, tạo nên một dân mới cho Thiên Chúa là Giáo Hội).
Cuộc hành trình về Canaan đã kéo dài 40 năm. Vì đã nổi loạn chống lại Thiên Chúa, tất cả thế hệ đã sinh ra ở Ai Cập đã không được về tới Đất Hứa, kể cả Môisen.
Jôsuê kế vị Môisen lãnh đạo dân đánh chiếm đất Canaan và chia cho 12 chi tộc Israel.
Sau Jôsuê, từ 1185 đến 1035, Israel được cai trị bởi các quan án.
3. THỜI QUÂN CHỦ.
Saolê, ông vua đầu tiên, lên ngôi năm 1035.
David kế ngôi năm 1015 và trị vì suốt 40 năm. Đây là một ông vua có tài, có tâm hồn nghệ sĩ (thánh vịnh), có lòng đạo đức (sám hối). Ông mở mang bờ cõi, lập thủ đô ở Yêrusalem, trên đồi Sion và đưa Israel tới thời cực thịnh.
(Sau này Đức Giêsu sẽ sinh từ chi tộc David. Ngài còn được gọi là “David mới”, vì Ngài là Đấng chính trực được Thiên Chúa sai đến, chăn dắt dân mới của Ngài).
Salomon nối nghiệp cha trị dân từ năm 975 đến 935. Đền thờ Yêrusalem do ông xây được hoàn thành khoảng năm 960.
Vào cuối đời, Salomon không còn trung tín với Thiên Chúa. Mặt khác, nếp sống xa hoa gây cực khổ cho dân đã đưa tới cuộc nổi loạn và ly khai của Jéroboam năm 935.
Cuộc phân chia làm hai vương quốc : Nam (thủ đô Yêrusalem) Bắc (thủ đô Samarie) làm suy yếu cả hai. Hầu hết các vua đều bất hạnh vô tài. Họ thờ thần ngoại và sống buông thả. Nạn ngoại xâm đe dọa. Samarie bị phá hủy năm 721, Yêrusalemthất thủ năm 586. Israel bị đem đi lưu đầy ở Babylone tới năm 538.
Trong thời suy sụp của Israel, từ năm 935 đến 538, Thiên Chúa đã sai nhiều ngôn sứ (tiên tri) đến với dân để dạy dỗ chân lý, kêu gọi sám hối, an ủi trong đau khổ và khơi niềm hy vọng vào Đấng Cứu Thế đã được hứa. Nhờ các tiên tri, lý tưởng tôn giáo còn được bảo tồn để khơi lên sau thời lưu đầy. Các ngôn sứ quan trọng nhất là : Elie, Isaie, Jérémie, Ezéchiel và Daniel.
4. SAU LƯU ĐẦY.
Năm 538, Cyrus cho phép Israel hồi hương. Đền thờ tái thiết, xong năm 515. Từ 332 đến 143, Israel thuộc quyền bảo hộ của Hy Lạp, mất cả chủ quyền chính trị lẫn tự do tôn giáo. Hết Hy Lạp đô hộ, lại đến lệ thuộc Rôma từ năm 63. Đức Giêsu sinh ra trong thời bảo hộ này, năm -6.
Để loài người có thể đón nhận Đấng Cứu Thế, cần có một thời gian chuẩn bị tâm linh khá dài. Thời chuẩn bị này trùng hợp với lịch sử Israel. Dân này được thành lập với sứ mệnh làm vườn ươm chân lý và làm mảnh đất từ đó sẽ nẩy sinh Đấng Cứu Thế.
Lịch sử Israel chia làm nhiều giai đoạn :
1. NGUỒN GỐC.
Khoảng 1800 năm trước Công Nguyên, Abraham, một tộc trưởng du mục từ Mésopotamic xuống định cư tại Canaan. Theo tiếng Thiên Chúa gọi ông rời đất tổ, bỏ thần mình đang thờ, ra đi theo lời Thiên Chúa. Thiên Chúa đã thử ông. Ngài hứa cho ông trở thành tổ phụ một dân đông. Ông tin mặc dầu tuổi đã già và không con. Khi Isaac, người con của lời hứa, đã lớn, Thiên Chúa lại thử lòng ông bảo đem con lên núi hiến tế. Ông đã vâng theo không ngần ngại.
Thiên Chúa đã giữ lời hứa. Abraham đã trở thành ông tổ của Israel và sau này Đức Giêsu sẽ sinh ra từ dân ấy. Ông còn trở thành tổ phụ của mọi người tin.
Yacob, cháu của Abraham, có 12 người con (từ đó sinh ra 12 chi tộc Israel), trong đó có Giuse. Giuse bị các anh bán cho người Ai Cập và sau này ông làm tới thượng thư triều đình Ai Cập. Khi xảy ra nạn đói ở Canaan, các anh của Giuse cũng sang sống nhờ ở Ai Cập. Họ và con cháu họ đã định cư tại đó suốt bốn thế kỷ, cho tới khi Môisen đưa Israel về Canaan vào khoảng 1225 trước Công nguyên.
2. THÀNH LẬP.
Ở Ai Cập, ban đầu người Do Thái được đối xử tử tế nhưng càng ngày họ càng bị nghi kỵ và áp chế. Thiên Chúa thương dân nên đã chọn Môisen làm người lãnh đạo tranh đấu buộc Pharson phải để cho Israel ra đi trở về đất hứa.
Ngày ra đi được đánh dấu bằng bữa tiệc “Vượt Qua” với thịt chiên nướng. Máu chiên thì bôi lên cửa làm dấu. Nhờ dấu này con đầu lòng người Do Thái được an toàn đêm ấy khi Sứ thần đi qua để tàn sát các con đầu lòng người Ai Cập.
Từ đó, hàng năm người Do Thái phải kỷ niệm ngày Vượt Qua này. (Sau này, Đức Giêsu sẽ hiến dâng mình như chiên Vượt Qua. Ngài là chiên Vượt Qua đích thực, vì chính Ngài sẽ giải thoát loài người khỏi nô lệ tội lỗi).
Sau tiệc, Israel vội vã lên đường. Nước Biển Đỏ rẽ đôi để họ băng qua. Khi binh đoàn Ai Cập đuổi theo tới lòng biển, nước ập lại giết chết chẳng còn ai. Thiên Chúa biểu dương sức mạnh giải thoát của Ngài.
Đây là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Israel.
Mười hai chi tộc Israel tiến dần về Sinai. Ở đây một biến cố quan trọng khác đã xảy ra : Thiên Chúa giao ước với Israel (Giao ước là thề hứa một cách chính thức và long trọng). Qua Giao ước này, Thiên Chúa nhận Israel là dân tuyển lựa, được chăm sóc đặc biệt, còn Israel nhận Thiên Chúa làm Chúa độc nhất và vâng phục Ngài trọn vẹn.
Qua Môisen, Thiên Chúa ban cho dân Mười Giới Luật. Môisen còn lập luật qui định đời sống tôn giáo, luân lý, xã hội của dân, Israel trở thành một dân có tổ chức.
(Sau này Đức Giêsu sẽ lấy máu Ngài thực hiện Giao Ước mới, tạo nên một dân mới cho Thiên Chúa là Giáo Hội).
Cuộc hành trình về Canaan đã kéo dài 40 năm. Vì đã nổi loạn chống lại Thiên Chúa, tất cả thế hệ đã sinh ra ở Ai Cập đã không được về tới Đất Hứa, kể cả Môisen.
Jôsuê kế vị Môisen lãnh đạo dân đánh chiếm đất Canaan và chia cho 12 chi tộc Israel.
Sau Jôsuê, từ 1185 đến 1035, Israel được cai trị bởi các quan án.
3. THỜI QUÂN CHỦ.
Saolê, ông vua đầu tiên, lên ngôi năm 1035.
David kế ngôi năm 1015 và trị vì suốt 40 năm. Đây là một ông vua có tài, có tâm hồn nghệ sĩ (thánh vịnh), có lòng đạo đức (sám hối). Ông mở mang bờ cõi, lập thủ đô ở Yêrusalem, trên đồi Sion và đưa Israel tới thời cực thịnh.
(Sau này Đức Giêsu sẽ sinh từ chi tộc David. Ngài còn được gọi là “David mới”, vì Ngài là Đấng chính trực được Thiên Chúa sai đến, chăn dắt dân mới của Ngài).
Salomon nối nghiệp cha trị dân từ năm 975 đến 935. Đền thờ Yêrusalem do ông xây được hoàn thành khoảng năm 960.
Vào cuối đời, Salomon không còn trung tín với Thiên Chúa. Mặt khác, nếp sống xa hoa gây cực khổ cho dân đã đưa tới cuộc nổi loạn và ly khai của Jéroboam năm 935.
Cuộc phân chia làm hai vương quốc : Nam (thủ đô Yêrusalem) Bắc (thủ đô Samarie) làm suy yếu cả hai. Hầu hết các vua đều bất hạnh vô tài. Họ thờ thần ngoại và sống buông thả. Nạn ngoại xâm đe dọa. Samarie bị phá hủy năm 721, Yêrusalemthất thủ năm 586. Israel bị đem đi lưu đầy ở Babylone tới năm 538.
Trong thời suy sụp của Israel, từ năm 935 đến 538, Thiên Chúa đã sai nhiều ngôn sứ (tiên tri) đến với dân để dạy dỗ chân lý, kêu gọi sám hối, an ủi trong đau khổ và khơi niềm hy vọng vào Đấng Cứu Thế đã được hứa. Nhờ các tiên tri, lý tưởng tôn giáo còn được bảo tồn để khơi lên sau thời lưu đầy. Các ngôn sứ quan trọng nhất là : Elie, Isaie, Jérémie, Ezéchiel và Daniel.
4. SAU LƯU ĐẦY.
Năm 538, Cyrus cho phép Israel hồi hương. Đền thờ tái thiết, xong năm 515. Từ 332 đến 143, Israel thuộc quyền bảo hộ của Hy Lạp, mất cả chủ quyền chính trị lẫn tự do tôn giáo. Hết Hy Lạp đô hộ, lại đến lệ thuộc Rôma từ năm 63. Đức Giêsu sinh ra trong thời bảo hộ này, năm -6.