CHỦ NHẬT 2 MÙA CHAY

HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI

(Mt 17, 1-9)

Thưa quý vị,

Một người bạn đã kể với nhóm chúng tôi về một doanh gia mà ông quen biết. Doanh gia này thường xuyên di chuyển bằng máy bay để tham dự các buổi hội họp làm ăn. Ông nói : “Tôi là khách hàng quen thuộc của một hãng máy bay, đến nỗi tôi nghĩ họ phải cho tôi một cổ phần của hãng.” Ông ta thuộc lòng các đường bay. Trước khi lên máy bay, ông mua một tờ thời báo kinh tế, một ly cà phê và rồi ở trên máy bay ông kéo hành lý của mình đến ghế dành riêng, cột dây an toàn, uống cà phê và đọc tin tức. Gần đến nơi ông coi lại các ghi chép về nội dung buổi họp sắp tới. Người nữ tiếp viên xuất hiện chỉ dẫn cách thức đề phòng các sự cố bất ngờ. Ông ta làm ngơ không để ý tới, bởi đã quá quen thuộc những thủ tục ấy. Ông lẩm bẩm với hành khách bên cạnh : “ Khổ lắm, biết rồi, nói mãi.”

Ngoại trừ lần gần đây, máy bay đã tới sát phi trường, nhưng lúng túng không đáp được. Giọng nói hồi hộp của phi công từ buồng lái vọng ra : “Thưa quý hành khách, chúng ta đang gặp rắc rối, các bánh xe hạ cánh không hoạt động. Chúng ta cần lượn quanh vài vòng để xả bớt nguyên liệu, tránh may bay bốc cháy, khi đáp không bánh xe lăn.” Cô tiếp viên lại xuất hiện, cặn kẽ chỉ dẫn an toàn cho hành khách lúc gặp nguy hiểm vì đáp khẩn cấp. Người ta phải ngồi hướng về đằng trước, hai tay ôm đầu gối phía cẳng dưới. Ông thương gia kể tiếp : “Lúc ấy tôi dương to cả hai tai nghe cho tỏ. Vị trí của các cửa thoát hiểm ở đâu ? Đèn báo đi ra cửa như thế nào ? Dây nịt an toàn ra sao và ngồi đúng tư thế đã chỉ định, không sót chi tiết nào. Tôi tái mặt chờ đợi điều khủng khiếp sắp xảy ra. Rồi tôi lờ mờ nhìn thấy ánh sáng của các xe cứu hộ sẵn sàng hai bên đường băng và tôi ý thức ra tầm quan trọng của lời cô tiếp viên chỉ dẫn. Nó nằm giữa sự sống và cái chết. Tôi lâm râm cầu khẩn Chúa liên tục. May quá cuối cùng các bánh xe hoạt động trở lại và chuyến đáp an toàn. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Đó là một kinh nghiệm để đời không thể quên.”… Quý vị có lẽ đã mường tượng ra sứ điệp của câu truyện. Nó cho chúng ta hay tầm quan trọng của việc lắng nghe và làm theo những chỉ dẫn của tiếng nói định mệnh trong lúc nguy hiểm. Những lời hướng dẫn rất trọng yếu. Nó là sự sinh tử của một đời người. Nó ban cho người ta ý nghĩa để sống hay chỉ là những giây phút qua đi vô hồn hời hợt, không có mục tiêu nào cả và như thế là một kiểu chết chóc vậy.

Các môn đệ Chúa Giê-su hôm nay lên núi cũng là để lắng nghe lời chỉ dẫn của Chúa Cha “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.” Nó cũng quan trọng như lời của phi công kể trên. Thực chất, nó còn quan trọng hơn nhiều, bởi vì nó có khả năng ban ơn cứu rỗi. Con người sẽ trầm luân muôn đời nếu từ chối nghe lời đó. Các tông đồ được dẫn lên đỉnh núi, nơi yên tĩnh và quang đãng. Tầm mắt của họ có thể nhìn xem tới quãng xa. Họ có thể tập trung tư tưởng, nghị lực rất dễ dàng. Viễn ảnh trước mắt họ thật bao la, bát ngát hơn cả những gì lòng họ mơ ước. Bởi lẽ ngày hôm ấy, Chúa mặc khải cho họ biết Chúa Giê-su là ai ? Tiếng oai nghiêm đã xác nhận về Ngài. Họ được nếm trước ơn phục sinh của Ngài và ngây ngất trong ơn thánh đó. Tuy nhiên, chúng ta cũng được Thiên Chúa chỉ dẫn trong cuộc sống của mình như người môn đệ. Giống như các tông đồ, chúng ta cũng được Chúa Giê-su đưa lên núi thánh hôm nay, xa cách mọi bận rộn trần gian và chúng ta cũng tập trung tâm hồn để lắng nghe tiếng Thiên Chúa. Hơn nữa, Ngài còn nói với chúng ta bằng hành động của mình, bằng gương sáng Ngài đã thực hiện. Hành động của Ngài, lời rao giảng cùa Ngài bộc lộ Thiên Chúa là ai, chúng ta là ai ? Nhận rõ về mình và về Thiên Chúa, chúng ta sẽ có khả năng hối cải, ngõ hầu được Ngài xót thương, thứ tha và sai đi loan báo những điều chúng ta được mặc khải về Ngài. Đó không phải là hạnh phúc ngất ngây trên đỉnh núi cao hay sao ?

Chúa phán với nhân loại và hướng dẫn nhân loại đến với Chúa Giê-su, chẳng lẽ bỏ mặc họ bơ vơ ? Thực ra Ngài luôn về phe với chúng ta, ban lời hằng sống để mọi người an lành và hạnh phúc. Tiếng từ trời phán là để chúng ta ghi lòng tạc dạ và đem ra thực hành. Bởi lẽ, trên thế gian có muôn vàn tiếng nói cạnh tranh với Lời Thiên Chúa. Những tiếng nói đó hằng ngày, hằng giờ bao vây chung quanh chúng ta, lôi kéo chúng ta nghe theo sứ điệp của chúng. Tiếng nói của tham vọng, giàu sang, sắc dục, đam mê bất chính như tuần trước chúng ta được biết trong ba cơn cám dỗ của Chúa Giê-su. Nó không hề rời xa chúng ta. Ngược lại, đêm ngày gào thét để chúng ta lưu ý. Nhiều lần chúng ta đã sa ngã thê thảm, mặc chúng lôi đi như đoàn cừu ngoan ngoãn. Vậy mùa chay là thời gian thuận tiện để chúng ta kiểm soát tâm hồn mình, kiểm tra những gì nghe theo hằng ngày. Phải chăng là Lời Thiên Chúa, hay là lời trần gian ? Đây là cơ hội để chúng ta mở to đôi tai lắng nghe cho tỏ những tiếng nói lành thánh, những cảnh cáo từ tầng mây, những kêu gọi từ lương tâm. Trong mùa chay, chúng ta nên tập cho quen tự hỏi mình : “Hôm nay, qua những gì tôi gặp, qua những biến cố xảy ra, Chúa Giê-su đã nói gì với tôi ? “ Nó là mùa chúng ta ghi tạc lời Ngài vào tâm hồn và cật vấn lương tâm qua lăng kính của Ngài, tức dựa trên Tin mừng mà chúng ta đã từng nghe, từng đọc và từng suy ngẫm.

Thí dụ : dưới ánh sáng lời Chúa Giê-su, điều mà chúng ta coi là “thành công” thì thực sự có phải vậy không ? Nó được xem xét theo tiêu chuẩn nào ? Điều mà chúng ta gán cho là “phúc lành”, thực chất có phải là đến từ Thiên Chúa hay chỉ là hoa quả của nỗ lực loài người ? và chẳng liên hệ gì với Đức Ki-tô ? Điều mà chúng ta gọi là “hạnh phúc” có bám rễ đích thực vào cuộc sống hay chỉ là các thỏa mãn chóng qua ? Mặt khác, cái mà người ta cho là “thất bại” lại là niềm vui sâu xa nhất cho chúng ta, hoặc sự tan rã của một giấc mộng ấp ủ lại là cánh cửa mở vào cõi phúc, một lối sống mới trưởng thành hơn. Cho nên, mùa chay đích thực là thời gian luyện tập “nghe” cho đúng, cho tỏ như doanh nhân chúng ta gặp trên kia. Đó là lúc chúng ta phải thính tai nhất trong cuộc đời mình. Thường ngày chúng ta điếc trước những biến cố xảy ra. Đúng hơn, chúng ta không nghe bằng tai, mà bằng trí óc bởi các định kiến có sẵn cho nên không thấy rõ sự thật, thậm chí chối bỏ sự thật. Tình huống này rất phổ thông, nhất là trong giới “đạo đức” kiểu Pharisêu. Họ bị các tập tục cổ truyền che khuất trí thông minh. Điều họ trông thấy, nghe thấy là ý kiến chủ quan của mình. Ý kiến đầy ích kỷ, tham lam, tàn nhẫn, như trường hợp họ bịa đặt vụ án Chúa Giê-su. Cần phải có ai đó thức tỉnh lương tâm chúng ta, nói cho chúng ta hay những sai lầm của mình và chúng ta phải để tâm lắng nghe. Người đó phải là thâm tín, nói toàn sự thật, lo lắng cho sự an toàn của chúng ta. Quý vị nhận ra Người đó là ai : “Này là Con yêu dấu của Ta, các ngươi hãy vâng nghe lời Người.”

Nói cho ngay, tất cả mọi người rồi sẽ đến ngày phải tỉnh dậy, ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và tự hỏi : “Tại sao tôi có mặt ở đây ?” và khi đã nhận ra tình trạng linh hồn mình : Đang bay vòng vòng để xả bớt nhiên liệu như chiếc máy bay gặp nạn và thực sự cảm thấy cạn kiệt. Tuy nhiên, chẳng ai muốn cuộc đời mình đi đến kết thúc với hai bàn tay trắng hoặc ngỡ ngàng tự hỏi : “Tất cả chỉ có thế thôi ư ?” Không, tất cả chúng ta phải cần đến Mùa chay, một cơ hội tốt để làm cho sáng mắt, sáng lòng và kiểm soát được tiếng gọi lũng đoạn cuộc đời chúng ta. Những tiếng gọi này gần như liên tục : “Thành công, cạnh tranh, thắng lớn, tích lũy nhiều.. .” Nhưng khi đạt đến căn bản của nó tức đáp ứng những đòi hỏi chúng kêu gào, thì chúng ta mới nhận ra sự thật : không bao giờ thỏa mãn được chúng. Càng cố gắng thỏa mãn, chúng càng đòi hỏi gắt gao hơn như những chất gây nghiện. Hậu quả là hoặc chúng ta tỉnh ngộ nhận ra tính giả dối của chúng hoặc ngã gục dưới sức nặng của các đam mê ngục tù.

Hôm nay, chúng ta có câu chuyện biến hình trên núi. Chúng ta đáp ứng ra sao ? Liệu chúng ta sẽ leo lên dãy núi Rockies, ngồi đó và đợi một thị kiến ? hay trốn vào rừng sâu tìm giấc mơ và chẳng chịu ra nếu giấc mơ chưa xuất hiện ? Đúng thế, ý tưởng đẹp, nhưng chẳng có khả năng thực hiện, ít ra là lúc này. Mai sau thì có lẽ. Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta có thể tưởng tượng ra một ngọn núi tại nơi đây, chỗ chúng ta sống và làm việc hay ở trong buổi phụng vụ hôm nay, chúng ta đang ở trên núi. Chúng ta cố gắng nhớ đến các kẻ đói khát trong xóm làng, nhớ đến những người cô thân cô thế, hoặc những dở dang trong cuộc đời. Với những thực tại đó trước mắt, chúng ta tạm ngưng những bộn rộn hằng ngày và lánh ra nơi hoang vắng, lắng đọng tâm hồn nghe rõ những chi Chúa nói với mình, sốt sắng lãnh nhận bánh hằng sống, bánh nuôi dưỡng linh hồn cho đến kiếp vĩnh hằng. Dĩ nhiên, chúng ta đã từng làm việc này mỗi khi tụ họp thành cộng đoàn trong thánh đường giáo xứ. Nhưng mùa chay này một cách đặc biệt, bởi hôm nay chúng ta được nghe lời Thiên Chúa phán. Lời khuyên bảo mọi người lắng nghe Con yêu dấu của Ngài, kẻo lầm đường lạc lối. Lời luôn luôn quan tâm đến những lợi ích của linh hồn chúng ta.

Bài đọc một và hai đề cập đến cùng chủ đề : Thiên Chúa kêu gọi nhân loại. Ông Abraham đã trung thành đáp lại để trở nên tổ phụ của dân riêng. Tên của ông Abram, nhưng Thiên Chúa thêm một vần là Abraham với ý nghĩa : Từ ông sẽ nảy sinh một dân tộc lớn, đó là dân Do thái. Cha của Abram là Téra có ba người con trai : Abram, Nakho, và Haran (St 11, 27). Nhưng chỉ một mình Abraham được Thiên Chúa tuyển chọn với sứ mệnh lớn và từ dòng dõi ông Đấng Cứu Thế đã ra đời. Ông cảm thấy Chúa thúc đẩy từ bên trong, rời bỏ gia đình cha mẹ, đi đến niềm đất vô định để thực thi thánh ý Thiên Chúa. Ông biết rõ ràng những điều Thiên Chúa mong đợi ở ông và không từ chối mệnh lệnh nào của Ngài, ngay cả việc sát tế con trai duy nhất là Isaac để kính dâng Thiên Chúa. Ơn gọi của ông hoàn toàn là trong đức tin tinh tuyền. Ông đã rời bỏ quá khứ để theo đuổi một tương lai do Chúa an bài. Ông đã được chúc phúc và dòng dõi ông được Thiên Chúa bảo vệ : kẻ thù của Abraham cũng là kẻ thù của Thiên Chúa. Đó cũng là ơn gọi của mọi tín hữu, rời bỏ nếp sống cũ, tội lỗi, tham lam ích kỷ để bước vào nếp sống mới tràn đầy ơn thánh và tình yêu. Liệu trong Mùa chay này, chúng ta có noi gương Abraham mà thực thi trọn vẹn ơn gọi của mình không ? Viễn ảnh tương lai của Abraham rõ ràng có tính thiên sai, từ một thực tế cụ thể tiến đến một dân tộc hưởng lời hứa cứu rỗi, thì chúng ta cũng vậy, từ kiếp sống nô lệ tội lỗi chuyển sang địa vị làm con Thiên Chúa.

Mỗi người tín hữu đều nhận được ơn Thiên Chúa kêu gọi. Đôi khi rất khó nhận ra và gần như không thể thực hiện nổi, giống như trường hợp của cụ tổ Abraham. Nó đòi hỏi những hy sinh triệt để như trong hôn phối, ơn gọi tu trì, sứ mệnh truyền giáo xa xôi, nghiên cứu khoa học, cứu chữa bệnh nhân, công việc bác ái từ thiện giữa xóm làng. Chúng ta phải can đảm tin cậy vào sự quan phòng của Thiên Chúa để vượt qua khó khăn, trung thành tiến hành ơn gọi, liều lĩnh nhảy vào vô định để ý Chúa được vẹn toàn. Thánh Phaolô nói rõ như vậy trong bài đọc hai. Mặc dù đã già cả và đang chịu trăm bề khốn khổ, ngài vẫn can đảm khuyên nhủ Timôthê làm chứng nhân cho Chúa Ki-tô : “Con yêu quý dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, con hãy đồng lao cộng khổ với Cha để loan báo Tin mừng.” Bởi vì theo thánh nhân, nó là lời kêu gọi vĩnh cửu nhưng không, hữu hiệu từ Thiên Chúa : “Người đã cứu độ và kêu gọi cúng ta vào dân thánh của Ngài, không phải vì công kia viêc nọ chúng ta làm, nhưng do kế hoạch và ân sủng của Người.” Vậy thì lắng nghe lời Chúa, tỉnh thức nhận ra thánh ý Ngài trong Mùa chay này quả là cần thiết.

Bề sâu đức tin, niềm trông cậy và lòng nhiệt thành của các tín hữu chính là bởi biến cố Chúa tỏ vinh quang trên núi thánh hôm nay. Thánh Phaolô tuy không nói rõ như thế, nhưng ngài gián tiếp đề cập đến khi loan báo cho Timôthê sự xuất hiện của Chúa Giê-su trong vinh quang, là bảo chứng cho tương lai sắp tới. Chắc chắn thánh nhân liên tưởng tới cuộc Phục sinh của Chúa, Đấng chiến thắng tử thần và ban vinh hiển cho các kẻ được chọn. Sự kiện Chúa biến hình báo trước tất cả nội dung đó. Chúng ta phải gắn bó với Chúa để đạt tới triều thiên vinh quang. Ơn Chúa sẽ thúc giục chúng ta sống đạo đức, thánh thiện trong Mùa chay này. Tiếng Chúa phán trong đám mây không phải vô mục đích, nhưng để chúng ta triệt để nghe theo sự hướng dẫn của Chúa Giê-su trong mùa hồng phúc và trọn đời mình. Mỗi ngày xin để ra vài giây phút suy niệm Lời Chúa và nói với Chúa như cậu bé Samuen : “Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.” Có thể chúng ta tham dự các lớp giáo lý mùa chay, đọc thông cáo hằng tuần tại cuối nhà thờ, năng đi dâng lễ, chịu các bí tích. Nghĩa là có rất nhiều cơ hội để lên “đỉnh núi thánh”, tập trung trí khôn lắng nghe Thiên Chúa có điều chi tốt muốn truyền đạt cho linh hồn mình. Như vậy, Mùa chay quả là hữu ích cho mọi tín hữu. Amen.