BÀI 7. THIÊN CHÚA MUỐN ĐƯA TA TỚI HẠNH PHÚC.
Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống và tràn đầy hạnh phúc. Bản chất của sự sống là chia sẻ, nhân lên. Vì lòng nhân hậu, Thiên Chúa đã dựng nên con người để họ được chia sẻ sự sống và hạnh phúc với Ngài.
1. THIÊN CHÚA CHUẨN BỊ MỘT THẾ GIỚI CHO CON NGƯỜI.
Trước khi tạo dựng con người, Thiên Chúa chuẩn bị sẵn cho họ một nơi sinh sống là thế giới này. Toàn thể vũ trụ được sáng tạo cho con người và vì con người.
Vũ trụ, nhất là trái đất, đã xuất hiện từ bao giờ, hình thành như thế nào, theo thứ tự nào, do những yếu tố nào. .. là những vấn đề khoa học mà Thánh Kinh không có ý giải đáp. Trái lại, Thánh Kinh cho ta biết một số chân lý về nguồn gốc vũ trụ :
Thiên Chúa là nguồn cội tối hậu của mọi sự, kể cả vật chất và các định luật khoa học chi phối vật chất. Tất cả là thụ tạo, nghĩa là lệ thuộc (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa.
Khi sáng tạo, Ngài không làm nên một cái gì mới từ cái có sẵn, nhưng đưa từ không tới có, từ hư vô đến hiện hữu. Thiên Chúa dựng nên mọi sự bằng “ Lời toàn năng “ của Ngài, nghĩa là Ngài muốn là có ngay.
Vì là tác phẩm của Thiên Chúa, mọi thụ tạo đều tốt. Nếu thụ tạo có trở nên xấu thì chỉ vì con người không biết sử dụng chúng một cách chính đáng.
Tất cả được tạo dựng cho con người. Con người là chủ vũ trụ này. Con người khai thác và biến đổi vũ trụ này để tiếp tục công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa.
Tất cả đều phục vụ con người để con người phục vụ Thiên Chúa.
2. THIÊN CHÚA DỰNG NÊN CON NGƯỜi GIỐNG NHƯ NGÀI.
Chính Thiên Chúa tạo dựng nên con người. Ngài dựng nên con người vì chính hạnh phúc của con người.
Con người gồm hai yếu tố gắn liền với nhau : thể chất là xác và tâm linh là hồn. Thánh Kinh không cho biết Thiên Chúa dựng nên xác cách nào (lấy đất nặn nên hình người chỉ là một kiểu nói). Hồn do Thiên Chúa trực tiếp dựng nên để hiệp với xác (đó là ý nghĩa Thiên Chúa thở hơi vào tượng đất). Xác là vật chất nên sẽ tiêu tan theo định luật vật chất. Hồn thì bất tử vì là tinh thần.
Giả thuyết cho rằng xác con người và vượn có một tố chung (khác với thuyết người bởi khỉ) không trái với Thánh Kinh nếu nhìn nhận con người có hồn và hồn đó không phải do tiến hóa tự nhiên nhưng do Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo.
Vì con người có hồn nên có ý thức và tự do (do đó có trách nhiệm), giống như Thiên Chúa, là hình ảnh của Ngài. Cũng vì có hồn nên con người có một phẩm giá cao cả và một vận mệnh vĩnh cửu.
Người nữ cũng do Thiên Chúa dựng nên, vì thế cùng chung một bản tính và bình đẳng với người nam. Người nữ bổ túc cho người nam và bạn thiết yếu của người nam. Hôn nhân hợp với ý định của Thiên Chúa.
3. HẠNH PHÚC BAN ĐẦU.
Thiên Chúa dựng nên con người để được chia sẻ sự sống và hạnh phúc của Ngài. Vì thế ngay từ buổi đầu Ngài đã cho con người được tràn đầy hạnh phúc. Qua những hình ảnh vật chất của “Vườn Địa Đàng”, Thánh Kinh muốn gợi lên tình trạng hạnh phúc tâm linh đó.
Lúc đó con người được sống thân mật, gần gũi với Thiên Chúa, được làm bạn tâm giao với Ngài, được tràn đầy ân phúc, được chia sẻ chính sự sống thần linh của Ngài.
Con người ở trong tình trạng trinh nguyên và quân bình. Tâm hồn trong trắng chưa biết đến tội. Còn làm chủ được mình, chưa hướng về sự ác và chưa bị dục vọng lôi cuốn.
Hạnh phúc ban đầu của loài người rất lớn, nhưng còn có thể gia tăng hơn nữa nếu họ trung tín với Thiên Chúa.
4. LOÀI NGƯỜI SA NGÃ.
Thiên Chúa dựng nên con người có ý thức và tự do. Con người có thể lựa chọn theo ý mình và do đó chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Thiên Chúa cũng đã thử thách loài người để xem họ trung tín đến đâu. Trong cuộc thử thách đầu tiên này con người đã sa ngã.
Tổ tiên loài người đã không vâng phục Thiên Chúa, đã dùng tự do để khước từ Ngài, không chấp nhận thân phận thụ tạo của mình.
Tội kiêu căng của tổ tiên đưa tất cả nhân loại vào tình trạng thất sủng. Nguyên tội mà mọi người đều mắc phải do liên đới với tổ tiên chính là tình trạng thất sủng chung này.
Sau khi sa ngã, loài người mất hết tình nghĩa với Thiên Chúa, mất sự sống thần linh Ngài ban, mất các ân huệ buổi đầu. Từ nay phải đau khổ, làm việc cực nhọc, phải chết, ý chí suy yếu, dục vọng áp đảo.
Tội đã nhập trần gian và đem theo nhiều tai họa.
5. THIÊN CHÚA HỨA PHỤC HỒI NHÂN LOẠI.
Mặc dầu loài người đã sa ngã, Thiên Chúa không bỏ ý định đưa mọi người tới hạnh phúc. Tội không phải là tình trạng cuối cùng của loài người. Thiên Chúa hứa sẽ tha thứ cho loài người, để họ có thể đạt tới hạnh phúc theo như ý định ban đầu của Ngài.
Cùng với ơn cứu rỗi, Thiên Chúa còn hứa ban một Đấng Cứu Thế. Đấng này là chính Con Ngài được sai xuống trần, mang tên là Giêsu, để dạy chân lý và chết cho mọi người.
Lời hứa của Thiên Chúa sẽ được các ngôn sứ (tiên tri) nhắc lại và phổ biến. Khi thời chuẩn bị đã mãn, Đức Giêsu sẽ thực hiện lời hứa qua cuộc đời trần thế và sự chết trên thập giá của Ngài.
Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống và tràn đầy hạnh phúc. Bản chất của sự sống là chia sẻ, nhân lên. Vì lòng nhân hậu, Thiên Chúa đã dựng nên con người để họ được chia sẻ sự sống và hạnh phúc với Ngài.
1. THIÊN CHÚA CHUẨN BỊ MỘT THẾ GIỚI CHO CON NGƯỜI.
Trước khi tạo dựng con người, Thiên Chúa chuẩn bị sẵn cho họ một nơi sinh sống là thế giới này. Toàn thể vũ trụ được sáng tạo cho con người và vì con người.
Vũ trụ, nhất là trái đất, đã xuất hiện từ bao giờ, hình thành như thế nào, theo thứ tự nào, do những yếu tố nào. .. là những vấn đề khoa học mà Thánh Kinh không có ý giải đáp. Trái lại, Thánh Kinh cho ta biết một số chân lý về nguồn gốc vũ trụ :
Thiên Chúa là nguồn cội tối hậu của mọi sự, kể cả vật chất và các định luật khoa học chi phối vật chất. Tất cả là thụ tạo, nghĩa là lệ thuộc (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa.
Khi sáng tạo, Ngài không làm nên một cái gì mới từ cái có sẵn, nhưng đưa từ không tới có, từ hư vô đến hiện hữu. Thiên Chúa dựng nên mọi sự bằng “ Lời toàn năng “ của Ngài, nghĩa là Ngài muốn là có ngay.
Vì là tác phẩm của Thiên Chúa, mọi thụ tạo đều tốt. Nếu thụ tạo có trở nên xấu thì chỉ vì con người không biết sử dụng chúng một cách chính đáng.
Tất cả được tạo dựng cho con người. Con người là chủ vũ trụ này. Con người khai thác và biến đổi vũ trụ này để tiếp tục công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa.
Tất cả đều phục vụ con người để con người phục vụ Thiên Chúa.
2. THIÊN CHÚA DỰNG NÊN CON NGƯỜi GIỐNG NHƯ NGÀI.
Chính Thiên Chúa tạo dựng nên con người. Ngài dựng nên con người vì chính hạnh phúc của con người.
Con người gồm hai yếu tố gắn liền với nhau : thể chất là xác và tâm linh là hồn. Thánh Kinh không cho biết Thiên Chúa dựng nên xác cách nào (lấy đất nặn nên hình người chỉ là một kiểu nói). Hồn do Thiên Chúa trực tiếp dựng nên để hiệp với xác (đó là ý nghĩa Thiên Chúa thở hơi vào tượng đất). Xác là vật chất nên sẽ tiêu tan theo định luật vật chất. Hồn thì bất tử vì là tinh thần.
Giả thuyết cho rằng xác con người và vượn có một tố chung (khác với thuyết người bởi khỉ) không trái với Thánh Kinh nếu nhìn nhận con người có hồn và hồn đó không phải do tiến hóa tự nhiên nhưng do Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo.
Vì con người có hồn nên có ý thức và tự do (do đó có trách nhiệm), giống như Thiên Chúa, là hình ảnh của Ngài. Cũng vì có hồn nên con người có một phẩm giá cao cả và một vận mệnh vĩnh cửu.
Người nữ cũng do Thiên Chúa dựng nên, vì thế cùng chung một bản tính và bình đẳng với người nam. Người nữ bổ túc cho người nam và bạn thiết yếu của người nam. Hôn nhân hợp với ý định của Thiên Chúa.
3. HẠNH PHÚC BAN ĐẦU.
Thiên Chúa dựng nên con người để được chia sẻ sự sống và hạnh phúc của Ngài. Vì thế ngay từ buổi đầu Ngài đã cho con người được tràn đầy hạnh phúc. Qua những hình ảnh vật chất của “Vườn Địa Đàng”, Thánh Kinh muốn gợi lên tình trạng hạnh phúc tâm linh đó.
Lúc đó con người được sống thân mật, gần gũi với Thiên Chúa, được làm bạn tâm giao với Ngài, được tràn đầy ân phúc, được chia sẻ chính sự sống thần linh của Ngài.
Con người ở trong tình trạng trinh nguyên và quân bình. Tâm hồn trong trắng chưa biết đến tội. Còn làm chủ được mình, chưa hướng về sự ác và chưa bị dục vọng lôi cuốn.
Hạnh phúc ban đầu của loài người rất lớn, nhưng còn có thể gia tăng hơn nữa nếu họ trung tín với Thiên Chúa.
4. LOÀI NGƯỜI SA NGÃ.
Thiên Chúa dựng nên con người có ý thức và tự do. Con người có thể lựa chọn theo ý mình và do đó chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Thiên Chúa cũng đã thử thách loài người để xem họ trung tín đến đâu. Trong cuộc thử thách đầu tiên này con người đã sa ngã.
Tổ tiên loài người đã không vâng phục Thiên Chúa, đã dùng tự do để khước từ Ngài, không chấp nhận thân phận thụ tạo của mình.
Tội kiêu căng của tổ tiên đưa tất cả nhân loại vào tình trạng thất sủng. Nguyên tội mà mọi người đều mắc phải do liên đới với tổ tiên chính là tình trạng thất sủng chung này.
Sau khi sa ngã, loài người mất hết tình nghĩa với Thiên Chúa, mất sự sống thần linh Ngài ban, mất các ân huệ buổi đầu. Từ nay phải đau khổ, làm việc cực nhọc, phải chết, ý chí suy yếu, dục vọng áp đảo.
Tội đã nhập trần gian và đem theo nhiều tai họa.
5. THIÊN CHÚA HỨA PHỤC HỒI NHÂN LOẠI.
Mặc dầu loài người đã sa ngã, Thiên Chúa không bỏ ý định đưa mọi người tới hạnh phúc. Tội không phải là tình trạng cuối cùng của loài người. Thiên Chúa hứa sẽ tha thứ cho loài người, để họ có thể đạt tới hạnh phúc theo như ý định ban đầu của Ngài.
Cùng với ơn cứu rỗi, Thiên Chúa còn hứa ban một Đấng Cứu Thế. Đấng này là chính Con Ngài được sai xuống trần, mang tên là Giêsu, để dạy chân lý và chết cho mọi người.
Lời hứa của Thiên Chúa sẽ được các ngôn sứ (tiên tri) nhắc lại và phổ biến. Khi thời chuẩn bị đã mãn, Đức Giêsu sẽ thực hiện lời hứa qua cuộc đời trần thế và sự chết trên thập giá của Ngài.