BÀI 6. THIÊN CHÚA TỎ MÌNH QUA THÁNH KINH.
Ta biết có Thiên Chúa, còn chính Thiên Chúa như thế nào thì chưa thể biết một cách trọn vẹn. Đó là điều ta sẽ khám phá sau này trong Nước Trời, ở thế giới bên kia. Nhưng ngay từ nay Thiên Chúa đã tỏ cho ta biết Ngài phần nào.
1. THIÊN CHÚA TOÀN NĂNG.
Thiên Chúa tỏ quyền năng của Ngài qua những việc kỳ diệu Ngài đã thực hiện trong lịch sử. Sở dĩ Ngài làm được mọi sự cách kỳ diệu như vậy là vì Ngài quyền năng tự bản chất của Ngài. Ngài tự mình hiện hữu (tự hữu) và hiện hữu từ muôn thuở (hằng hữu). Ngài sẽ tồn tại muôn đời trong khi mọi sự biến đổi và tan vào hư vô.
Vì Thiên Chúa toàn năng tự bản chất nên Ngài có thể tạo dựng mọi sự. Ngài là nguồn gốc và khởi điểm tuyệt đối của mọi sự. Cũng vì ngài toàn năng nên Thiên Chúa thấu biết mọi sự và hiện diện khắp nơi. Ngài hiện diện khắp nơi một cách vô hình vì Ngài là thần trí (tinh thần), nghĩa là không lệ thuộc vật chất (vô chất) và tràn đầy ý thức và sự sống.
2. THIÊN CHÚA LÀ SỰ SỐNG VÀ LÀ NGUỒN SỐNG.
Thánh Kinh dùng rất nhiều hình ảnh sống động để mô tả Thiên Chúa. Ngài được phát họa bằng những nét của con người : có mắt, có tai, cười, nói, đi dạo. ..
Thánh Kinh dùng những hình ảnh đó với dụng ý cho thấy Thiên Chúa không phải là một ý niệm trừu tượng, một lý thuyết, một suy luận. Trái lại, Ngài là một Ngôi vị, Ngôi vị tuyệt đối, sống động. Thiên Chúa tràn đầy sự sống, sự sống nguyên khởi và vĩnh cửu. Ngài là Thiên Chúa hằng sống.
Chẳng những Thiên Chúa có sự sống và tràn đầy sự sống nhưng Ngài còn là Nguồn mạch sự sống. Sự sống là chính bản chất của Ngài. Thiên Chúa là sự sống nguyên khởi. Từ nơi Ngài mọi loài nhận được sự sống ở những mức độ khác nhau.
3. THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT VÀ THÁNH THIỆN.
Thánh Kinh cho thấy Thiên Chúa rất gần gũi với con người. Ngài nói với loài người, giao tiếp với loài người. Tuy nhiên Thiên Chúa đồng thời cũng rất cao cả, trí phàm trần không thể hiểu, mắt phàm trần không thể thấy. Ngài thuộc thế giới khác. Ngài khác xa con người. Tư tưởng và đường lối của Ngài khôn thấu. Trước nhan Ngài, mọi người, mọi dân phải kể như không.
Tôn kính Thiên Chúa là tâm tình tôn giáo chủ yếu. Tôn kính nhưng không sợ hãi, vì Thiên Chúa siêu việt và cao cả nhưng không tàn bạo và chuyên chế.
Thiên Chúa cũng vô cùng thánh thiện và tốt lành. Nơi Thiên Chúa không có mảy may sự ác, vì sự ác ngược với bản tính Ngài. Thiên Chúa cũng không gây nên sự ác. Ngài ghét và chống lại sự ác, đặc biệt bằng ơn cứu rỗi. Ngài muốn ta chống lại sự ác dưới mọi hình thức, nhất là tội lỗi, và đón nhận ơn cứu rỗi của Ngài.
Thiên Chúa còn là nguồn mạch thánh thiện. Ngài thông ban thánh thiện của Ngài cho những ai đi theo Ngài. Trở nên thánh là tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa.
Thiên Chúa mời gọi ta nên thánh và ban cho ta đủ sức để đáp lại lời mời gọi đó.
Vì Thiên Chúa thánh thiện nên Ngài chân thật và thành tín. Ngài là Anh sáng, Lời Ngài chính trực. Việc Ngài làm công minh. Chân lý Ngài dạy tồn tại muôn thuở.
Thiên Chúa giữ mọi lời Ngài hứa, nhất là những điều Ngài đã nói trong Thánh Kinh.
4. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH THƯƠNG.
Thiên Chúa toàn hảo và cao cả, nhưng cũng rất gần gũi và cảm thương loài người. Chẳng những Thiên Chúa yêu thương, nhưng Ngài còn là chính tình thương. Yêu thương không phải chỉ là điều phụ thuộc hoặc một trong những tính chất của Thiên Chúa, nhưng chính là bản chất của Ngài.
Tình yêu của Thiên Chúa bao trùm mọi vật. Chính tình yêu đó đã sáng tạo mọi sự: vì được Thiên Chúa yêu thương nên chúng hiện hữu.
Riêng loài người còn được Thiên Chúa yêu thương với tình Cha. Con người chẳng những là thụ tạo nhưng còn là con, vì được mời gọi dự phần vào chính sự sống của Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu thương ta vì chính ta. Tình yêu của Ngài hoàn toàn vị tha. Thiên Chúa không tìm tư lợi nơi ta. Hơn nữa ta không thể làm cho Thiên Chúa hạnh phúc hơn, vì nơi Ngài, hạnh phúc đã trọn vẹn, không thể thêm gì.
Tình yêu của Thiên Chúa hoàn toàn vị tha, nhưng không phải vì thế mà nhạt nhẽo. Đây là một tình yêu tinh tuyền nên vừa nồng nàn vừa tuyệt đối.
Nhiều khi Thiên Chúa sửa dạy hoặc trách phạt ta. Đây không phải vì thiếu tình thương. Thực ra sửa phạt nhằm chủ đích giáo dục, giúp ta nên hoàn hảo hơn. Vì thế nó phục vụ tình yêu và là một phần của tình yêu.
Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, nhưng có nhiều người được Thiên Chúa yêu thương nhiều hơn : những người đau khổ, nghèo túng, bệnh tật. .. Đặc biệt nhất là lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân. Thiên Chúa tìm kiếm, mời gọi, chờ đợi tội nhân sám hối và trở về. Ngài đón nhận và tha thứ cho những người con dại dột thực lòng hối cải.
Nhiều bằng chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương loài người. Mỗi biến cố thuật lại trong Thánh Kinh là một bằng chứng. Nhưng bằng chứng hiển nhiên nhất là Thiên Chúa đã ban chính Con Ngài là Đức Giêsu để dạy dỗ loài người bằng Tin Mừng, rồi cứu chuộc, bằng thập giá và sự chết của Ngài, Đức Giêsu vừa rao giảng vừa minh chứng Tình Yêu của Thiên Chúa.
Ta biết có Thiên Chúa, còn chính Thiên Chúa như thế nào thì chưa thể biết một cách trọn vẹn. Đó là điều ta sẽ khám phá sau này trong Nước Trời, ở thế giới bên kia. Nhưng ngay từ nay Thiên Chúa đã tỏ cho ta biết Ngài phần nào.
1. THIÊN CHÚA TOÀN NĂNG.
Thiên Chúa tỏ quyền năng của Ngài qua những việc kỳ diệu Ngài đã thực hiện trong lịch sử. Sở dĩ Ngài làm được mọi sự cách kỳ diệu như vậy là vì Ngài quyền năng tự bản chất của Ngài. Ngài tự mình hiện hữu (tự hữu) và hiện hữu từ muôn thuở (hằng hữu). Ngài sẽ tồn tại muôn đời trong khi mọi sự biến đổi và tan vào hư vô.
Vì Thiên Chúa toàn năng tự bản chất nên Ngài có thể tạo dựng mọi sự. Ngài là nguồn gốc và khởi điểm tuyệt đối của mọi sự. Cũng vì ngài toàn năng nên Thiên Chúa thấu biết mọi sự và hiện diện khắp nơi. Ngài hiện diện khắp nơi một cách vô hình vì Ngài là thần trí (tinh thần), nghĩa là không lệ thuộc vật chất (vô chất) và tràn đầy ý thức và sự sống.
2. THIÊN CHÚA LÀ SỰ SỐNG VÀ LÀ NGUỒN SỐNG.
Thánh Kinh dùng rất nhiều hình ảnh sống động để mô tả Thiên Chúa. Ngài được phát họa bằng những nét của con người : có mắt, có tai, cười, nói, đi dạo. ..
Thánh Kinh dùng những hình ảnh đó với dụng ý cho thấy Thiên Chúa không phải là một ý niệm trừu tượng, một lý thuyết, một suy luận. Trái lại, Ngài là một Ngôi vị, Ngôi vị tuyệt đối, sống động. Thiên Chúa tràn đầy sự sống, sự sống nguyên khởi và vĩnh cửu. Ngài là Thiên Chúa hằng sống.
Chẳng những Thiên Chúa có sự sống và tràn đầy sự sống nhưng Ngài còn là Nguồn mạch sự sống. Sự sống là chính bản chất của Ngài. Thiên Chúa là sự sống nguyên khởi. Từ nơi Ngài mọi loài nhận được sự sống ở những mức độ khác nhau.
3. THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT VÀ THÁNH THIỆN.
Thánh Kinh cho thấy Thiên Chúa rất gần gũi với con người. Ngài nói với loài người, giao tiếp với loài người. Tuy nhiên Thiên Chúa đồng thời cũng rất cao cả, trí phàm trần không thể hiểu, mắt phàm trần không thể thấy. Ngài thuộc thế giới khác. Ngài khác xa con người. Tư tưởng và đường lối của Ngài khôn thấu. Trước nhan Ngài, mọi người, mọi dân phải kể như không.
Tôn kính Thiên Chúa là tâm tình tôn giáo chủ yếu. Tôn kính nhưng không sợ hãi, vì Thiên Chúa siêu việt và cao cả nhưng không tàn bạo và chuyên chế.
Thiên Chúa cũng vô cùng thánh thiện và tốt lành. Nơi Thiên Chúa không có mảy may sự ác, vì sự ác ngược với bản tính Ngài. Thiên Chúa cũng không gây nên sự ác. Ngài ghét và chống lại sự ác, đặc biệt bằng ơn cứu rỗi. Ngài muốn ta chống lại sự ác dưới mọi hình thức, nhất là tội lỗi, và đón nhận ơn cứu rỗi của Ngài.
Thiên Chúa còn là nguồn mạch thánh thiện. Ngài thông ban thánh thiện của Ngài cho những ai đi theo Ngài. Trở nên thánh là tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa.
Thiên Chúa mời gọi ta nên thánh và ban cho ta đủ sức để đáp lại lời mời gọi đó.
Vì Thiên Chúa thánh thiện nên Ngài chân thật và thành tín. Ngài là Anh sáng, Lời Ngài chính trực. Việc Ngài làm công minh. Chân lý Ngài dạy tồn tại muôn thuở.
Thiên Chúa giữ mọi lời Ngài hứa, nhất là những điều Ngài đã nói trong Thánh Kinh.
4. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH THƯƠNG.
Thiên Chúa toàn hảo và cao cả, nhưng cũng rất gần gũi và cảm thương loài người. Chẳng những Thiên Chúa yêu thương, nhưng Ngài còn là chính tình thương. Yêu thương không phải chỉ là điều phụ thuộc hoặc một trong những tính chất của Thiên Chúa, nhưng chính là bản chất của Ngài.
Tình yêu của Thiên Chúa bao trùm mọi vật. Chính tình yêu đó đã sáng tạo mọi sự: vì được Thiên Chúa yêu thương nên chúng hiện hữu.
Riêng loài người còn được Thiên Chúa yêu thương với tình Cha. Con người chẳng những là thụ tạo nhưng còn là con, vì được mời gọi dự phần vào chính sự sống của Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu thương ta vì chính ta. Tình yêu của Ngài hoàn toàn vị tha. Thiên Chúa không tìm tư lợi nơi ta. Hơn nữa ta không thể làm cho Thiên Chúa hạnh phúc hơn, vì nơi Ngài, hạnh phúc đã trọn vẹn, không thể thêm gì.
Tình yêu của Thiên Chúa hoàn toàn vị tha, nhưng không phải vì thế mà nhạt nhẽo. Đây là một tình yêu tinh tuyền nên vừa nồng nàn vừa tuyệt đối.
Nhiều khi Thiên Chúa sửa dạy hoặc trách phạt ta. Đây không phải vì thiếu tình thương. Thực ra sửa phạt nhằm chủ đích giáo dục, giúp ta nên hoàn hảo hơn. Vì thế nó phục vụ tình yêu và là một phần của tình yêu.
Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, nhưng có nhiều người được Thiên Chúa yêu thương nhiều hơn : những người đau khổ, nghèo túng, bệnh tật. .. Đặc biệt nhất là lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân. Thiên Chúa tìm kiếm, mời gọi, chờ đợi tội nhân sám hối và trở về. Ngài đón nhận và tha thứ cho những người con dại dột thực lòng hối cải.
Nhiều bằng chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương loài người. Mỗi biến cố thuật lại trong Thánh Kinh là một bằng chứng. Nhưng bằng chứng hiển nhiên nhất là Thiên Chúa đã ban chính Con Ngài là Đức Giêsu để dạy dỗ loài người bằng Tin Mừng, rồi cứu chuộc, bằng thập giá và sự chết của Ngài, Đức Giêsu vừa rao giảng vừa minh chứng Tình Yêu của Thiên Chúa.