Thần linh Đất Việt không hẳn là những yếu tố vô hình, nhưng hiện thân là một con người có nguồn gốc thần linh, hoặc có khi là thần linh hóa nên người, hoặc là những con người thực sự là con người, giúp cho nhiều người gặp thấy phúc trong cuộc sống. Tìm hiểu quan niệm về chữ Thần và Thánh trong dân gian, chắc hẳn sẽ không thể không nhắc tới lịch sử của một dân tộc, trong lịch sử ấy có cội nguồn và được giữ gìn qua các triều đại, có những con người cụ thể từ hàng vua chúa cho đến một người nông dân. Có người được lịch sử ghi chép, có người được các thần phả và thần tích viết lại và cũng có người được truyền khẩu. Những lịch sử đời thường ấy, cách này hay cách khác được truyền lại cho hậu thế. Ai cũng có thể trở nên thánh, nếu cuộc sống của họ nên mối phúc cho làng hay dân tộc mà chính người ấy đang sống. Thần linh Đất Việt cũng không loại trừ những thần linh có nguồn gốc từ dân tộc khác, không có kỳ thị chủng tộc trong ý niệm Thần Thánh của dân gian. Thần thánh được phân biệt nhưng không chịu sự tách biệt.
Phần 1: Quan niệm thần và thánh.
I Thần và Thánh của Đất Việt.
1. Ý niệm Thần và Thánh.
Đất Việt phôi thai trong nền văn hóa nông nghiệp mang tính suy tư tổng hợp và thực tiễn. Thần linh có tính chất huyền thọai nhưng cụ thể, không nặng về siêu hình, có những con người cụ thể và có những đền miếu nhất định để tôn kính. Có Đền, có miếu nên phải có thần tích mà lưu truyền, mở hội. Những nơi không có thần tích thì cố vẽ lên, không viết được thì nhờ người giỏi chữ viết chế tác. Không có tích thì dân không tin, không thấy thần ấy là của mình. Nếu có dịp đi từ Bắc chí Nam, một điều được ghi nhận là chưa có nơi nào mà đền miếu nhiều đến như thế. Từ ngôi đền lớn đến những mái am nhỏ ở đâu cũng nghi ngút nhang khói tưởng nhớ, mang tình tự của một dân tộc trong chén nước mát trong; biểu lộ sự chân chất, mộc mạc trong cánh bông Trang đồng nội. Từ những mái am ngôi đền ấy, người ta gặp một hồn của một dân tộc trọng nghĩa, trọng tình, uống nước nhớ nguồn… bao giờ cũng còn là một tâm tình quan trọng trong đời sống.
Ý niệm thánh trong dân gian : “thường phải là những thần - người hoàn thiện, hoàn mỹ, là chỗ dựa tinh thần cho dân chúng”.
Thần có nguồn gốc Trời, có khi là thiên thần, Thuỷ thần, Sơn thần, Long thần, Thần cây, Thần đá, Thần đất. Thần ở đây không bàng quan trước thảm cảnh của dân chúng rõ nhất là trước hoạ xâm lăng. Trước hiểm hoạ ấy, Thần có thể hoá thân thành những con người cụ thể để cứu vớt, đánh đuổi ngoại xâm. Khi yên bình Đất Nước các Thần ấy lại bay về trời, chứ không ở để hưởng lạc trong thái bình. Quan niệm Thần cao cả ở đặc điểm này, và ở đây cũng biểu lộ lòng cao thượng của hồn Việt “cho đi không đợi đền đáp”. Thần không phải là những chuyện hoàn toàn hoang đướng, thường các chuyện về Thần lại xuất phát từ trong cuộc sống thường ngày, phác hoạ lại nguồn gốc của con người và ý nghĩa của cuộc sống con người.
Nguồn gốc Rồng cháu Tiên khởi đi từ nền văn hoá sông nước, Rồng là vật tổ của người Việt, rồng được hình tượng hoá từ giao long, mà người Việt xưa hay xâm trên mình khi xuống nước, họ sinh sống bằng nghề săn bắt thuỷ sản. Thánh là những thần giúp cho con người sống trong cơ cực có những cơ may thành tựu đạt được ước mong hạnh phúc. Trong một đất nước nông nghiệp, người dân sống nhờ nhiều vào thiên nhiên, cuộc sống nhiều cơ cực, loạn lạc và chiến tranh, quan niệm chữ thánh cũng đơn giản như trong cuộc đời của họ. Quan niệm về chữ Thần và Thánh có khi ở trong nhau, đan quyện vào nhau, không tách biệt nhau, có thể tìm hiểu qua các tích được ghi chép trong những ngôi đền và những câu truyện truyền khẩu quanh những mái am.
2. Thần mang thân người.
Nguồn gốc thần linh không xa lạ với con người, có khi hiện thân là cây đa, viên đá, luỹ tre, dòng sông, ngọn núi, ngọn lửa, rồng, rùa…hoá thân, đầu thai trong kiếp con người, và có gốc thần linh. Những thần linh trợ giúp người phàm trong những cơn nguy khốn, dạy cho dân điều này điều kia. Các thần lành cũng có những thần dữ nhưng cốt yếu cũng để răn đe người người tránh xa việc xấu mà làm việc tốt.
Năm vị Thần Đời Vua Hùng.
Chuyện kể rằng ở xã Cử Dương, huyện Thường Phúc, phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam có một vị quan trường là Hùng Liên, được Vua Hùng phong làm trấn thủ Sơn Nam, vợ là Tạ Thị Loan người ở châu Bảo Lạc. Hùng Liên 60 tuổi, vợ 40 tuổi mà chưa có con. Sau khi lễ Phật cầu tự, đêm đó ông bà nằm câu mộng trước hương án, nằm mơ thấy con rồng vàng diễu quanh phu nhân ba vòng, bà hoảng hốt tỉnh dậy kể cho chồng nghe. Ông biết rằng đó là điềm lành, dâng lễ tạ Phật. khi trở về bên bến sông Kim Ngưu, bãi Xích Đằng nghỉ chân, bà lội xuống dưới sông tắm, đang tắm thấy có con giao Long phun vào mình bà một thứ dầu thơm kỳ lạ. Bà thuật lại cho ông nghe, và ông biết rằng thuỷ thần sẽ sinh ra từ con của bà. Ba ngày sau bà thấy chuyển mình, rồi cưu mang đến 11 tháng, giờ Dần mùng 10 tháng 3 năm Giáp Tý, bà sanh ra 2 người con trai tướng mạo kỳ lạ: sau lưng có nhị thập bát tú nổi lên như vảy cá chép. Ông Hùng Liên thuật lại cho Vua Hùng nghe, Vua Hùng cũng nhận thấy sự lạ đặt tên cho ông thứ nhất là Minh lang, ông thứ 2 là Sát Hải. tặng cho đất Đổng Lý làm nơi thờ phụng sau này. Hai ông lớn lên học rất mau, tinh thông hơn người, giỏi văn võ. Năm ấy có lụt hồng thuỷ, hai ông được vua Hùng sai đi trị thuỷ. Đến Đổng Lý, đêm đó hai ông mơ đánh nhau với 3 viên tướng thuỷ tề. Tỉnh cơn mơ, hai ông thấy 3 con giảo long bị chém chết trôi trên sông, thế là nước rút, trả lại đời sống yên lành cho dân chúng. Hai ông ra về được phong cho trị nhậm đạo Sơn Tây. Làng Đồng Lý có một người tên là Lê Huân và vợ là Trương Thị Hoan, làm nghê trồng dâu chăn tằm. Một hôm bà ngủ thiếp bên nương dâu, nằm mơ thấy có 3 người con gái đến nằm chung với bà, nói:”chúng con là con gái vua Long Vương ở thuỷ cung xin đầu thai làm con họ Lê”. Sau một tháng bà có thai, đến 15 tháng 8 sanh một bọc có 3 cô con gái. Bà đặt tên cho 3 cô là Quế Hoa, Quỳnh Hoa và Mai Hoa. Mười sáu tuổi, ba cô đẹp như tiên, nữ công không thể chê trách, chỉ có điều ba cô không nói. Một hôm hai ông tuần du đến đây, thấy 3 người con gái đẹp, mới lân la hỏi lai lịch, và gọi cô Mai Hoa đến hỏi: “người ta sinh ra có miệng, có lưỡi, tại sao mà chẳng nói chẳng rằng”. Ba cô liền vụt nói: “ Từ nơi thuỷ phủ giang trần, có mồm còn đợi cố nhân tỏ bày. Mong nhau mười sáu năm nay, gặp chàng mới biết có ngày mai sau”.
Hai ông nghe nói liền tuyên bố với mọi người : “Kiếp trước chúng tôi là con vua Thuỷ tề Long Vương, ba cô này là vợ của chúng tôi”. Hai cô quế Hoa và Quỳnh Hoa gả cho Minh Quân, còn cô Mai Hoa gả cho Sát Hải Công. Sau ba năm trị nhậm sở Sơn Tây có giặc Phương Bắc kéo đến, Vua Hùng, lập tế đàn cầu trời, sau ba ngày ba đêm, mưa kéo đến, xuất hiện một ông lão cao hơn chín trượng, Vua Hùng thân hành ra đón vào Đàn tràng và hỏi:”nay có giặc ở phương Bắc đến xâm lược, được thua ra sao, xin cụ chỉ giáo”. Cụ già gieo quẻ và nói : Nếu tìm được người này thì giặc này chẳng đáng kể chi”. Sau đó Vua Hùng cho tìm được Phù Đổng Thiên Vương ra giúp nước. Vua Hùng sai hai ông cùng các vị thần núi thần sông đem 12 vạn quân trợ chiến. Hai ông cùng thiên vương chém được Thạch Linh thần tướng ở chân núi Võ Linh, quân giặc thua tan đàn. Thiên Vương phóng ngựa về núi Sóc Sơn, cởi chiến bào và bay về trời. còn hai ông về tới Đồng Lý, gío lốc nổi lên và hai ông trong cơn gió ấy cũng về trời cùng với những người vợ của mình. Sau gió tạnh người ta không gặp hai ông và ba cô nữa, dân làng lập Đền thờ các vị.
Cấu trúc của các câu truyện thần có một lược đồ chung:
Xuất thân: Từ một gia đình phúc hậu nhưng hiếm con, vào một thời điểm lịch sử giặc ngoại xâm hoành hành.
Đầu thai: qua một giấc mộng của bà mẹ tắm dưới ao, giao long cuốn hay phun ngọc, dẫm vào vết chân lạ, sao sa vào bụng, hiện thân về xin làm con…
Thời gian mang thai và sinh hạ: Dài ngày hơn bình thường và sinh ra một bọc mấy đứa hoặc trứng…
Thời thơ ấu của thần: Thông minh, tuấn tú, kiều diễm, nết na, có nhiều hiện tượng lạ khác người, không nói, lớn như thổi…
Sự nghiệp: Giúp vua đánh đuổi ngoại xâm, giúp dân làng khỏi những tai ương, khai làng, lập ấp, chỉ giáo cho dân một nghề nghiệp sinh kế…
Hành trạng: Có phép thần thông, khoẻ hơn người, đi như gió như mây, lúc ẩn lúc hiện…
Ngày Mất: khi hoàn thành sứ vụ các vị thần biến mất. Gọi là ngày hoá: Bay về trời trong một cơn lốc, biến hình hoá thân thành rắn, thành con vật thiêng…
Các cốt truyện về thần đều có những nội dung tương tự như thế, khát mong của con người là hạnh phúc, thái bình; cũng vậy, một tâm tính cao thượng người Việt được biểu lộ là trọng sự hài hoà, an bình, biết quên đi chính mình, trong các cốt truyện, kết thúc sứ mạng các vị thần tự biến mất.
3. Thánh là những người có công dựng nước.
Hiếu đạo bắt nguồn từ một tâm tình nhớ ơn sâu xa của người Việt. Thưở sơ khai, tâm thức nhớ ơn này được thần thánh hoá một cách rất thực tiễn bằng những câu chuyện cụ thể. Dĩ nhiên, trong mỗi cốt truyện không hoàn toàn được hiểu theo nghĩa mặt chữ, nhưng còn được hiểu là bức thư tín của người trước gửi người sau một sứ điệp cốt lõi quan trọng. Đọc những trang sử như vậy, không chỉ đọc dưới nhãn quan của nhà sử học nhưng còn được nhìn bằng nhiều góc cạnh khác để tìm ra sứ điếp trọng yếu cho từng giai đoạn lịch sử.
Đền Kinh Dương Vương.
Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc long Quân, Lạc Long Quân kết duyên cùng Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm con trai, năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển. Kinh Dương Vương có công khai sáng và công lao ấy được ghi nhận và tưởng nhớ trong ngôi Đền Kinh Dương Vương ở thôn Á Lữ, xã Đại Đông Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc ninh. Lăng và Đền được xây dựng rất lâu đời, không rõ năm, chỉ biết được năm trùng tu và đặt văn bia, triều Minh Mệnh, năm thứ 21 (1840).
Thần phả Đình Á Lữ có chép về đức độ của Kinh Dương Vương : “Kể từ khi Kinh Dương Vương, họ Hồng Bàng nối dõi Thần Nông, huý lời con gái vua Động Đình, sáng rỡ đạo vợ chồng, theo đúng người phong hoá, vua thì lấy đức cảm hoá dân, rủ áo khoanh tay, dân thì cầy ruộng, làm rẫy ra ngoài làm lụng, trở về thì nghỉ ngơi, chả phải là phong tục thái cổ của Viêm Đế ư”. Thần phả cho hay một điều cốt lõi: Người làm trên lấy đức mà cai dân, thì dân ấy được hưởng nhờ cảnh thái bình, yên ổn làm ăn, dẫu có cực khổ vẫn có lúc an nhàn nghỉ ngơi. Người Việt trọng Đức và cũng trọng Tài. Người thánh là người cả Đức và cả Tài đều song toàn. Thánh nhân hơn người ở đặc điểm ấy. Nếu Tài Đức song toàn, sử không ghi chép thì lòng người cũng ghi chép cho ngàn năm sau lấy đó làm gương.
Thần phả Đền Kinh Dương Vương tại Dình Á Lữ, còn ghi chép:
“Lạc Long Quân nối đời vì Hồng Bàng lấy con gái họ Âu Lạc mà có điềm lành sinh 100 con trai, tổ của người Bách Việt thực chất bắt đầu từ ấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đã giấu thọ lại nhiều con trai từ xưa đến nay chưa từng có, Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban tước họ để vỗ yên dân”.
Thánh là những người được có hậu duệ nối dõi tông đường phúc đức, được lâu dài và trường tồn. Những triều đại an dân, phúc thịnh đều được ghi nhớ và truyền tụng. Việt Nam phôi thai trong khung cảnh thái hoà như thế, con cháu sống trong hiếu đạo cố công mà gìn giữ.
Đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương:
Thần tích có khi cũng nhằm giải thích sự kiện: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tinh thần của người Việt là hài hoà, sự hài hoà giữa các sắc tộc có chung một riềng mối, cùng một gốc tổ, cùng một gia phả con rồng cháu tiên.
Thần phả ghi lại: Lạc Long Quân cho mình là loài ở nước giống Rồng không ở mãi với Âu Cơ là giống Tiên, liền chia, cha dẫn 50 con xuống trị nhậm các vùng sông bể, đầm lầy vào tới tận Hoan Châu (Nghệ An), Bà Âu Cơ đi ngược sông Hồng lên núi đi tới vùng Hiền Lương (Xã Hiền Lương, huyện Sông Thao), thì nghỉ chân. Bà thấy ở đây đất tốt, người thưa mới lưu các con lại, dạy dân lấy lửa đốt núi mà trồng lúa, các bãi ven sông Hồng thì trồng mía trồng dâu. Bà Âu Cơ còn dạy dân đào giếng lấy nước, không ăn nước sông, nước suối, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, ép mía nấu đường, làm bánh từ bột nhào với nước mía, chưng trên nồi chõ, gọi là bánh Uôi. Khi dân Hiền lương biết trồng lúa, trồng dâu dệt lụa, làm bánh, Âu cơ để lại ở đó một người con, rồi ngược sông Thao đi lên phía Bắc. Khi bà Âu Cơ mất người ta dựng một ngôi Đền để nhớ công ơn của Ba, Đây là ngôi Đền Mẫu đầu tiên trên đâ1t Việt. bà cũng là Mẫu sớm nhất của người Việt cổ, vì bà sinh ra các vua Hùng những ông vua đầu tiên khai sinh ra đất Việt. Mẫu Âu cơ tượng trưng Đất Mẹ và là người gốc tiên ở trên núi, Lạc Long Quân gốc Rồng nên trị vì miền nước. theo quy luật âm dương thì ở đây có sự giao thoa theo cách người Việt : “trong âm có dương và trong dương có âm”. Cha Rồng là dương ở vùng sông nước, mang sắc thái âm. Mẹ Âu cơ tượng trưng đất Mẹ là âm nhưng lại cư ngụ trên núi mang sắc thái dương. Trong Đền Miếu nào ta cũng thấy sự hài hoà giữa âm dương này, đây là sự biểu lộ tính cách ưa thích sự hài hoà, dễ chấp nhận, trọng sự an bình, trọng sự hoà hợp giữa người và người, giữa người và vạn vật cũng như giữa người và thần linh của người Việt trong nhiều khía cạnh của cuộc sống.
Đền Vua Hùng:
Vị trí Đền Vua Hùng, đặt trên núi Nghĩa Lĩnh, rừng Hy Cương, thôn Cổ Tích, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ( VĨnh Phú).
Tích xưa đất Việt kể lại trong nhiều sử sách, hơn 2000 năm cơ đồ an bình, hưng thịnh, trải qua 18 đời vua Hùng, tổ tiên Bách Việt. Truyền đến 5 đời thì đến Chiêu Vương, vị vua có tiếng tài đức song toàn, tôn kính thần linh, đóng đô ở Việt Trì sông Bạch Hạc, đặt quốc hiệu là nước Văn Lang, thủ đô là thành Phong Châu. vị trí Đền Vua Hùng, đặt trên núi Nghĩa Linh, nhìn về phía Đông là dãy núi Tam Đảo thuộc hai tỉnh Vĩnh Yên và Thái Nguyên. về phía Nam là dãy núi Cánh Phượng, là núi Ba Vì hay còn gọi là Tản Viên, thuộc tỉnh Sơn Tây, quê hương Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu). Ngọn núi Ba Vì và núi Tam Đảo nằm hẳn trong sương như thực như ảo, giữa hai dãy núi hai dòng sông cuộn chảy là sông Lô và Sông Thao, gặp nhau ở Bạch hạc, cố đô Phong Châu.
Cấu trúc của Đền Vua Hùng là một cấu trúc biểu lộ tâm hồn tôn giáo của Đất Việt, một cách điển hình, mỗi công trình đặt để một huyền nhiệm của dòng lịch sử chảy trôi, người đến viếng nơi đây đều có một cảm nghĩ, nối thực tại với người xưa. L. Cadière có lần nhận xét: “phải thừa nhận rằng người Việt nói cho đúng sống trong thế giới siêu nhiên. Đại thể thì người Châu Âu khó mà hiểu được trạng thái siêu nhiên này, nơi người Châu Âu tôn giáo đôi khi chỉ là một vài tin tưởng, một vài thực hành, thường chi phối họ trong một khoảng không gian hay khoảng thời gian trong một ngày sống, một phần nhỏ trong hoạt động. Người Châu Âu vốn sùng đạo, nhưng thường vẫn không sống thường xuyên với Thượng Đế của mình. Người Việt thì không thế, ngoại trừ một số người hấp thụ nền văn minh tân tiến, dù ở giai cấp nào đều cảm thấy mình đang sống chung với thần thánh trong thiên nhiên, những thần thánh luôn hoạt động với loài người và đảm bảo thành quả nỗ lực của con người. Trong sự may rủi xảy đến, nhất là điều rủi, người Việt luôn thấy rằng mọi việc đều biểu lộ sự can thiệp của tổ tiên hay thần thánh”.
Công trình Đền Hùng được cấu trúc thành ba tầng:
Từ cổng Đại Môn người ta sẽ thấy ngay hàng Đại Tự bằng chữ Hán “cao Sơn cảnh Hàng”. dưới chân núi là Đền Lớn. Vượt 225 bậc xi măng, chúng ta sẽ thấy Đền Hạ, nơi mà xa xưa bà Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở ra thành một trăm người con trai. Ý niệm người xưa đông con là có phúc.
vượt lên 168 bậc nữa là Đền Trung, là nơi xưa kia Vua Hùng thường lui tới cùng các lạc tướng để bàn việc nước. cũng nơi này Lang Liêu đã dâng vua cha những chiếc bánh chưng và bánh dây, tượng trưng cho triều đại vuông tròn và cũng tượng trưng cho sự kiện trời đất chứng giám cho lòng thành của người con.
Vượt lên 102 bậc nữa, gặp Đền Thượng, nơi đây ngày xưa vua Hùng cùng các quan thần, lão làng lập tế đàn cầu xin trời đất, cầu xin vị thần nông cho mùa màng tươi tốt. đây cũng là nơi vua Hùng thứ 6 lập Đền thờ Thánh Gióng, sau khi đánh đuổi giặc Ân, cạnh ngôi Đền có ngôi làng nhỏ và ngôi mộ cổ kính là Mộ Tổ. trước Đền chếch về bên trái có cột đá cao trên 100 mét, đường kính khoảng 30 cm, theo truyền thuyết là cột đá thề. Tục kể rằng An Dương Vương khi lên ngôi vua đã thề gìn giữ giang sơn của vua Hùng trước vong linh tiên tổ.
Từ Đền Thượng nếu phóng tầm mắt nhìn ra xa, có thể thấy 99 ngọn núi lớn nhỏ, hình dáng giống như bầy voi quỳ hướng về núi Mẹ, riêng một con bị mất đầu vì “ăn ở ra lòng tư riêng”, mãi mãi bị tách lìa bầy đàn. Đây cũng là bài học từ ngàn xưa để lại “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết.
Thiết tưởng vùng đất này đã trở nên vùng đất thiêng thánh của Đất Việt, nơi mà hầu hết những người con Đất Việt đều hướng lòng về khi ngày lễ giỗ tổ “Mùng Mười Tháng Ba”. Gốc của Đạo Hiếu có lẽ cũng là đây, chỉ riêng tỉnh Vĩnh Phú đã có hơn 700 nơi thờ vua Hùng và dòng dõi cùng tướng lĩnh.
Chữ Thần Thánh trong Đền Vua Hùng này, cho thấy:
Lòng ngưỡng mộ tri ân “uống nước nhớ nguồn” lớn lao là vậy, điều đó nhắn nhủ với con cháu gìn giữ lấy Đất Nước này, như cột đá thề đã từng chứng giám An Dương Vương đã tuyên thệ trước vong linh tổ tiên. Phản bội lại lời thề sẽ giống như con voi mất đầu xa bầy riêng lẻ, mãi mãi là kẻ cô độc, không nguyên vẹn hình hài.
4. Thánh là người có công giữ nước.
Rất nhiều những vị vua, tướng lĩnh cũng như quan lính được ghi nhớ vào hàng thần thánh. Không kể nam nhi hay nữ nhi. Dòng lịch sử ghi nhận, Lạc long Quân chinh phục thủy quái, cáo chín đuôi, mộc tinh. Hùng Vương thứ 6 đánh giặc An, An Dương Vương đánh Tần . Triệu Đà, Hai Bà Trưng đánh Đông Hán. Lý Bí Triệu Quang Phục chống Lương, Mai Hắc Đế. Phùng Hưng chống nhà Đường. Ngô Quyền chống Nam Hán. Nhà Lê các vua Lý chống giặc Tống. Trần Nhân Tông chống Nguyên - Mông, Lê Lợi chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Lịch sử không thiếu những bậc vua vì dân vì nước và cũng không thiếu các tướng lĩnh giúp vua như : Phù Đổng Thiên Vương thời Vua Hùng thứ 6, Lý ông Trọng thời An Dương Vương. Thánh Thiên, Bà Lê Chân, Vũ thị Phục thời Hai Bà Trưng, Lý Phục Man thời Lý Nam Đế; Trương Hống, Trương Hát, Triêu chí Thành thời Triệu Việt Vương. Lý Thường kiệt thời Lý, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão thời Trần; Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú thời Lê; Vũ Đình Huấn thời Quang Trung. Ngoài ra còn có các quan văn có nhiều công lao được tôn kính như Tống Trần thời Triệu Việt Vương, Lý Đạo Thành, Tô Hiến Thành thời Lý; Chu Văn An, Nguyễn Biểu thời Trần, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ thời Lê, Ngô Thời Nhậm thời Quang Trung. mỗi thời đều có nhân tố được tôn kính và là tinh hoa của từng triều đại. Không thiếu những thánh nhân trong đời sống.
Trưng Vương.
Làng Hạ Lôi nằm bên trong đê tả ngạn Sông Hồng, thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là Xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Thành Phố Hà Nội. Theo thần phả của làng Hạ Lôi, trươc đây làng có tên là Cổ Lôi trang, là làng của người Việt Cổ. Hai Bà Trưng, sinh ra trên mảnh đất này, ở Xóm Đường, trang Cổ Lôi. Cha là Lạc tướng của Mê Linh, danh tánh là Hùng Định, mẹ là Trần thị Đoan. Hai bà chịu cảnh cha mất sớm, mình bà mẹ ở vậy nuôi con, bà mẹ là người có tài và trọng đức, bà đã giáo dục hai con của mình theo tinh thần thượng võ, đức hậu.
Trưng Trắc lớn lên là người tài sắc, bà kết duyên cùng Thi Sách, con trai của Lạc tướng Chu Diên.
Hoàn cảnh đất nước thời bấy giờ chịu sự lệ thuộc vào nhà Đông Hán, từ năm Kiến Vũ thứ 10 (Nhà Hán), Tô Định làm quan thái thú Giao Chỉ. Mã Viện có lần còn nói thật về con người của Tô Định: “Tô Định giương mắt lên vì tiền”. Không sai, người Trung Hoa muốn xoá sổ dân tộc Việt Nam, xoá bỏ tên gọi, sát nhập thành một quận của Trung Hoa, gọi là quận Giao Chỉ. Nỗi nhục vì mất nước, nỗi khổ vì trở thành thuộc địa, cái đau của những con người bị áp bức đã khiến nhiều nơi nảy lên những cuộc đấu tranh. Máu của người Việt đã đổ khắp nơi. Thi sách chồng bà Trưng Trắc cùng với em trai mình là Thi Huy và nhiều người khác cùng chuẩn bị khởi nghĩa. Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị cũng giúp chồng tuyển quân, chuẩn bị binh lương. Công việc bị lộ, Thi Sách, Thi Huy và nhiều người trong cuộc khởi nghĩa bị giết chết.
Đứng trước thảm cảnh đó, tháng 2 năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở sông Hát. Nghe tiếng Hai Bà Trưng khởi nghĩa, nhiều tướng lĩnh ở những cuộc khởi nghĩa âm ỉ khắp nơi, tuôn về đứng dưới lá cờ chiến đấu của Hai Bà. Ở Hưng yên có Trần Thị Mã Châu, xã Quảng Châu (Tiên Lữ), Trần Lữ ở trang Đào Đầu (Tiên LỮ), Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Hải Dương, Lê Chân ở Hải Phòng, Đỗ Năng Tế ở Hà Đông - Sơn Tây, Lê Thị Hoa ở Thanh Hoá, Thiều Hoa, Vũ Thị Thục ở Phú Thọ…Hai Bà Lập đàn thề ở Hát Môn tế cáo trời đất lời thề: “Một xin rửa sạch nước nhà, Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba, kẻo oan ức lòng chồng. Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này. Sau lễ tế, từ sông Hát những chiến sĩ lên đường đánh tan những thành trì của giặc. Tại thành Luy Lâu của Tô Định đóng quân, Tô Định đã bỏ cả ấn tín, vàng bạc, vặt râu, thay áo, chui qua lỗ chó, bỏ chạy thoát thân mà về Nam Hải (Quảng Đông). Dẹp xong giặc bà Trưng Trắc lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh, xá thuế cho dân trong 2 năm, cắt cử các tướng quân đi chiếm lĩnh các thành trì. về cuộc khởi nghĩa này, sử gia Lê văn Hưu, thế kỷ thứ XIII viết : “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà hô một tiếng mà cả Cừu Chân, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Nam đều hưởng ư1ng. bà dựng nươ1c, xưng vương dễ như trở bàn tay. Như thế thì thấy hình thế đất Việt ta có thể được cơ nghiệp bá vương”. chẳng những chính sử đã ghi chép mà cón thấy lịch sử Trung Hoa cũng nói tới người nữ anh hùng này.
Hán Quan Vũ không cam phận chịu mang nỗi nhục thua dài trước nữ nhi của đất Việt, đã hạ lệnh cho các quận huyện ở Hoa Nam sắm sửa thuyền bè khí giới, xe cộ, xua quân vào tái chiếm Giao Chỉ. Hán Vương phong cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, đem 20.000 quân, 2.000 chiến thuyền sang đánh. Mã Viện theo đường Lạng Sơn đã bị nữ tướng Thánh Thiên và các tướng khác đánh cho đại bại, chạy về Trung Quốc. Từ Hợp Phố qua Khâm Châu, Phòng Thành vượt biên giới tới Đông Hưng (Trung Quốc). từ đây Mã Viện chia thành hai cánh quân thuỷ và bộ rồi vượt sông Ka Long sang Móng Cái, Tiên Yên, Hòn Gai rồi theo đường bộ và đường biển vào sông Bạch Đằng hợp đầu quân Ở Lục Đầu Giang, Phả Lại.
Hai Bà Trưng lập phòng tuyến ở Lãng Bạc, một vùng đất trũng giữa hai bờ sông Cầu từ Đông Triều đến Yên Phong. trận đánh dữ dội, quân của Hai Bà chết khoảng 10.000 quân, cuộc chiến kéo dai gần một năm thì quân Hai Bà tan rã. Bà Trưng Vương bị tử thương, các tướng sĩ quyết đánh giải vây đem xác Bà về an táng tại khu vực Đền Hùng.
Voi của Trưng Nhị cũng bị quân giặc đâm chết. trước tình thế nguy biến không để giặc bắt làm nhục bà Trưng Nhị đã gieo mình xuông sông Cẩm Khê tự tử. dân chúng ở ven sông Nguyệt Đức vớt được giải yếm, giải áo của bà Trưng Nhị lập miếu thờ bà ở Xuân Đài, miếu Gia Phú, làng Cẩm Viên xưa có hai mộ Ông Voi.
Dân chúng tại quê Hai Bà ở Hạ Lôi lập Đền thờ trên nền nhà cũ của Hai Bà. Hình thế của đất Đền mang hình chim Diều Hâu đang dang cánh, tương truyền được xây dưng từ thời Đinh Tiên Hoàng.
Người Việt tin rằng bao lâu còn Đền miếu thờ các anh hùng bấy lâu Đất Nước còn. Và lịch sử đã minh chứng cho niềm tin ấy.
Bà Lê Chân.
Một nữ tướng xuất thân từ làng An Biên, (nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), con của cụ Lê Thái Bảo, không chịu cúi đầu làm tỳ thiếp cho Tô Định, đã bỏ trốn ra cửa biển (Hải Phòng), khai hoang, lập trại, lấy An Biên quê bà đặt tên cho trại. bà thu hút nhiều người tài giỏi, xây dựng trại An Biên thành căn cứ quân sự và cũng là nơi sản xuất nhiều lúa gạo, cá mắm…đóng chiến thuyền.
Giặc Đông Hán thấy có nhiều tin loan truyền về trại An Biên, nên cho quân đi do thám và bao vây. nữ tướng Lê Chân trong tình thế ấy phát lệnh khởi nghĩa. giặc rất sợ uy danh của bà, và gọi bà là: “Con cá Kình biển Đông”. Mùa Xuân năm 40, Bà Lê Chân đem quân ra cùng với Hai Bà Trưng đánh chiếm nhiều thành luỹ của giặc. tại Luy Lâu, quân của Bà Lê Chân hợp lực cùng quân của Hai Bà Trưng đánh tan Tô Định. Sau trận đánh này, Hai Bà Trưng phong cho bà lê Chân làm chức “Chưởng quản binh quyền nội bộ” và giữ trại An Biên làm nơi trấn thủ vùng biển.
Thua Mã Viện bà Trưng tử trận ở sông Hát, Bà Trưng Nhị tuẫn tiết ở sông Cẩm Khê, Bà lê Chân rút quân về Lạt Sơn, là vùng núi non hieểm trở, bà đã lấp suối, ngăn sông, chặn đánh thuỷ quân giặc Hán. Sau khi đánh bại các tướng lĩnh khác Mã Viên tập trung quân bao vây căn cứ Lạt Sơn. Trong trận huyết chiến ngày 25 tháng chạp năm 43, bà Lê Chân đã hy sinh.
Nghe tin Bà tử trận, dân chúng tại trại An Biên lập bài vị, miếu thờ. Ban đầu miếu là mái tranh mãi đến năm 1919 mới xây dựng thành Ngôi Đền Nghè lớn như ngày nay.
hằng năm dân chúng mở Hội 3 ngày:
Ngày 8 - 2 là ngày sinh.
Ngày 15 - 8 là ngày thắng lớn.
Ngày 25 - 12 là ngày hy sinh.
Thái Uý Lý Thường Kiệt.
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm 10119, quê phường Thái Hoà, Thành Thăng long. Là một con người chí khí, say sưa thánh hiền. Triều Lý Thái Tôn ông được phong chức Hoàng Môn Chi hậu, mấy lần được thăng chức Đô tri ở Nội Sảnh, Lý Thánh Tông phong cho ông làm Thái Bảo, trao cho Tiết Việt. năm Thiên Hướng Bảo Tượng thứ 2 (1059) trước việc Nhà Tống viện trợ cho vua Chế Củ, vua nước Chămpa để đưa quân sang đánh miền Nam nước Đại Việt, và quân Tống đánh phía Bắc. Trong tình hình đó, Lý Thường Kiệt cùng vua Lý Thánh Tông đem quân đi đánh Chămpa để dẹp tan thế liên minh đó, bắt được Chế Củ vua nước Chămpa, Chế Củ phải cắt ba đất: Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) cho nhà Lý.
Do công lao ông được phong là Phụ quốc Thái Phó và nhận chức Tiê1t Độ cho các trấn xa, đồng trung thư môn hạ, Thiên Tử Nghĩa Đệ Phụ Quốc Thượng Tướng quân, Khai quốc Công.
Năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, Lý Nhân Tông mới 7 tuổi lên thay, vua Tống coi đó là thời cơ đánh Đại Việt. Vua Tống tập trung quân đánh ở 3 châu :Ung, Khâm liêm để xâm lược Đại Việt. LýThường Kiệt chủ trương tấn công giặc trước. Kế sách của Lý Thường kiệt là dương Đông kích Tây.cuối táhng 9 năm Ất Mão (10- 1075) Tồng Đản vượt biên giới đánh phá năm liên trại. Lý Thường kiệt chỉ huy 60.000 quân vướt biển đánh vào Nhà Tống. Lý Thường kiệt chia quân thành hai cánh đánh Khâm Châu và liêm Châu. tướng Tông là Trần Vĩnh Thái phải xin hàng, tướng Lỗ Khánh Tồn ở Liêm Châu bị hạ. ngày 4 táhng giêng năm Bính Thì (11 - 2 -1076, quân ta bắtđược trên 10.000 binh sĩ Nhà Tống, Trương Thủ Tiết chỉ huy cánh quân này bị giết chết. Ngày 1 tháng 3 năm 1076, sau 41 ngày Đại Việt hạ được thành Ung Châu. biết quân Tống sẽ có âm mưu xâm lược trở lại, Lý Thường Kiệt cho quân đi do thám, biết rõ quân Tống sẽ đưa 10.000 bộ binh, 1.000 ngựa và 20.000 dân phu. cuối năm 1076 quân Tống tràn vào Nước ta, trấn thủ ở dọc sông Cầu không cản ổi quân Tống, Quách Quý tướng của nhà Tống cho bắc cấu phao vượt sông để chọc thủng phòng tuyến Sông Như Nguyệt, một cánh quân đã tiến về Thăng Long, Lý Thường Kiệt tổ chức phản công, quân Tống bị thiệt hại nặng, rút chạy về phía Bắc sông Cầu. Hai Hòng Tử Hoàng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiến thuyền đánh sang bờ Bắc đều bị hy sinh. Lý Thường Kiệt dẫn đại quân đánh thốc sang bờ, quân Tống đại bại. giữa lúc đánh tại trại giặc thì từ Đền Trương Hống, Trương Hát ở bờ Nam sông Như Nguyệt, dòng thơ thần được ngâm lên : “Nam quốc Sơn hà, Nam Đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Như đẳng hành khan thủ bại hư”.
Sau khi giặc Tống tan, năm đầu Long Phù (1101) ông được thăng lên chức nội thị phán thủ đô áp nha, coi tất cả công việc trong ngoài điện. Ông còn dẹp yên loạn Lý Giác, và giặc Chiêm, sau đó năm thứ 5, ông mất, được tặng nhập nội điện đô tri kiểm hiệu Thái Uý, bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc Công và thực ấp vạn hộ.
Lý Thường kiệt được dân chúng yêu mến nhờ tài binh thao và chí khí kiên cường, đứng đầu các tước hầu. Ông được phong thần và dân chúng lập Đền thờ ở quận Đống Đa, Hà Nội.
5. Thánh những người chân đất.
Hai cuốn sách ghi chép những sự tích có tính truyền thuyết nhất là cuốn “Lĩnh Nam chích quái” và cuốn “Việt Điện u linh”, có thể tìm thấy những dấu vết của các thành hoàng. Ngoài ra, những thần tích, phần lớn do Nguyễn Bính (Thế kỷ 16) và Nguyễn Hiền (Thế kỷ 18) soạn, nhưng dân chúng vẫn cứ thành kính tin rằng đó là sự thật - một sự thật không có trong thực tế nhưng có trong tâm linh. Những thần tích được Nguyễn Bính soạn thảo được nhà vua phê chuẩn và gửi về cho các làng và các làng khi đón nhận về thì mở hội và đưa vào Đền Miếu của mình. Ngoài những thần tích của Nguyễn Bính và Nguyễn Hiền biên soạn, một công lao khác nữa cũng cần được nhắc tới, đó là những người trí thức ẩn mình sau luỹ tre làng, âm thầm chế tác. Thần tích xét về mặt tâm linh có những ảnh hưởng nhất định của nó trong đời sống dân chúng, đó là phác hoạ con đường hướng thiện cho nhiều người đi theo, phản ảnh cái đẹp trong cuộc sống từ trong suy nghĩ đến hành động.
Thánh có khi là những người nông dân, không có sắc phong của triều đình, không có chiến công hiển hách chống ngoại xâm hay lập làng lập nước. Họ là những người chân đất thật sự, không có gì ngoài cuộc sống bình dị của họ, thuỷ chung và sống thiện và trở nên thấn thánh. Dân gian lại tin rằng những người bình thường, càng tầm thường khi hiển thánh lại càng thiêng.
Vợ chàng Trương.
Xưa ở Huyện Nam Sang thuộc tỉnh Hà Nội, nay là thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, Huyện Lý Nhân, tỉnh hà Nam có người con gái tên là Vũ Thị Thiết có nhan sắc nết na, lấy người chồng cùng làng tên là Trương Sinh. Tính người ấy hay nghi hoặc, nàng thấy chồng như thế càng giữ gìn ý tứ. Vợ chồng lấy nhau chưa được bao lâu nàng ấy có thai, chưa được bao lâu thì chồng đi lính đánh giặc Chiêm. . sau đó nàng sinh được một người con trai đặt tên là Trương Đản, nuôi con lớn khôn đến khi bập bẹ biêt nói, Đản thường hay hỏi: “Bố đâu?”. Nàng chẳng biết thế nào giải thích cho con hiểu là bố đi lính, nàng chỉ vào bóng của mình trên vách và nói: “Bố con đấy”. Chú bé tin điều ấy là thật nên mỗi tối khi thắp đèn lên, Đản lại ra mon men chơi với bố.
Vài năm sau tan giặc Chiêm, Trương Sinh được giải ngũ về nhà, Trương Sinh muốn ẵm con ra nghĩa trang viếng mộ mẹ, đứa bé dãy nảy lên không nhận Trương Sinh là người cha nó, nó nói: “Không phải bố, đến tối bố mới về!” Trương Sinh hỏi kỹ hơn, đứa bé trả lời:”Bố tôi không biết nói, ông không phải là bố tôi”. Trương Sinh hỏi đứa con hình dạng người bố ra sao, đứa trẻ trả lời: “Đêm nào cũng thấy bố tôi về, mẹ tôi đi thì bố cũng đi, mẹ tôi ngồi, bố tôi cũng ngồi, mẹ tôi đứng, bố tôi cũng đứng”. Trương Sinh nghi ngờ vợ trong khi mình vắng nhà đã ngoại tình với người khác, vợ thanh minh sao cũng không chịu và cả hàng xóm khuyên thế nào chàng Trương cũng không nghe. uất ức cho tình ngay mà lý không ngay, vợ chàng Trương nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vận. Đến tối chàng Trương về nhà, thì đứa con chỉ vào vách tường reo lên : “Bố tôi đến kìa”. Chợt tỉnh chàng Trương đã hiểu trong những ngày chàng đi vắng vợ mình thường chỉ vào vách tường theo bóng của mình mà nói với con là bố của nó. Ân hận cho việc cố chấp hiểu sai về vợ mình, chàng lập đàn giải oan cho vợ bên bờ sông Hoàng Giang. Sau 3 ngày 3 đêm, chàng bỗng thấy 90 cỗ xe, cờ quạt rợp bóng nổi lên giữa sông, có nàng thiếu phụ nói rằng: “Giã ơn chàng có lòng giải oan cho tôi, nhưng mà đấng thượng đế thương tôi là người tiết nghĩa đã cho tôi ở trê cung tiên”. Nói dứt thì nàng biến mất. dân chúng thương nhớ người thiếu phụ tiết nghĩa, thuỷ chung vì hiểu lầm mà chết oan, nên lập miếu thờ bên bờ sông Hồng ấy. quanh năm có nhiều người đến miếu thắp nhang tưởng nhớ.
Qua các tích phong thần, người ta thấy chung có những giá trị riêng biệt truyền thống được duy trì qua những nhân vật thật hoặc không thật:
II Thành Hoàng một tín ngưỡng.
Ý nghĩa của từ ngữ: Thành Hoàng là tên gốc từ Hán Việt: “Thành” là cái thành, “Hoàng” là cái hào đào sâu chung quanh cái thành để bảo vệ cái thành ấy, “thần hoàng” là vị thần coi giữ bảo trì cho làng hay thành. Sử dụng từ ngữ này ở Việt Nam, theo sự kiện gián tiếp là ngôi đình. Sử liệu cho biết, vào thời Trần, các làng đã dựng những ngôi Đình trạm để thờ Phật, nơi dừng chân nghỉ của các khách bộ hành. Năm 1231 Trần Thừa bắt các đình trạm dựng tượng Phật để thờ. Năm 1474, triều đình lại can thiệp vào việc thờ thần của tư nhân lập ra để thờ thần và có ruộng hậu tức là ruộng thờ. Như vậy, có thể suy luận, từ năm 1474, đã có những ngôi đình không còn đặt tượng Phật nữa mà thay vào đó là những vị Thần Hoàng. Theo tác giả Vũ Ngọc Khánh dựa vào tài liệu sử sách xưa cho biết: Từ khoảng thế kỷ thứ 9, nước ta đã có vị thành hoàng đầu tiên, do Cao Biền và Lý Nguyên Hi tôn vinh, hiệu là Đô Phủ thành hoàng thần quân. Chữ thành hoàng có từ đó, và đó là thành hoàng Đại La mà thôi. vị thành hoàng nay có tên là Tô Lịch.
Cộng đồng sinh sống cơ bản của người Việt xưa là làng, xuất hiện do văn hoá nông nghiệp là văn hoá cộng đồng, đồng cảm, đồng mệnh “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” . Đình làng là trung tâm của đời sống cộng đồng làng xã, là nơi hội họp của các hương hào cũng như dân làng, nơi xử kiện, nơi thờ vị thành hoàng, mở lễ hội của làng… Trong mỗi Đình làng đều thờ một vị thành hoàng nào đó của một làng. Không phải làng nào cũng là chiếc nôi sản sinh ra các anh hùng dựng nước và giữ nước, nên đã từng có những hội nghị làng để chọn vị thành hoàng cho làng, hoặc thờ chung một vị thần cho nhiều làng. Có thể kể ra rất nhiều vị thần được thờ chung cho nhiều làng như:Lạc Long Quân, Ỷ Lan, Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thánh Gióng, Thánh Trần… Tuy có sự thờ chung thần nhưng thần tích của mỗi làng lại mỗi khác, tuỳ theo sự thêm thắt cho thêm sắc thái của vị thần làng. Có những nhân vật thần hoàng không có ghi nhận trong lịch sử dân tộc, nhưng cho biết một điều khác mà tâm tình chung muốn diễn tả: Mọi địa phương muốn đóng góp vào việc dựng xây đất nước bằng những tài năng cao quý nhất của làng mình. Điều ấy cho thấy tâm hồn tôn giáo người Việt xưa, là gắn bó với tổ tiên, gắn bó với cội nguồn Đất Mẹ. “Thần hoàng” là những con người lịch sử chiếm đa số và phổ biến nhất ở Đồng bằng Bắc Bộ. Thí dụ, riêng ở Bắc Ninh thống kê được có 600 vị thần hoàng, thì đã có 496 vị là nhân thần có tính cách lịch sử.
Các nhân vật lịch sử được thờ nói lên một bài học yêu nước của dân tộc, trải qua nhiều thế hệ, từ lập nước đến giữ nước, triều đại nào cũng có những anh hùng trên những mảnh đất nhất định. Lòng yêu nước được lưu truyền theo tín ngưỡng thần hoàng là bài học nhắc nhớ lâu bền nhất trải qua thời bình trị cũng như thời chiến.
6. Thần Hoàng có nguồn gốc thiên thần:
“Thiên” có nghĩa là trời, được nhân hoá hay chưa được nhân hoá, có những đặc điểm như:
Thống lĩnh Hào Quang, Tích Lịch Hào Quang (Thần Hào Quang) thờ ở thôn Đông Khê, Pháp Thượng, Thuỵ Ứng thuộc Đan Phượng. có trường hợp các vị thần Hào Quang đã nhập vào lá phướn của Đạo Phật.
Thành Hoàng là Tứ Pháp (Sấm, chớp, mây mưa) được thờ ở nhiêu lưu vực sông Hồng. Có địa phương, thờ Ngũ Lôi, biến dạng từ Tứ Pháp: Nhất Phong, Nhị vũ, Tam vân, Tứ Diện, Ngũ Lôi thờ ở Hạ Kỳ, Nghĩa Hưng (Nam Định).
Thành Hoàng là một số vì sao: Nam Tào, Bắc Thần, thờ ở An Điều - Đan Phượng - Hà Tây, Nữ thần Sao Sa (thôn Duyên Lãng - Trực Ninh, Nam Định) hay Tam Tinh Đại Vương được thờ ở Đinh Nội thôn Đình Xá (Chương Mỹ - Hà Tây).
Các vị tiên, các thần linh trong Đạo giáo, cao nhất có Ngọc Hoàng (Nam Phong, Nam Trực), Tề thiên, Thiên quan Đại Vương (Nam Diện, Nam Dương, Nam Trực) các Thánh Mẫu trong Tam phủ, Tứ phủ, Tứ vị Thánh Vương Mẫu Liễu, Chủ Đồng Tử - Tiên Dung - Tây Sa…
Nhìn chung, người Việt trong khi tiếp xúc với các nền văn hoá có tính dung hợp các tôn giáo, có thời Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo Đồng Quy, đến thời có một tôn giáo hoàn toàn Việt Nam ra đời, tổng hợp từ Phật Giáo và Đạo ông bà làm nên Phật Giáo Hoà Hảo. Đạo Cao Đài là biểu lộ rõ nhất tính tư duy tổng hợp của người Việt Nam, trong đó thờ tất cả những vị thần thánh được hiển dương, hiển thánh.
7. Nguồn gốc của Thần Hoàng:
Thành Hoàng có nguồn gốc nhiên thần: Theo tính chất của văn hoá nông nghiệp, cặp phạm trù cơ bản là Âm - Dương, khởi đi từ vũ trụ luận nguyên sơ của Đông Phương là Sơn - Thuỷ, Đất - Nước, tương khắc và tương sinh, có khía cạnh song đối, con người sống được là nhờ sự hài hoà của trời đất, sông núi này. Thánh nhân là người sống sự hài hoà giữa trời và đất này ở trong mình.
Việc bảo trợ của các vị thần có sơn thần và thuỷ thần: Sơn thần có những vị như: Cao Sơn thần, Cao Sơn Đại Vương, Quý Minh Đại Vương, Cao Sơn Quý Minh, Sơn tinh, Cao Hiểu, Cao Khánh, Miêu sơn Kiều Lộ, Tản Viên thân…Thuỷ thần có những vị như Long Vương, Đại Càn, Tan Giang, Đông Hải Đại Vương, Thuỷ Tề Đại Vương, Trương Hống - Trương Hát được thờ ở 316 đền dọc bờ sông Như Nguyệt, Tổng Hậu… gắn với các vị thuỷ thần thường có những thần mang xác loài vật như : Rắn, Rùa, cá, baba, Rồng…
Thành Hoàng có nguồn gốc Nhân Thần: Nhân vật có lịch sử như Hai bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Công Trứ, Lý Thường kiệt, Nguyễn Trãi…Những vị thần có tính huyền thoại như Vua Hùng, An Dương Vương, cao Lỗ, Triệu Quang Phục, …qua các nhân thần mà các Đình làng thờ kính cho thấy, người Việt rất yêu Nước, lòng yêu nước ấy trở thành linh thiêng của hồn dân tộc.
Thành hoàng có nguồn gốc Tổ sư nghề: Vũ Quan, là tổ nghề nón và áo tôi của Làng Tri Chi, xã Tri Trung (Phú Xuyên) vào thời Lê. Nguyễn Thực (Đông Hải Đại Vương), tổ sư nghề tơ tằm, là thành hoàng của làng Thiên Đông, xã Mỹ Hưng, Thanh Oai. Thiều Hoa công chúa, tổ sư nghề dệt vải, Thành hoàng làng Ciổ Đô - Ba Vì - Hà Tây. Nguyên Hồ thống chế, tổ sư nghề rèn, thành hoàng làng Mậu Nương, xã hiền Lương - Hà Đông…
Thành Hoàng là những người khai phá lập làng: với những làng cổ xưa thì có những vị thành hoàng có công trị thuỷ, khai muơng, đắp đê, mở chợ, chữa bịnh như: Văn sĩ Thành, giúp dân phóng chữa dịch bệnh, thành hoàng của làng Thuỷ Hội - Tân Hội (Hà Tây). Quận Công Bùi Nghiên Phổ, có công mở chợ, là thành hoàng của làng Đình Thị, Trúc Sơn, Chương Mỹ (Hà Tây). Quận Công Lê bình (thời Lê) có công giúp dân đắp đê, thành hoàng thôn Cổ Nghiã Hạ và Nghĩa Thượng, Xã Thượng Đình - Đan Phượng (Hà tây). Khai phá và lập làng như: bà Lê Chân, Làng An Biên, tỉnh Quảng Ninh…
Thành Hoàng những người mở mang dân trí: sống trong một Đất Văn Hiến, người Việt luôn nhắc đến: “công cha, nghĩa mẹ, Ơn Thầy”, lòng yêu mến thầy là một truyền thống ăn sâu trong tâm thức hiếu đạo người Việt. Thầy là người học cao, hiểu rộng, đời sống đạm bạc, gương mẫu. Lúc sống, người Thầy được dân làng họ xem là niềm tự hào của họ, lúc mất người thầy được thờ kính và có khi là thành hoàng cho làng. Ví dụ như: Ông nghè Vũ Quân, ông nghè Nguyễn Trưởng Nguyên, trạng nguyên Nguyễn Hiền, …
Thành hoàng những con người hiếu đễ, tiết hạnh: Bà Thiết Hạnh thôn Nghĩa lễ (Nam Định), Hiếu lễ Trần Thị Ngoạn thôn Hưng Cát (Nam Định)…
Thành hoàng những người gốc ngoại: Tống Hâu, một hoàng hậu nước Tống bị nạn chết dạt vào bờ biển nước Việt, được hiển thánh ở nhiều làng thờ. Cao Than, là quan nhà Hán, có công với dân làng La Thạch - huyện Đan Phượng...
7. Tà thần:
Trái ngược vối những vị Phúc thần là những vị tà thần. Người ta tôn thờ cái bụng và làm nên những điều xấu xa.
Thành Hoàng là những người chết vào giờ thiêng: những thần hoàng này có đời sống xã hội cũng như luân lý thấp kém nhưng chết vào giờ thiêng, được dân làng đó sùng kính. Không phải là ai cũng ủng hộ những vị thần này, triều đình không cấp bằng sắc, thậm chí còn ra lệnh giải tán, phá bỏ các đền miếu thờ phụng các vị thần này ở làng, xã. Cách chung của nhiều người không nhận và gọi đó là nhưng vị tà thần. Những làng thờ tà thần cho thấy một tổ chức : “Luật vua thua lệ làng”, có những khoảng trời tự trị riêng mà cách chung của nhiều người không thể đụng chạm tới. Giờ thiêng mà dân chúng tin tưởng là một giờ bất thường, một cái chết bất thường làm cho linh hồn của họ có một sức mạnh. Các làng thờ tà thần là số rất ít trong Đất Việt, thường những làng ấy có phần nào sinh sống bằng những nghề thấp kém, hoặc có đời sống trái với luân thường đạo lý. Theo tính cách chung của người Việt, việc sống theo tín ngưỡng là một đời sống gắn bó với thần linh, như rất gần trong hơi thở, gắn liền với cuộc sống thường ngày. Theo cách chung ấy, khó mà biết được dân chúng những làng thờ tà thần, trong cuộc sống có chịu ảnh hửơng bởi lối sống theo những nghề mà vị thần hoàng làng ấy đã sống không.
Việc thờ tà thần thường đi với những tục hèm. Tục hèm là những nét riêng biệt, độc đáo, khi còn sống của vị thần chết vào giờ thiêng. Thoả mãn ước vọng của vị tà thần này khi còn sống thì được bảo vệ, nếu không thì chịu sự chúc dữ, nguyền rủa.
Làng Đồn Điền - Quảng Xương - Thanh Hoá, thờ vị thành hoàng là vị ăn mày, nên sắp đến ngày mở hội, cả làng có tục hèm sắm gậy đi ăn mày ở các làng bên, hay tỉnh khác. Người giàu hay nghèo trong làng đều sắm gậy đi ăn mày như thế vì họ tin rằng khi thực hiện tục hèm này, thì họ được may mắn, phát đạt. Tục hèm ăn mày, ngày nay chịu sự thoái hoá và trở thành một trở ngại cho việc phát triển của Đất Nước. Có rất nhiều những phản ảnh của báo chí về nạn ăn xin này là một căn bệnh khó chữa.
Làng Tích Sơn (Vĩnh Phú), Xuân Ái - Võ Giàng - Bắc Ninh, thờ một người ăn trộm, tục hèm trong ngày lễ hội của vị thành hoàng, có diễn một cảnh thần bị quật bò lăn ra sau một vụ trộm không lối thoát.
Làng Đồng Vệ (Vĩnh Phú), làng Cổ Nhuế (nay thuộc Hà Nội), làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) thờ thành hoàng vốn là người hót phân, trong lễ hội người ta có dâng cúng chuối bóc vỏ cùng với kẹo lạc nấu bằng mât đen giống như thỏi phân. Ngày xưa, phân bón cho ruộng đồng chủ yếu là phân trâu, bò, động vật, có những làng vì ít đất canh tác nên có nghề phụ là hót phân đem bán cho làng khác. Ngày nay, không còn những việc ấy nữa vì cũng chẳng hay ho gì cho những làng ấy.
Hèm đuổi lợn trong lễ hội làng Ngô Xá diễn lại vị thành hoàng làm nghề lái heo xưa vì đuổi heo và rớt xuống sông chết.
Hèm ẩu đả giữa các làng thấy ở nhiều nơi nghịch hẳn với tục giao hiều giữa các làng, hèm ẩu đả thấy ở nhiều nơi: Thụy Khê và Sài Sơn (Hà Tây); Thượng Ốc, Yên Lũng, Văn Lũng, Yên Thọ (Hà Đông); Bong Trung (Thanh Hoá); Yến Vĩ - Đục Khê (Hương Sơn)…với hèm tục này, càng ẩu đả đổ máu nhiều càng là thêm phúc phần may mắn, tránh được rủi ro…
Trong các vị thành hoàng, tà thần là những con người xấu không đáng bắt chước, noi theo, những tục hèm là để kêu gọi tránh đi hơn là khuyến khích phát triển, nếu làng xã còn tổ chức các hèm tục ấy thì ngày nay chỉ còn là trò chơi, một tịết mục hài không nội dung tín ngưỡng.
8. Tính cộng đồng của tín ngưỡng thành hoàng.
Tín ngưỡng Thành Hoàng là một sinh hoạt tâm linh của cơ cấu làng xã mà cái Đình là trung tâm cho những sinh hoạt tín ngưỡng ấy. Xét về tính cộng đồng thì tín ngưỡng Thành Hoàng là một văn hoá nối kết giữa những người trong làng với nhau, để đồng cảm với nhau và tiến tới việc đồng mệnh với nhau. Từ đồng cảm đến đồng mệnh buộc mỗi người ý thức cộng đồng là sống chết có nhau, theo đúng giá trị ca dao thành ngữ: “tối lửa tắt đèn có nhau”.
Trở ngại: Từ đồng cảm đến đồng mệnh có một điều khó chấp nhận là tính thủ cựu, thiếu sự liên đới giữa làng này và làng kia, ganh đua nhau về nhiều mặt hình thức, thiếu nội dung. Đó là một hình thức kém phát triển ngoài làng xã, đề cao thành hoàng làng mình thái quá đều là một trở ngại.
Thường tính cộng đồng của những làng thờ chung những vị thần hoàng thì phát triển hơn những làng cô lập. Sở dĩ có những làng thờ vị thành hoàng riêng biệt của mình, là vì những làng ở xa nhau, khó đi lại với nhau. Ngày hôm nay, phương tiện đi lại không còn là một vấn đề khó khăn, trong khi nền văn hoá phát triển lớn hơn giữa những công đoàn làng xã thì vẫn có những trào lưu ngược lại là những hội đồng hương phát triển, không làm việc chung với nhau, khích bác, đả kích, hơn thua với nhau. Xét thấy những làng Công Giáo cũng có những phát triển tương tự, vẫn có những thánh làng này hơn thánh làng kia, hội đồng hương này chê hội đồng hương khác ngay trong cùng một làng, một Giáo Xứ, một giáo phận.
Làm nổi bật truyền thống tâm linh Thành Hoàng là làm nổi bật tính liên đới, sống gắn bó với nhau, từ trong làng đến các làng lân cận như trong văn hoá đã từng có những làng có truyền thống giao hiếu với nhau. Sự liên đới là một di sản văn hoá mà các vị thánh nhân xưa đã sống và chết cho lý tưởng của một dân tộc hiếu hoà, trọng tình, trọng nghĩa…
Việc Thánh làng này hơn Thánh làng kia, là một cuộc chạy đua thiếu mất ý nghĩa của tính chất truyền giáo của Đạo Công Giáo. Nhiều Nhà Thờ chỉ ganh nhau hơn cây tháp. Ganh nhau vì có nhiều hơn vị thánh…Biến Ngôi Đình trở thành pháo đài là trái với truyền thống của dân tộc.
Thánh nhân đối với người Việt là một mẫu gương cao quý, không chỉ để thờ nhưng còn là để sống chung với thế giới thần linh, tiên tổ, hướng tới một đất nước thái hoà thịnh trị. Các vị thánh được thần tích và thần phả ghi chép lại như một bài học cho tương lai, biết sống và giữ những truyền thống để khỏi là người Việt mất gốc ngay trên quê hương mình.
III Tổ Sư Nghề:
Quan niệm Bách Nghệ Tổ Sư bắt nguồn từ lòng hiếu học của người Việt xưa.
Nền văn hoá nông nghiệp, phát triển theo tính cộng đồng làng xã, sống trong luỹ tre làng bảo vệ, tính cách người Việt xưa cũng có bảo thủ để giữ lấy mình. Từ tính cách bảo thủ ấy, trong một làng thường có những làng nghề, hay từng cụm theo nghề gia truyền. Mỗi nghành nghề thủ công có một vị khai sáng. Theo quan niệm: “Bán tự vi sư, nhất tự vi sư”, thì người dạy cho người khác một chữ hay một nghề đều gọi là thầy. Đã là thầy thì đối với trò đều được trọng vào hàng thứ hai trong tam cương của Nho Giáo: “Quân, sư, phụ”. Nghĩa là trong tinh thần hiếu đạo, người học trò phải xem đó là nghĩa vụ trọng thầy hơn cả bậc sinh thành, cho nên phát sinh một đạo gọi là đạo Thầy - Trò.
Thần thánh hoá người thầy không đúng cách là một cản trở lớn lao trong việc phát triển văn hoá.
9. Thầy dạy chữ:
Đạo Thầy - Trò, bắt nguồn trong văn hoá làng xã xưa kia, có một hoàn cảnh nhất định. Văn hoá làng xã là một môi trường văn hoá “đóng cửa nhà dạy nhau”, người thầy là một người trí hiểu biết hơn người, được may mắn sinh trưởng trong một gia đình chữ nghĩa, được học từ cha ông những sách thánh hiền, được có cơ hội ra thành thi Hội, thi hương, thi tiến sỹ. Được hửơng một nền tri thức vượt ra khỏi làng xã, để khi trở về người thầy là người thông thạo hơn người.
Do trình độ tri thức còn sự chênh lệch rất xa, đối với trò, người thầy là tuyệt đối : “Không thầy đố mày làm nên”, cho nên cung cách giảng dạy ở làng quê xưa có cách thức : “một thày nhiều trò”, “muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”, là một quan niệm rất gần gũi với nhiều người trong khung cảnh làng xã. Từ việc học yêu lấy thầy đến việc “tôn sư trọng đạo”, đến việc ngưỡng mộ tôn thờ là con đường rất gần. Sở dĩ Văn miếu xưa dành tôn thờ các Vị tổ Nho như Đức Khổng Tử là kết tinh từ đạo Thầy - Trò trong khung cảnh ấy. Đạo Thầy - Trò, có những giá trị định hướng, ảnh hưởng nhất định cho việc phát triển văn hoá, nhưng tuyệt đối quá cũng có nhiều điều dở:
Điều dở trong đạo Thầy - Trò: Cách thức truyền đạt ngày xưa trong làng xã, phát sinh ra một lối học thụ động của trò: “Chữ thầy, thầy nói, trò học, trò nghe”. Khác với lối giảng dạy của Đức Khổng Tử với trò là trao đổi. Người học trò làng quê Việt, ít được trao đổi cùng thầy, xuất phát từ một mặc cảm chung “biết năm ba chữ chưa đầy lá mít”, làm sao có thể đối thoại, trao đổi cùng thầy. Trò chỉ biết nghe, rồi ghi ghi, chép chép theo lời đọc của thầy: “không biết thì dựa cột mà nghe” . Lối học thụ động này làm cho học trò cùn đi óc sáng tạo, cứ theo thầy mà làm, tính cách gia truyền hình thành là như thế. Sự hình thành lớp học ngày xưa cũng là thế, cứ năm mươi hay một trăm học trò ngồi im lặng cúi đầu nghe thầy giảng như một lũ cừu ngoan ngoãn, không phản đối, không ý kiến, không thắc mắc. Thầy thích dạy gì thì dạy, sách của thày, chữ của thày, thày muốn truyền đạt bao nhiêu tuỳ thày, thày trau dồi thêm hay không cũng tuỳ thày. Đã là thày thì cứ là thày mãi mãi, thầy hay thầy dở cũng là thầy.
Từ cách học thụ động trò cũng chẳng thể hơn thầy, như người ta thường nói “trứng không khôn hơn vịt”. Làm học trò nghiã là học lấy cách tiêu hoá những gì thầy mớm cho, đi ra khỏi khuôn phép thầy - trò là người bất hiếu thậm chí còn chịu khinh người thất học. Học chỉ là tiêu hoá kiến thức thầy mớm cho, mà tiêu hoá không xong hoặc có điều tiêu hoá không nổi, thì đến bao giờ mới tiến.
10. Tổ Sư nghề:
Những tổ của ngành nông nghiệp:
Nghành nghề nông nghiệp đòi hỏi lắm công phu, nhất là theo lối canh tác tiểu nông nghiệp, người này học cách của người kia. Không biết cội nguồn của nghành nông nghiệp là đâu, mà người Việt không thích vô hình như thế nên tạo ra rất nhiều truyền thuyết để hình thành nên những vị tổ khai đất, dạy dân trồng trọt, như Triệu Cơ, ông Khai Canh. Dùng chữ Triệu để gọi danh, người Việt xưa biết rằng từ lâu lắm rồi, muôn năm trước, có người đã truyền dạy dân làm đất, trồng lúa…tính cách hữu hình vẫn không bảo đảm cho vụ mùa tốt tươi nên nhất định cần có một vị thần, vượt trên thế giới hữu hình này để cai quản mà người ta gọi là Thần Nông. Có thể đó là chòm sao Thần Nông mà người ta tin tưởng là ông nhìn thấy sự cực khổ của dân chúng mà giúp cho mùa màng được tươi tốt. Có thể người cai quản chính là ông Trời để cầu khẩn: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày…”. Mẹ Lúa - Thần Lúa - Vía Lúa, được nhân cách hoá thành người phụ nữ với nghi thức Mẹ Lúa gieo trồng. Với Thần Trâu, giúp người cấy cày. nội dung của tín ngưỡng nông nghiệp là Hồn Lúa. Hồn Lúa theo quan niệm dân gian là sức sống của cây lúa, quyết định cho vụ mùa bội thu. Do vậy trong thực hành nghi thức tín ngưỡng nông nghiệp, người ta chú trọng rất nhiều đến việc cầu mong sự quan tâm của các vị Thần cai quản.
Những Vị Thần Ngư Nghiệp:
Thờ Cá Ông và lễ Nghinh Ông là đặc điểm của những làng ven biển trên Đất Việt. Có nhiều truyền thuyết về Cá Ông, một trong những truyền thuyết như sau: Phật Bà Quan Âm là người hay cứu nạn cho chúng sinh, Ngài hoá thân thành Ông Nam Hải đi tuần du ngoài biển.
Một hôm, từ trên toà sen ngài nhìn thấy cảnh dông bão ngoài biển khơi đã nhấn chìm bao thuyền bè và bao sinh linh hiền lành ngày ngày ra khơi kiếm sống. trước cảnh thương tâm đó, Phật Bà Quan Âm cởi chiếc pháp y, xé tan thành từng mảnh ném xuống biển và hoá phép chúng thành con cá Voi, sai chúng đi cứu ngư dân bị nạn. sau đó, để tăng thêm sức mạnh cho chúng, Phật Bà Quan Âm lại mượn bộ xương của voi trên rừng cho Cá Voi, khiến cá Voi vừa to lớn vừa cío sức mạnh, có mặt ngay ở nơi con người lâm nạn để cứu giúp, trở thành người bạn, vị thần của dân chài.
Những bậc Thánh Sư (Tổ nghề): Thánh Sư là những người nhờ tài năng hoặc cách này hay cách khác, tìm ra được một bí quyết làm được một điều gì đó, sau rồi truyền nghề cho nhiều người khác.
Bách nghệ tổ sư bắt nguồn từ truyền thống hiếu đễ, lóng yêu mến thầy, thầy dạy chữ cũng như thày dạy nghề đều được yêu mến. Thường thày dạy nghề, nhất là những nghề lắm công phu mà vị thầy ấy có công tìm tòi và khai sáng được tôn kính như bậc thánh sư, được đặt trang trọng trên một bàn thờ khác với bàn thờ tổ tiên.
Có những vị thánh sư có tính huyền thoại như Triệu Cơ tổ sư nghề nông, Cao Lỗ Đại Vương tổ sư nghề nỏ thời An Dương Vương, Nguyễn Tam Trinh tổ sư nghề đô vật thời Hai Bà Trưng,…
Có những vị tổ sư người thật việc thật như Tuệ Tĩnh cùng Hải Thượng Lãn Ông là tổ sư ngành y, Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan là tổ sư ngành dệt, tiến sỹ Trần Lư là tổ sư ngành Hoạ...
Có những con người thực nhưng lại không để lại tên tuổi, không có lai lịch, và không có dấu tích của huyền thoại như Cụ Trần, tổ sư nghề giấy ở vùng Bưởi (Hà NỘi), Cụ Đặng, tổ sư nghề rèn ở An Khê (Bình Định)…
11. Mảnh đất hồn Việt.
Qua những vị thần nông nghiệp, ngư nghiệp, các thánh sư cho thấy mảnh đất hồn Việt biết trọng di sản văn hóa. Trở thành tín ngưỡng là hình thức lưu truyền bền bỉ nhất, trân trọng nhất mà người Việt có được. Hồn thiêng đã đi vào đất mẹ cưu mang, người Việt tin rằng nguồn gốc dưới đất của mình từ trời, ý thức về hai thực tại ấy có từ nguyên sơ, chính ý thức đưa dẫn cuộc sống gắn bó với thần linh. Không một việc gì của người Việt mà không có thần linh tham dự, không chỉ vì kế sinh nhai mà là mảnh đất thiêng hồn Việt đã làm nên con người tôn giáo ấy. Có thể nói con người Việt là con người của tôn giáo, một tôn giáo tâm linh nhắc đến nguồn cội, lòng biết ơn và lưu truyền cho con cháu.
Tổ sư nghề cho thấy nét đặc trưng của người Việt: “Uống nước nhớ nguồn”, mỗi một ngành nghề đều có nguồn ngọn, là những người khai sáng. Nếu Phương Tây có ghi lại công lao của các nhà phát minh, bằng cách gắn tên của người phát minh vào tác phẩm của người sáng chế, thì người Việt chẳng những thế còn đưa vị ấy vào trong tín ngưỡng để ngưỡng mộ, với lòng thành kính. Nguồn cội là tâm thức quan trọng của người Việt trong mọi vấn đề nhân sinh quan. Do tâm thức nguồn cội sâu xa, người Việt cách nào đó cũng hình thành nên nguồn Việt triết để trả lời cho những câu hỏi căn bản của con người: Từ đâu đến, đi về đâu, ý nghĩa là gì?... Những câu hỏi cơ bản để người Việt đi đến một triết lý sống: “Thương người như thể thương thân”. Ý thức có chung một người gốc làm nên triết lý sống trong toàn thể cũng như trong từng ngành nghề, biết nhờ nhau mà sống.
Nét đặc trưng thứ hai mà tín ngưỡng bách nghệ tổ sư cho thấy, lòng biết ơn: Lòng biết ơn của người Việt dường như bao trùm các khía cạnh của đời sống: Ơn Trời, Đất, Núi, Sông, Tổ Tiên, Thầy Cô, Thánh Sư…Biết ơn không đơn giản là tấm lòng nhưng bàng bạc đầy cuộc sống, lòng biết ơn được bày tỏ ra bên ngoài, từ những tập tục cho đến những thói quen thể hiện trong lời cám ơn và tri ân trở thành niềm tin trong tín ngưỡng. Người Việt vốn đề cao những tấm lòng hiếu thảo một phần lớn là biểu hiện của việc tri ân này: “Thi ân vật niệm, thụ ân vật vong”. Người làm ơn cho mình cao nhất là người giúp cho mình sống xứng đáng là một con người. Như vậy, ngay từ xưa người Việt đã có ý thức trong việc thụ nhận một nghề nghiệp, cho dù đó là những nghề thủ công đi chăng nữa, vẫn là một nghề để sống xứng đáng là một con người.
Tính lưu truyền bền vững của Bách nghệ tổ sư là trở thành tín ngưỡng. Người Việt sống tín ngưỡng chứ không theo tín ngưỡng. Theo cách sống đó, người vào nhập môn vào một nghề nào đó đều cần có một nghi thức “bái Sư”, Sư cao bậc hơn phụ trong thang đạo tam cương. Sau nghi thức bái sư nhập môn, người môn sinh có bổn phận làm sáng danh giá của thầy, không chỉ là theo một nghề mà là sống một nghề cho vẹn toàn.
Kết luận, một điều hệ trọng, được nhận ra trong quan niệm thần và thánh của người Việt có một chiều kích siêu việt. Đó là chiều kích viên mãn của những con người vượt qua ngưỡng cửa sự chết, hoàn thành được cuộc đời trong những nỗ lực của mình mà đi vào cõi sống muôn đời. Chết là bắt đầu sống, có người sống tủi nhục muôn đời, có người sống được tôn vinh hàng thần thánh…
Truyền thống tâm linh của người Việt như Cadìerre nhận xét: “Người Việt kêu cầu trời, xin trời cứu họ, khi mối hiểm nguy thật là bức bách. Nghi thức cầu xin đượm nét đơn sơ nhưng trang trọng làm ta có thể kết luận rằng đối với họ quả là có một sức mạnh nhiệm mầu ẩn trong trời, sức mạnh ấy cao hơn mọi sức mạnh siêu nhiên khác mà họ sùng bái..Nói tóm lại, những tình cảm thoát thai từ việc khấn xin thật ra cũng chính là những tình cảm mà người lương dân cầu khẩn đến Thượng Đế một cách nồng nhiệt và khiêm cung, nhận biết Ngài chỉ qua soi sáng của lý trí, và rồi thưa với vị Thượng Đế được mơ hồ nhận biết như là một Đấng tốt lành và toàn năng.
Một lương dân thông minh đã cắt nghĩa cho tôi về số sự kiện mà tôi trích dẫn, nói với tôi rằng: “Thưa cha, khi chúng tôi cầu khấn thần linh, chẳng khác nào trong tình huống cấp bách, tôi khẩn cầu với cha giúp đỡ. Khi đến với cha, tôi mang theo lễ vật phủ phục, xin điều mình xin và xin cha nhận lấy lễ vật. nếu cha giúp tôi, tôi trở lại, mang theo lễ vật mới dđể tạ ơn. quả thật chúng tôi cũng cư xử như vậy đối với thần linh””.
Phần 2: Thánh Đạo và Thánh Đời.
12. Những hiểu lầm ban đầu:
Theo từ Điển Đông Kinh diễn nghĩa của Alexandre de Rhodes, bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính, Nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1991, cha Alexandre de Rhodes khi diễn nghĩa chữ Thánh bằng tiếng Lusitan và tiếng La tinh giảng nghĩa là: “Thánh. Nên Thánh: Trở nên Thánh. Rứt Thánh: Rất Thánh. Thánh Hiền: Thánh và Hiền: Tước hiệu người ta tôn kính Khổng Tử nhưng không xứng đáng, bởi vì, hoặc là Khổng Tử không biết Thiên Chúa là tác giả của mọi sự thánh thiện và hiền lành, mà không có Thiên Chúa thì ông ấy không thể thánh thiện và hiền lành được; hoặc nếu ông ấy biết Thiên Chúa mà vì là thầy lại không dậy người khác biết, thì làm sao có thể gọi Ông ấy là Thánh và hiền được ?”.
Vấn đề được hiểu ở đây, trong thời gian đầu các vị thừa sai đến Việt Nam là chưa lãnh hội đủ ý nghĩa của từ Thánh theo quan niệm Đông Phương hay nhỏ hẹp hơn là người An Nam thời bấy giờ hiểu và quan niệm. Cho nên khi gặp phải tín ngưỡng Thành Hoàng của dân gian, chính cha Alexandre de Rhodes cũng hiểu lầm khi diễn giải chữ Thành Hoàng như sau: “Nơi thờ vị quỷ thần được coi là vị bảo hộ làng xã, và bởi đấy họ phong cho tước hiệu là Vua”. Cũng như trong quan niệm “Thần” của người An Nam, cha Alexandre de Rhodes giải thích: “Quỷ Thần mà người ta gọi là vị bảo hộ một nơi. vị quỷ thần đó thường là một người gian ác nào đó đã bị giết chết ở nơi đó, hoặc cũng có khi là một con vật chết trong chính nơi ấy, và khi tai hoạ xảy đến cho ai tại nơi đó, thì người ta tưởng cách ngây ngô là, do chính người hay vật ấy gây ra, và vì vậy người ta tôn thờ vị ấy bằng cách dựng nhà, bàn thờ…và phong cho vị ấy tước hiệu Vua hay Quan, để tai họa tương tự đừng xảy đến cho họ. Thần Kì cùng một nghĩa”.
Trong cuốn Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài của cha Alexandre de Rhodes có ghi nhận: “Mong sao cho người Đàng Ngoài đã rũ ách nô lệ người Tàu thì cũng bỏ được những dị đoan người Tàu truyền lại và dạy dỗ cho. Nhưng những nguyên lý tôn giáo dầu tốt dầu xấu đã ăn sâu vào lòng người do tập quán lâu đời thì không dễ dàng xoá đi được. Thế nên, người Đàng Ngoài, sau khi không còn chịu người Tàu đô hộ nữa, thì vẫn còn duy trì những mê tín của họ và tất cả giáo thuyết về thần thánh du nhập từ bên Ấn Độ. Từ thời đó đến nay, họ còn thêm nhiều dị đoan khác và trở nên mê tín hơn cả người Tàu”.
Sau này cha Alexandre sống lâu trên đất Việt đã có hiểu hơn như khi nhận định: “Sở dĩ có những lời vu khống này là vì có người quá nhiệt thành, không kín đáo, không khôn khéo. Họ muốn bãi bỏ tất cả các lễ nghi thường làm ở xứ này để cầu siêu với vong linh người quá cố. Tôi đã tường thuật nhiều lần trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Thực ra, nếu có một vài nghi lễ giáo dân không nên làm vì sợ tội, thì đa số kể như vô thưởng vô phạt và chúng tôi cho là có thể được duy trì mà không phạm tới sự thánh thiện của đạo ta.”
13. Những lời cáo buộc từ phía lương dân:
Bỏ đạo tổ tiên: cha Alexandre ghi lại trong cuốn Hành Trình Truyền giáo: “ Trong tất cả những thành công Chúa ban cho chúng tôi, chúa lại cho chúng tôi hai điều đau đớn, may mà có sức mạnh hơn sức loài người đã nâng đỡ chúng tôi. Thứ nhất, cha Pinh qua đời.. thứ hai là cơn bão táp đã tới từ phía phủ chúa. Vì thấy người Bồ không trở lại năm đó với đoàn tàu chở hàng hoá như thường lệ, chúa cả nghe bên phía địch thù của giáo dân. Những người này không lỡ bỏ dịp vu cáo và làm cho chúa không tin giáo dân nữa. Trong những tội vu khống, có tội này: giáo dân không thờ kính tổ tiên, lại theo đạo man di, vứt bỏ tâm tình biết ơn với tổ tiên, những tâm tình trời đặt trong lòng mọi người. Sở dĩ có những lời vu khống này là vì có người quá nhiệt thành, không kín đáo, không khôn khéo. Họ muốn bãi bỏ tất cả các lễ nghi thường làm ở xứ này để cầu siêu với vong linh người quá cố. Tôi đã tường thuật nhiều lần trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Thực ra, nếu có một vài nghi lễ giáo dân không nên làm vì sợ tội, thì đa số kể như vô thưởng vô phạt và chúng tôi cho là có thể được duy trì mà không phạm tới sự thánh thiện của đạo ta.”Sở dĩ có những hiểu lầm tai hại như thế là do phía những anh chị em tân tòng, sau khi chịu rửa tội đã công khai từ bỏ ma quỷ bằng cách:
Đập phá các ảnh tượng Phật, bàn thờ tổ tiên, ngay tại nhà hoặc nơi công khai. Người ta cho là theo đạo thì bỏ đạo ông bà, tổ tiên.
Khi từ bỏ tà thần, các tín hữu không được phép tham dự vào nghi lễ chung của địa phương như : Thờ Thành Hoàng, lễ hội thành hoàng, cúng giỗ tổ, những đấng lập làng...có tính chất nhớ ơn người đi trước hơn là thực hành niềm tin.
Người tín hữu mới theo đạo lại quá sốt sắng, ngoài đời sống thí tách biệt với người lương dân, có những làng công giáo riêng và xem thường những người lương dân, có lễ hội riêng của làng Công Giáo không can dự gì đến những lễ hội của địa phương. Cá nhân tín hữu thì đeo tràng chuỗi và tất cả những mẫu ảnh tượng nhỏ mà các cha tặng cho trên cổ, có người còn mang riêng theo mình cả những bàn thờ nhỏ để cầu nguyện. Những thái độ này luôn khiêu khích những người lương dân.
Ngoài những tố giác của những người lương dân, còn có những tố giác khác của các thày bói, phù thuỷ, thày sãi : Cha Alexandre de Rhodes kể “hạng người thứ nhất là các phù thuỷ…điều làm họ ghét chúng đó là thấy giáo dân tân tòng khắp nơi làm phép lạ chữa bệnh nhân…thực ra cũng có một số bệnh nhân chết, chúng tôi đã rửa tội trước, vì chúng tôi tới thì quá muộn. do đó họ gọi đạo chúng tôi là đạo chết và phao tin đến tai chúa là chúng tôi đến để sát hại thần dân của chúa và những quân binh tốt nhất của ngài, chúng tôi làm chúng yếu sức để rồi rơi vào tay địch”. “chúa dễ nghe theo những lời tố cáo của các thầy sãi. những người này rất ghét chúng tôi vì thấy đền của họ trở nên hoang vu, lợi lộc suy giảm. Thế là họ vận động chúa vì chúa rất ưng việc thờ cúng tà thần, coi chúng tôi là thù địch… các thầy sãi tố cáo chúng tôi nơi chúa rằng chúng tôi đập phá tượng thần ở các đến. Chúng tôi xin chúa thu xếp và xem xét đạo chúng tôi giảng là đạo huỷ diệt các thần và phá đổ tôn giáo cổ truyền trong nước, có nên được dung thứ không. Không điều tra thêm, chỉ dựa vào một cuộc họp vội vã, chúa liền ra sắc lệnh phạt rất nặng và cấm thần dân trong nước từ nay không được theo đạo Kitô là đạo phá đổ thần phật từ mọi đời vẫn thờ cúng. sắc lệnh được niêm yết ở cửa nhà chúng tôi, trước mặt chúng tôi vá trước mặt đa số giáo dân”.
Một phía khác từ hậu cung nhà vua, do luật “nhất phu nhất phụ” làm cho các bà và các hoạn quan mất quyền lợi khi vua nghe theo đạo.
14. Nỗ lực hội nhập văn hoá.
Khi Đạo Công Giáo vào An Nam không phải là vào khu nhà trống, ảnh hưởng lớn nhất lúc bấy giờ là Phật giáo cùng với Đạo Giáo và Khổng Giáo. Phật giáo Việt Nam du nhập từ Ấn Độ và Trung quốc vào khoảng thế kỳ 2 sau công nguyên, đạt tới đỉnh cao từ sau Ngô Quyền dành lại chủ quyền cho dân tộc (938) đến trước khi Lê Lợi - Nguyễn Trãi chống quân Minh (1418). Thời gian cực thịnh này cũng là thời gian văn học thiền phát triển, gọi tắt là văn học Thiền Tông thời Lý Trần. Đây là một thời đại mà giới trí thức hầu hết là Phật tử. Khác với Thiền Tông ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đạo Thiền kết hợp với tín ngưỡng bản địa có tính thần thuật ảnh hưởng của Đạo giáo (biến thể), có những chuyện kể luyện thần thông phép mầu, cứu nhân độ thế. Vào khoảng thế kỷ IX - X Mật Tông được truyền vào, như “cột kinh đà - la - mi” tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) là dấu vết. Mật Tông thường pha trộn với tín ngưỡng bản địa, đồng hoá phương thuật của Đạo giáo và phù thuỷ- thực hành việc chữa bệnh trừ tà, mê tín. Vốn tính suy tư của dân tộc là lối suy tư tổng hợp, nên trong việc thực hành không tránh khỏi những pha lẫn giữa nhiều tôn giáo lớn.Đây là một việc rất khó với các vị thừa sai và dễ gây hiểu lầm hơn cả. Bởi vì không thể coi tất cả đều là mê tín dị đoan mà gạt bỏ tất cả được. Trong tín ngưỡng có những điều tốt, cũng có khi bị pha lẫn chút ít dị đoan thực hành mê tín hoặc là người giáo hữu quá nhiệt thành với đạo Công Giáo mà gây hiểu lầm.
Vấn đề gai góc nhất để Tin Mừng phát triển trong văn hoá có hai hướng mà các nhà truyền giáo áp dụng:
Thích nghi: Truyền giáo không phải là vào khu vườn hoang, nhà trống, ở nơi đó đã có rất nhiều những lễ nghi của dân tộc cần tìm hiểu để thích nghi. Các kinh nghiệm của nhà truyền giáo Ricci (Lợi Mã Đậu) ở Trung hoa cho thấy một vấn đề gai góc và cần tìm hiểu nhất là các nghi lễ tỏ lòng tôn kính tổ tiên và các bậc thánh hiền. Không dễ gì gạt bỏ tất cả truyền thống lâu đời ấy, nghi lễ ấy đã là một phần đời không thể thiê1u trong văn hoá dân tộc. cha Ricci nghiên cứu rất kỹ lưỡng về vấn đề này: Trước hết cha đích thân đi quan sát tận mắt các buổi lễ, và hỏi người trong cuộc xem đó là nghi lễ gì? họ nghĩ gì về những nghi lễ ấy? Sau đó cha tìm hiểu trong kinh điển, hỏi những người trí thức, các nhà văn, những học giả đương thời. như thế, cha đi đến một kết luận: Đó chỉ là những nghi lễ tỏ lòng tôn kính của con cháu dành cho tổ tiên, môn sinh dành cho sư phụ, không có tính cách tôn giáo, vì không tính cách xin ơn. Cha viết : “Người Trung Hoa không hề coi Khổng Tử hay tổ tiên là các vị thần. họ không cầu nguyện với người quá cố, không xin họ ơn gì, cũng không nhờ họ xin gì”. Người Trung Hoa muốn đối xử với những người đã chết như với người còn sống. họ dọn cỗ bàn để thết đãi người sống cũng như dọn bàn để mời người quá cố, đó là cách diễn tả của lòng thảo hiếu đối với những người đã khuất. theo bản châ1t việc tôn kính tổ tiên và Khổng Tử không có gì là mê tín, song trong thực hành, có nhiều người đem pha trộn giữa những hình thức niềm tin của Lão Giáo và Phật Giáo bình dân mà người Công Giáo không thể chấp nhận được. Như thế, cha Ricci kết luận: Người Trung Hoa theo đạo có thể tiếp tục làm các nghi lễ tôn kính tổ tiên và Khổng Tử, chỉ phải tránh những điều gì mê tín dị đoan mà thôi. Điều này có tầm quan trọng khi áp dụng vào môi trường truyền giáo tại Việt Nam, nhất là đối với các tín ngưỡng dân gian, cần thích ứng và thích ứng đến đâu và như thế nào?
Bãi bỏ: Hướng thứ hai của các nhà truyền giáo là như không có gì cản trở hoặc hoán cải tất cả theo khuynh hướng của Augustin, nhấn mạnh tới hiệu quả của ân sủng, một mình ân sủng thôi, không để cho điều gì có dáng dấp “những lời lẽ có sức thuyết phục của khoa khôn ngoan” (1 Cor 2, 4) dự vào làm vẩn đục đi. những theo hướng này thường Âu hoá người Kitô hữu địa phương, làm cho họ hoán cải cho đến nỗi thay đổi toành diện và mất gốc ngay trên quê hương của mình. Theo cách thức bãi bỏ thì chẳng cần quan tâm đến văn hoá địa phương làm chi cả, cứ ôm trọn niềm tin và thực hành từ đâu đó mà bê nguyên si vào.
Có hai khuynh hướng rõ nét như thế nên xảy ra một tranh cãi đáng tiếc trong lịch sử, đó là vấn đề nghi lễ Trung Hoa.
15. Nghi lễ Trung Hoa.
Có lẽ chúng ta đã mất một thời gian quá lâu sống trong sự hiểu lầm về việc thờ kính tổ tiên với những người anh chị em lương dân, nên nhân dịp này, xin cũng được trình bày lại đường hướng cụ thể của HĐGMVN, để tránh mất thêm thời gian sống với người chung quanh mà vẫn như người xa lạ:Huấn thị năm 1659 nhắc nhở các Đại diện Tông Toà khi sang Việt Nam và Trung Hoa, hãy tôn trọng tập tục của dân bản xứ, nhưng có vài hiểu lầm của các cha thừa sai Paris (MEP), không chấp nhận sự dễ dãi của các cha Dòng Tên ở Việt Nam cũng như Trung Hoa về việc thờ kính gia tiên, nên xảy ra điều đáng tiếc. Lệnh cấm thờ kính gia tiên vào năm 1704 được Toà Thánh ban hành, Đức Thánh Cha Clemens XI, năm 1715 nhắc lại trong Tông Chiếu “Ex illa die” những điều cấm và kèm theo bản tuyên thệ phải từ bỏ lễ nghi Trung Hoa. Tại Việt nam, giáo phận Đàng Trong, do các cha Dòng Tên coi sóc không hưởng ứng và vẫn cho phép thờ kính tổ tiên như trước đây. Từ đó, có sự hiềm khích giữa các cha Dòng Tên và vị Đại Diện Toà Thánh. Cuối cùng đi đến phán quyết của Đức Thánh Cha Benedictus XIV trong Tông chiếu: “Ex quo singulari” giải quyết dứt khoát về lễ nghi Trung Hoa. Dòng Tên bị giải thể 1773 - 1814 được phục hồi.Gần 200 năm sau, ĐTC Leo XIII, mở rộng đường hướng cởi mở đối với các vấn đề xã hội trong Thông Điệp Rerum Novarum, 1891. Năm 1943 ĐTC Pius XII nhắc lại trong Thông Điệp “Mystici Corporis”, “Divino Afflante Spiritu” (1943), Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin cho rằng lễ nghi tôn kính tổ tiên chỉ có tính cách xã hội. Năm 1939, Thánh Bộ công bố Huấn thị “Plane Compertum est” về vấn đề lễ gia tiên. Năm 1965, HĐGMVN mới có thông báo về việc cho phép những hình thức tôn kính tổ tiên:Ngày 20 - 10 - 1964, Toà Thánh qua Thánh Bộ Truyền Giáo, đã chấp thuận đề nghị của HĐGMVN xin áp dụng Huấn Thị “Plane compertum est” về việc tôn kính tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sỹ cho giáo dân Việt Nam.Hội Nghị Nha TrangNgày 14 - 11 - 1974, gồm 7 Giám Mục Việt Nam, đã xác định cụ thể hơn về vấn đề thờ cúng tổ tiên trong 6 điểm.-Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện gì mê tín dị đoan như hồn bạch.- Việc đốt hương, nhang, đèn, nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ gia tiên và trước giường thờ tổ tiên là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.- Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì là mê tín dị đoan như đốt vàng mã và giảm thiểu, canh cải những lễ vật để biểu dương ý nghĩa thành kính biết ơn ông bà như dâng hoa trái, hương đèn.- Trong hôn lễ, dâu rể được làm lễ tổ, lễ gia tiên trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà.- Trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để lòng tôn kíng người đã khuất, cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố.- Được tham dự nghi lễ tôn kính vị Thành Hoàng quen gọi là “Phúc thần” tại đình làng để tỏ lòng tôn kính biết ơn những vị mà theo lịch sử, đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải vì mê tín như đối với các “yêu thần, tà thần”.Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có điều gì hiểu lầm nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu, khích lệ, thông cảm. Đối với giáo dân, cần giải thích cho hiểu việc tôn kính tổ tiên và các vị anh hùng liệt sĩ theo phong tục địa phương là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc liên quan đến tín ngưỡng, và chính Chúa cũng truyền “phải thảo kính cha mẹ”, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.
16. Những Suy nghĩ Từ Giáo Hội Việt Nam:
Bản đúc kết các câu trả lời của các giáo phận Việt Nam cho bản câu hỏi của "Lineamenta" Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu ghi nhận:
“Hạt giống Tin Mừng Đức Giêsu Kitô đã đến với Việt Nam từ bốn thế kỷ. Nhưng trước đó cả ngàn năm, trên vùng đất này, đã có ba tôn giáo lớn là Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo và một loại Tín Ngưỡng dân gian ăn sâu vào tâm hồn người Việt Nam. Phong tục tập quán, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam, đã được nhào luyện bởi tất cả những mầm sống cũng như giới hạn của các tín ngưỡng đó.Vì vậy khi Tin Mừng Đức Giêsu Kitô được loan báo cho người Việt Nam, không khỏi xảy ra những va chạm - có khi đến mâu thuẫn - giữa cái cổ truyền với cái mới lạ, giữa cái được gọi là "quốc hồn quốc túy" với cái bị xem là ngoại lai. Đối với người Kitô giáo, cái mới đã làm đảo lộn nền luân lý và đời sống tâm linh của cá nhân cũng như cơ cấu và lề thói của xã hội, gây nhiều khó khăn cho việc chung sống với đa số đồng bào của mình.Việc loan báo Tin Mừng chịu nhiều yếu tố của những thực tại trên chi phối, làm cho gương mặt Đức Giêsu khi tỏ khi mờ trong cái nhìn của người ngoài Kitô giáo và cả trong tâm thức của người tín hữu Việt Nam. Tuy nhiên, nếu có khi tưởng như hạt giống Tin Mừng sắp chết khô, thì cũng có thời được thấy "cây đức tin" sinh nhiều hoa trái.”
Những hoa trái được ghi nhận: “Hơn nữa, tình trạng nghèo đói khốn khổ triền miên của dân tộc đã tạo nên một khoảng trống mà họ chờ mong được lấp đầy. Nhờ các nhà truyền giáo, họ đã nhận lãnh nhiều điều tốt lành: những điều thường thức về vệ sinh, khoa học, những hiểu biết mới, những đồ vật quý hiếm cũng như những trợ giúp vật chất - dù rất khiêm tốn - những nhân vật thánh thiêng đầy nhân ái v.v...khiến họ, nhất là những người thuộc lớp bình dân, sẵn sàng đón nhận giáo lý mà những người tốt lành như vậy mang đến cho họ. Đàng khác, những tập tục phi lý và phi nhân (bùa mê, sát tế) làm nên một gánh nặng đè lên cuộc đời của họ: do đó, khi đã tìm gặp một vị thần đầy yêu thương, họ liền cảm được giải thoát và tin theo.”
Những Trái sâu : “Tính dễ dãi đã tạo thuận lợi cho việc tiếp xúc thuở ban đầu: phong cách lễ nghĩa đưa đến việc lầm tưởng người nghe đã đầu phục những chân lý được nêu lên. Thật ra, việc nhập đạo nhiều khi chỉ ở cấp độ lễ nghĩa, tình hàng xóm, "bánh ích đi bánh quy lại." Nhiều trường hợp chỉ do khi lập gia đình với người công giáo, họ đã nhượng bộ những yêu sách của Giáo Luật.Nơi một số người khác, một đời sống sung túc hơn làm cho họ cảm thất không cần đến với đạo nữa. Những phong trào sôi nổi, những mời gọi của xã hội hiện thời hấp dẫn hơn, đẩy họ xa rời môi trường nhà thờ và những biểu hiện bên ngoài còn ít oi của văn hóa Kitô giáo”.Đặt lại cái nhìn mới: “Trước hết, vì lục địa Á Châu không phải là một vùng đất hoang mà chúng ta có thể gieo trồng bất cứ giống gì. Trái lại, đây là vùng đất của những tôn giáo và của những nền văn hóa lâu đời hơn nhiều so với Âu Châu. Ở đây vốn đã sẳn có một vũ trụ quan, một nhân sinh quan, và một quan niệm tôn giáo rất phong phú và còn khá vững chắc.Tại đây, phần lớn người ta không phải là không biết đến Thiên Chúa, trái lại, họ cũng đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Người một cách nào đó, và gọi Người bằng những tên gọi khác nhau, như là Trời, là Thiên, là Brahman v.v...Do đó, "truyền giáo" không phải là giới thiệu một Thiên Chúa, một Đức Kitô hoàn toàn xa lạ, mà một cách nào đó, có thể nói là "làm sáng tỏ cái đức sáng" (minh minh đức) vốn đã hiện hữu tiềm tàng, hay là giúp cho người ta "ngộ được" cái chân lý, mà theo công đồng Vatican II đã có phần nào trong các tôn giáo khác (x. Nostra Aetate, số 2, đoạn cuối), đặc biệt là của Á Châu. Hãy theo cung cách của chính Đức Giêsu, là nói cho người ta biết Thiên Chúa đang ở giữa họ, ngay trong lòng họ, bây giờ và tại đây, chứ không phải tại Giêrusalem hay ở một nơi nào khác, một thời nào khác. Nói gợi ý xa xa là phương cách truyền giáo của Đức Giêsu: từ thứ nước uống hằng ngày mà người nghe có thể khám phá ra nước hằng sống (x. Ga 4,7-26). Bởi vì chính Thiên Chúa đã sáng tạo nên vạn sự, do đó, một cách nào đó, phải nói rằng sự hiện hữu của các tôn giáo ngoài Kitô giáo, cũng đều do sự quan phòng của Người.Tuy nhiên, cách nhận thức về Thiên Chúa, quan niệm về Thực tại Tối Hậu nơi người Á Châu không giống với Tây Phương. Có hai đặc điểm chính của triết học và tôn giáo Á Châu, đó là trước hết, người ta có một cái nhìn tổng hợp, hài hoà về mọi thực tại, kể cả Thực Tại Tối Hậu, mà người ta gọi là Trời, Thiên, Đại Ngã, Brahman hay Đạo. Thứ đến, vì đây là một cái nhìn hài hòa, kết hợp âm dương, nội ngoại, siêu việt nội tại. Vì thế mà cách đạt tới thực tại là con đường phủ định, “via negativa”. Người ta không thể giải thích Thiên Chúa là gì, nên chỉ nói Người không phải như thế nầy, không phải như thế kia, do đó mà người ta quan niệm rằng nên dùng cái tâm hơn là dùng lý trí để cảm nghiệm chân lý.”
Kết:
Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu đúc kết:
“Phải giới thiệu Đức Giêsu Kitô như Đấng thỏa mãn những khát vọng sâu xa của con người, được diễn tả qua các thần thoại và văn chương dân gian của các dân tộc Châu Á» (Ecclesia in Asia, số 20, §5).
Tân Hoà, ngày 18 - 9 - 2002.
hkimt@catholic.org
Phần 1: Quan niệm thần và thánh.
I Thần và Thánh của Đất Việt.
1. Ý niệm Thần và Thánh.
Đất Việt phôi thai trong nền văn hóa nông nghiệp mang tính suy tư tổng hợp và thực tiễn. Thần linh có tính chất huyền thọai nhưng cụ thể, không nặng về siêu hình, có những con người cụ thể và có những đền miếu nhất định để tôn kính. Có Đền, có miếu nên phải có thần tích mà lưu truyền, mở hội. Những nơi không có thần tích thì cố vẽ lên, không viết được thì nhờ người giỏi chữ viết chế tác. Không có tích thì dân không tin, không thấy thần ấy là của mình. Nếu có dịp đi từ Bắc chí Nam, một điều được ghi nhận là chưa có nơi nào mà đền miếu nhiều đến như thế. Từ ngôi đền lớn đến những mái am nhỏ ở đâu cũng nghi ngút nhang khói tưởng nhớ, mang tình tự của một dân tộc trong chén nước mát trong; biểu lộ sự chân chất, mộc mạc trong cánh bông Trang đồng nội. Từ những mái am ngôi đền ấy, người ta gặp một hồn của một dân tộc trọng nghĩa, trọng tình, uống nước nhớ nguồn… bao giờ cũng còn là một tâm tình quan trọng trong đời sống.
Ý niệm thánh trong dân gian : “thường phải là những thần - người hoàn thiện, hoàn mỹ, là chỗ dựa tinh thần cho dân chúng”.
Thần có nguồn gốc Trời, có khi là thiên thần, Thuỷ thần, Sơn thần, Long thần, Thần cây, Thần đá, Thần đất. Thần ở đây không bàng quan trước thảm cảnh của dân chúng rõ nhất là trước hoạ xâm lăng. Trước hiểm hoạ ấy, Thần có thể hoá thân thành những con người cụ thể để cứu vớt, đánh đuổi ngoại xâm. Khi yên bình Đất Nước các Thần ấy lại bay về trời, chứ không ở để hưởng lạc trong thái bình. Quan niệm Thần cao cả ở đặc điểm này, và ở đây cũng biểu lộ lòng cao thượng của hồn Việt “cho đi không đợi đền đáp”. Thần không phải là những chuyện hoàn toàn hoang đướng, thường các chuyện về Thần lại xuất phát từ trong cuộc sống thường ngày, phác hoạ lại nguồn gốc của con người và ý nghĩa của cuộc sống con người.
Nguồn gốc Rồng cháu Tiên khởi đi từ nền văn hoá sông nước, Rồng là vật tổ của người Việt, rồng được hình tượng hoá từ giao long, mà người Việt xưa hay xâm trên mình khi xuống nước, họ sinh sống bằng nghề săn bắt thuỷ sản. Thánh là những thần giúp cho con người sống trong cơ cực có những cơ may thành tựu đạt được ước mong hạnh phúc. Trong một đất nước nông nghiệp, người dân sống nhờ nhiều vào thiên nhiên, cuộc sống nhiều cơ cực, loạn lạc và chiến tranh, quan niệm chữ thánh cũng đơn giản như trong cuộc đời của họ. Quan niệm về chữ Thần và Thánh có khi ở trong nhau, đan quyện vào nhau, không tách biệt nhau, có thể tìm hiểu qua các tích được ghi chép trong những ngôi đền và những câu truyện truyền khẩu quanh những mái am.
2. Thần mang thân người.
Nguồn gốc thần linh không xa lạ với con người, có khi hiện thân là cây đa, viên đá, luỹ tre, dòng sông, ngọn núi, ngọn lửa, rồng, rùa…hoá thân, đầu thai trong kiếp con người, và có gốc thần linh. Những thần linh trợ giúp người phàm trong những cơn nguy khốn, dạy cho dân điều này điều kia. Các thần lành cũng có những thần dữ nhưng cốt yếu cũng để răn đe người người tránh xa việc xấu mà làm việc tốt.
Năm vị Thần Đời Vua Hùng.
Chuyện kể rằng ở xã Cử Dương, huyện Thường Phúc, phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam có một vị quan trường là Hùng Liên, được Vua Hùng phong làm trấn thủ Sơn Nam, vợ là Tạ Thị Loan người ở châu Bảo Lạc. Hùng Liên 60 tuổi, vợ 40 tuổi mà chưa có con. Sau khi lễ Phật cầu tự, đêm đó ông bà nằm câu mộng trước hương án, nằm mơ thấy con rồng vàng diễu quanh phu nhân ba vòng, bà hoảng hốt tỉnh dậy kể cho chồng nghe. Ông biết rằng đó là điềm lành, dâng lễ tạ Phật. khi trở về bên bến sông Kim Ngưu, bãi Xích Đằng nghỉ chân, bà lội xuống dưới sông tắm, đang tắm thấy có con giao Long phun vào mình bà một thứ dầu thơm kỳ lạ. Bà thuật lại cho ông nghe, và ông biết rằng thuỷ thần sẽ sinh ra từ con của bà. Ba ngày sau bà thấy chuyển mình, rồi cưu mang đến 11 tháng, giờ Dần mùng 10 tháng 3 năm Giáp Tý, bà sanh ra 2 người con trai tướng mạo kỳ lạ: sau lưng có nhị thập bát tú nổi lên như vảy cá chép. Ông Hùng Liên thuật lại cho Vua Hùng nghe, Vua Hùng cũng nhận thấy sự lạ đặt tên cho ông thứ nhất là Minh lang, ông thứ 2 là Sát Hải. tặng cho đất Đổng Lý làm nơi thờ phụng sau này. Hai ông lớn lên học rất mau, tinh thông hơn người, giỏi văn võ. Năm ấy có lụt hồng thuỷ, hai ông được vua Hùng sai đi trị thuỷ. Đến Đổng Lý, đêm đó hai ông mơ đánh nhau với 3 viên tướng thuỷ tề. Tỉnh cơn mơ, hai ông thấy 3 con giảo long bị chém chết trôi trên sông, thế là nước rút, trả lại đời sống yên lành cho dân chúng. Hai ông ra về được phong cho trị nhậm đạo Sơn Tây. Làng Đồng Lý có một người tên là Lê Huân và vợ là Trương Thị Hoan, làm nghê trồng dâu chăn tằm. Một hôm bà ngủ thiếp bên nương dâu, nằm mơ thấy có 3 người con gái đến nằm chung với bà, nói:”chúng con là con gái vua Long Vương ở thuỷ cung xin đầu thai làm con họ Lê”. Sau một tháng bà có thai, đến 15 tháng 8 sanh một bọc có 3 cô con gái. Bà đặt tên cho 3 cô là Quế Hoa, Quỳnh Hoa và Mai Hoa. Mười sáu tuổi, ba cô đẹp như tiên, nữ công không thể chê trách, chỉ có điều ba cô không nói. Một hôm hai ông tuần du đến đây, thấy 3 người con gái đẹp, mới lân la hỏi lai lịch, và gọi cô Mai Hoa đến hỏi: “người ta sinh ra có miệng, có lưỡi, tại sao mà chẳng nói chẳng rằng”. Ba cô liền vụt nói: “ Từ nơi thuỷ phủ giang trần, có mồm còn đợi cố nhân tỏ bày. Mong nhau mười sáu năm nay, gặp chàng mới biết có ngày mai sau”.
Hai ông nghe nói liền tuyên bố với mọi người : “Kiếp trước chúng tôi là con vua Thuỷ tề Long Vương, ba cô này là vợ của chúng tôi”. Hai cô quế Hoa và Quỳnh Hoa gả cho Minh Quân, còn cô Mai Hoa gả cho Sát Hải Công. Sau ba năm trị nhậm sở Sơn Tây có giặc Phương Bắc kéo đến, Vua Hùng, lập tế đàn cầu trời, sau ba ngày ba đêm, mưa kéo đến, xuất hiện một ông lão cao hơn chín trượng, Vua Hùng thân hành ra đón vào Đàn tràng và hỏi:”nay có giặc ở phương Bắc đến xâm lược, được thua ra sao, xin cụ chỉ giáo”. Cụ già gieo quẻ và nói : Nếu tìm được người này thì giặc này chẳng đáng kể chi”. Sau đó Vua Hùng cho tìm được Phù Đổng Thiên Vương ra giúp nước. Vua Hùng sai hai ông cùng các vị thần núi thần sông đem 12 vạn quân trợ chiến. Hai ông cùng thiên vương chém được Thạch Linh thần tướng ở chân núi Võ Linh, quân giặc thua tan đàn. Thiên Vương phóng ngựa về núi Sóc Sơn, cởi chiến bào và bay về trời. còn hai ông về tới Đồng Lý, gío lốc nổi lên và hai ông trong cơn gió ấy cũng về trời cùng với những người vợ của mình. Sau gió tạnh người ta không gặp hai ông và ba cô nữa, dân làng lập Đền thờ các vị.
Cấu trúc của các câu truyện thần có một lược đồ chung:
Xuất thân: Từ một gia đình phúc hậu nhưng hiếm con, vào một thời điểm lịch sử giặc ngoại xâm hoành hành.
Đầu thai: qua một giấc mộng của bà mẹ tắm dưới ao, giao long cuốn hay phun ngọc, dẫm vào vết chân lạ, sao sa vào bụng, hiện thân về xin làm con…
Thời gian mang thai và sinh hạ: Dài ngày hơn bình thường và sinh ra một bọc mấy đứa hoặc trứng…
Thời thơ ấu của thần: Thông minh, tuấn tú, kiều diễm, nết na, có nhiều hiện tượng lạ khác người, không nói, lớn như thổi…
Sự nghiệp: Giúp vua đánh đuổi ngoại xâm, giúp dân làng khỏi những tai ương, khai làng, lập ấp, chỉ giáo cho dân một nghề nghiệp sinh kế…
Hành trạng: Có phép thần thông, khoẻ hơn người, đi như gió như mây, lúc ẩn lúc hiện…
Ngày Mất: khi hoàn thành sứ vụ các vị thần biến mất. Gọi là ngày hoá: Bay về trời trong một cơn lốc, biến hình hoá thân thành rắn, thành con vật thiêng…
Các cốt truyện về thần đều có những nội dung tương tự như thế, khát mong của con người là hạnh phúc, thái bình; cũng vậy, một tâm tính cao thượng người Việt được biểu lộ là trọng sự hài hoà, an bình, biết quên đi chính mình, trong các cốt truyện, kết thúc sứ mạng các vị thần tự biến mất.
3. Thánh là những người có công dựng nước.
Hiếu đạo bắt nguồn từ một tâm tình nhớ ơn sâu xa của người Việt. Thưở sơ khai, tâm thức nhớ ơn này được thần thánh hoá một cách rất thực tiễn bằng những câu chuyện cụ thể. Dĩ nhiên, trong mỗi cốt truyện không hoàn toàn được hiểu theo nghĩa mặt chữ, nhưng còn được hiểu là bức thư tín của người trước gửi người sau một sứ điệp cốt lõi quan trọng. Đọc những trang sử như vậy, không chỉ đọc dưới nhãn quan của nhà sử học nhưng còn được nhìn bằng nhiều góc cạnh khác để tìm ra sứ điếp trọng yếu cho từng giai đoạn lịch sử.
Đền Kinh Dương Vương.
Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc long Quân, Lạc Long Quân kết duyên cùng Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm con trai, năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển. Kinh Dương Vương có công khai sáng và công lao ấy được ghi nhận và tưởng nhớ trong ngôi Đền Kinh Dương Vương ở thôn Á Lữ, xã Đại Đông Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc ninh. Lăng và Đền được xây dựng rất lâu đời, không rõ năm, chỉ biết được năm trùng tu và đặt văn bia, triều Minh Mệnh, năm thứ 21 (1840).
Thần phả Đình Á Lữ có chép về đức độ của Kinh Dương Vương : “Kể từ khi Kinh Dương Vương, họ Hồng Bàng nối dõi Thần Nông, huý lời con gái vua Động Đình, sáng rỡ đạo vợ chồng, theo đúng người phong hoá, vua thì lấy đức cảm hoá dân, rủ áo khoanh tay, dân thì cầy ruộng, làm rẫy ra ngoài làm lụng, trở về thì nghỉ ngơi, chả phải là phong tục thái cổ của Viêm Đế ư”. Thần phả cho hay một điều cốt lõi: Người làm trên lấy đức mà cai dân, thì dân ấy được hưởng nhờ cảnh thái bình, yên ổn làm ăn, dẫu có cực khổ vẫn có lúc an nhàn nghỉ ngơi. Người Việt trọng Đức và cũng trọng Tài. Người thánh là người cả Đức và cả Tài đều song toàn. Thánh nhân hơn người ở đặc điểm ấy. Nếu Tài Đức song toàn, sử không ghi chép thì lòng người cũng ghi chép cho ngàn năm sau lấy đó làm gương.
Thần phả Đền Kinh Dương Vương tại Dình Á Lữ, còn ghi chép:
“Lạc Long Quân nối đời vì Hồng Bàng lấy con gái họ Âu Lạc mà có điềm lành sinh 100 con trai, tổ của người Bách Việt thực chất bắt đầu từ ấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đã giấu thọ lại nhiều con trai từ xưa đến nay chưa từng có, Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban tước họ để vỗ yên dân”.
Thánh là những người được có hậu duệ nối dõi tông đường phúc đức, được lâu dài và trường tồn. Những triều đại an dân, phúc thịnh đều được ghi nhớ và truyền tụng. Việt Nam phôi thai trong khung cảnh thái hoà như thế, con cháu sống trong hiếu đạo cố công mà gìn giữ.
Đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương:
Thần tích có khi cũng nhằm giải thích sự kiện: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tinh thần của người Việt là hài hoà, sự hài hoà giữa các sắc tộc có chung một riềng mối, cùng một gốc tổ, cùng một gia phả con rồng cháu tiên.
Thần phả ghi lại: Lạc Long Quân cho mình là loài ở nước giống Rồng không ở mãi với Âu Cơ là giống Tiên, liền chia, cha dẫn 50 con xuống trị nhậm các vùng sông bể, đầm lầy vào tới tận Hoan Châu (Nghệ An), Bà Âu Cơ đi ngược sông Hồng lên núi đi tới vùng Hiền Lương (Xã Hiền Lương, huyện Sông Thao), thì nghỉ chân. Bà thấy ở đây đất tốt, người thưa mới lưu các con lại, dạy dân lấy lửa đốt núi mà trồng lúa, các bãi ven sông Hồng thì trồng mía trồng dâu. Bà Âu Cơ còn dạy dân đào giếng lấy nước, không ăn nước sông, nước suối, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, ép mía nấu đường, làm bánh từ bột nhào với nước mía, chưng trên nồi chõ, gọi là bánh Uôi. Khi dân Hiền lương biết trồng lúa, trồng dâu dệt lụa, làm bánh, Âu cơ để lại ở đó một người con, rồi ngược sông Thao đi lên phía Bắc. Khi bà Âu Cơ mất người ta dựng một ngôi Đền để nhớ công ơn của Ba, Đây là ngôi Đền Mẫu đầu tiên trên đâ1t Việt. bà cũng là Mẫu sớm nhất của người Việt cổ, vì bà sinh ra các vua Hùng những ông vua đầu tiên khai sinh ra đất Việt. Mẫu Âu cơ tượng trưng Đất Mẹ và là người gốc tiên ở trên núi, Lạc Long Quân gốc Rồng nên trị vì miền nước. theo quy luật âm dương thì ở đây có sự giao thoa theo cách người Việt : “trong âm có dương và trong dương có âm”. Cha Rồng là dương ở vùng sông nước, mang sắc thái âm. Mẹ Âu cơ tượng trưng đất Mẹ là âm nhưng lại cư ngụ trên núi mang sắc thái dương. Trong Đền Miếu nào ta cũng thấy sự hài hoà giữa âm dương này, đây là sự biểu lộ tính cách ưa thích sự hài hoà, dễ chấp nhận, trọng sự an bình, trọng sự hoà hợp giữa người và người, giữa người và vạn vật cũng như giữa người và thần linh của người Việt trong nhiều khía cạnh của cuộc sống.
Đền Vua Hùng:
Vị trí Đền Vua Hùng, đặt trên núi Nghĩa Lĩnh, rừng Hy Cương, thôn Cổ Tích, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ( VĨnh Phú).
Tích xưa đất Việt kể lại trong nhiều sử sách, hơn 2000 năm cơ đồ an bình, hưng thịnh, trải qua 18 đời vua Hùng, tổ tiên Bách Việt. Truyền đến 5 đời thì đến Chiêu Vương, vị vua có tiếng tài đức song toàn, tôn kính thần linh, đóng đô ở Việt Trì sông Bạch Hạc, đặt quốc hiệu là nước Văn Lang, thủ đô là thành Phong Châu. vị trí Đền Vua Hùng, đặt trên núi Nghĩa Linh, nhìn về phía Đông là dãy núi Tam Đảo thuộc hai tỉnh Vĩnh Yên và Thái Nguyên. về phía Nam là dãy núi Cánh Phượng, là núi Ba Vì hay còn gọi là Tản Viên, thuộc tỉnh Sơn Tây, quê hương Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu). Ngọn núi Ba Vì và núi Tam Đảo nằm hẳn trong sương như thực như ảo, giữa hai dãy núi hai dòng sông cuộn chảy là sông Lô và Sông Thao, gặp nhau ở Bạch hạc, cố đô Phong Châu.
Cấu trúc của Đền Vua Hùng là một cấu trúc biểu lộ tâm hồn tôn giáo của Đất Việt, một cách điển hình, mỗi công trình đặt để một huyền nhiệm của dòng lịch sử chảy trôi, người đến viếng nơi đây đều có một cảm nghĩ, nối thực tại với người xưa. L. Cadière có lần nhận xét: “phải thừa nhận rằng người Việt nói cho đúng sống trong thế giới siêu nhiên. Đại thể thì người Châu Âu khó mà hiểu được trạng thái siêu nhiên này, nơi người Châu Âu tôn giáo đôi khi chỉ là một vài tin tưởng, một vài thực hành, thường chi phối họ trong một khoảng không gian hay khoảng thời gian trong một ngày sống, một phần nhỏ trong hoạt động. Người Châu Âu vốn sùng đạo, nhưng thường vẫn không sống thường xuyên với Thượng Đế của mình. Người Việt thì không thế, ngoại trừ một số người hấp thụ nền văn minh tân tiến, dù ở giai cấp nào đều cảm thấy mình đang sống chung với thần thánh trong thiên nhiên, những thần thánh luôn hoạt động với loài người và đảm bảo thành quả nỗ lực của con người. Trong sự may rủi xảy đến, nhất là điều rủi, người Việt luôn thấy rằng mọi việc đều biểu lộ sự can thiệp của tổ tiên hay thần thánh”.
Công trình Đền Hùng được cấu trúc thành ba tầng:
Từ cổng Đại Môn người ta sẽ thấy ngay hàng Đại Tự bằng chữ Hán “cao Sơn cảnh Hàng”. dưới chân núi là Đền Lớn. Vượt 225 bậc xi măng, chúng ta sẽ thấy Đền Hạ, nơi mà xa xưa bà Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở ra thành một trăm người con trai. Ý niệm người xưa đông con là có phúc.
vượt lên 168 bậc nữa là Đền Trung, là nơi xưa kia Vua Hùng thường lui tới cùng các lạc tướng để bàn việc nước. cũng nơi này Lang Liêu đã dâng vua cha những chiếc bánh chưng và bánh dây, tượng trưng cho triều đại vuông tròn và cũng tượng trưng cho sự kiện trời đất chứng giám cho lòng thành của người con.
Vượt lên 102 bậc nữa, gặp Đền Thượng, nơi đây ngày xưa vua Hùng cùng các quan thần, lão làng lập tế đàn cầu xin trời đất, cầu xin vị thần nông cho mùa màng tươi tốt. đây cũng là nơi vua Hùng thứ 6 lập Đền thờ Thánh Gióng, sau khi đánh đuổi giặc Ân, cạnh ngôi Đền có ngôi làng nhỏ và ngôi mộ cổ kính là Mộ Tổ. trước Đền chếch về bên trái có cột đá cao trên 100 mét, đường kính khoảng 30 cm, theo truyền thuyết là cột đá thề. Tục kể rằng An Dương Vương khi lên ngôi vua đã thề gìn giữ giang sơn của vua Hùng trước vong linh tiên tổ.
Từ Đền Thượng nếu phóng tầm mắt nhìn ra xa, có thể thấy 99 ngọn núi lớn nhỏ, hình dáng giống như bầy voi quỳ hướng về núi Mẹ, riêng một con bị mất đầu vì “ăn ở ra lòng tư riêng”, mãi mãi bị tách lìa bầy đàn. Đây cũng là bài học từ ngàn xưa để lại “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết.
Thiết tưởng vùng đất này đã trở nên vùng đất thiêng thánh của Đất Việt, nơi mà hầu hết những người con Đất Việt đều hướng lòng về khi ngày lễ giỗ tổ “Mùng Mười Tháng Ba”. Gốc của Đạo Hiếu có lẽ cũng là đây, chỉ riêng tỉnh Vĩnh Phú đã có hơn 700 nơi thờ vua Hùng và dòng dõi cùng tướng lĩnh.
Chữ Thần Thánh trong Đền Vua Hùng này, cho thấy:
Lòng ngưỡng mộ tri ân “uống nước nhớ nguồn” lớn lao là vậy, điều đó nhắn nhủ với con cháu gìn giữ lấy Đất Nước này, như cột đá thề đã từng chứng giám An Dương Vương đã tuyên thệ trước vong linh tổ tiên. Phản bội lại lời thề sẽ giống như con voi mất đầu xa bầy riêng lẻ, mãi mãi là kẻ cô độc, không nguyên vẹn hình hài.
4. Thánh là người có công giữ nước.
Rất nhiều những vị vua, tướng lĩnh cũng như quan lính được ghi nhớ vào hàng thần thánh. Không kể nam nhi hay nữ nhi. Dòng lịch sử ghi nhận, Lạc long Quân chinh phục thủy quái, cáo chín đuôi, mộc tinh. Hùng Vương thứ 6 đánh giặc An, An Dương Vương đánh Tần . Triệu Đà, Hai Bà Trưng đánh Đông Hán. Lý Bí Triệu Quang Phục chống Lương, Mai Hắc Đế. Phùng Hưng chống nhà Đường. Ngô Quyền chống Nam Hán. Nhà Lê các vua Lý chống giặc Tống. Trần Nhân Tông chống Nguyên - Mông, Lê Lợi chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Lịch sử không thiếu những bậc vua vì dân vì nước và cũng không thiếu các tướng lĩnh giúp vua như : Phù Đổng Thiên Vương thời Vua Hùng thứ 6, Lý ông Trọng thời An Dương Vương. Thánh Thiên, Bà Lê Chân, Vũ thị Phục thời Hai Bà Trưng, Lý Phục Man thời Lý Nam Đế; Trương Hống, Trương Hát, Triêu chí Thành thời Triệu Việt Vương. Lý Thường kiệt thời Lý, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão thời Trần; Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú thời Lê; Vũ Đình Huấn thời Quang Trung. Ngoài ra còn có các quan văn có nhiều công lao được tôn kính như Tống Trần thời Triệu Việt Vương, Lý Đạo Thành, Tô Hiến Thành thời Lý; Chu Văn An, Nguyễn Biểu thời Trần, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ thời Lê, Ngô Thời Nhậm thời Quang Trung. mỗi thời đều có nhân tố được tôn kính và là tinh hoa của từng triều đại. Không thiếu những thánh nhân trong đời sống.
Trưng Vương.
Làng Hạ Lôi nằm bên trong đê tả ngạn Sông Hồng, thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là Xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Thành Phố Hà Nội. Theo thần phả của làng Hạ Lôi, trươc đây làng có tên là Cổ Lôi trang, là làng của người Việt Cổ. Hai Bà Trưng, sinh ra trên mảnh đất này, ở Xóm Đường, trang Cổ Lôi. Cha là Lạc tướng của Mê Linh, danh tánh là Hùng Định, mẹ là Trần thị Đoan. Hai bà chịu cảnh cha mất sớm, mình bà mẹ ở vậy nuôi con, bà mẹ là người có tài và trọng đức, bà đã giáo dục hai con của mình theo tinh thần thượng võ, đức hậu.
Trưng Trắc lớn lên là người tài sắc, bà kết duyên cùng Thi Sách, con trai của Lạc tướng Chu Diên.
Hoàn cảnh đất nước thời bấy giờ chịu sự lệ thuộc vào nhà Đông Hán, từ năm Kiến Vũ thứ 10 (Nhà Hán), Tô Định làm quan thái thú Giao Chỉ. Mã Viện có lần còn nói thật về con người của Tô Định: “Tô Định giương mắt lên vì tiền”. Không sai, người Trung Hoa muốn xoá sổ dân tộc Việt Nam, xoá bỏ tên gọi, sát nhập thành một quận của Trung Hoa, gọi là quận Giao Chỉ. Nỗi nhục vì mất nước, nỗi khổ vì trở thành thuộc địa, cái đau của những con người bị áp bức đã khiến nhiều nơi nảy lên những cuộc đấu tranh. Máu của người Việt đã đổ khắp nơi. Thi sách chồng bà Trưng Trắc cùng với em trai mình là Thi Huy và nhiều người khác cùng chuẩn bị khởi nghĩa. Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị cũng giúp chồng tuyển quân, chuẩn bị binh lương. Công việc bị lộ, Thi Sách, Thi Huy và nhiều người trong cuộc khởi nghĩa bị giết chết.
Đứng trước thảm cảnh đó, tháng 2 năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở sông Hát. Nghe tiếng Hai Bà Trưng khởi nghĩa, nhiều tướng lĩnh ở những cuộc khởi nghĩa âm ỉ khắp nơi, tuôn về đứng dưới lá cờ chiến đấu của Hai Bà. Ở Hưng yên có Trần Thị Mã Châu, xã Quảng Châu (Tiên Lữ), Trần Lữ ở trang Đào Đầu (Tiên LỮ), Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Hải Dương, Lê Chân ở Hải Phòng, Đỗ Năng Tế ở Hà Đông - Sơn Tây, Lê Thị Hoa ở Thanh Hoá, Thiều Hoa, Vũ Thị Thục ở Phú Thọ…Hai Bà Lập đàn thề ở Hát Môn tế cáo trời đất lời thề: “Một xin rửa sạch nước nhà, Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba, kẻo oan ức lòng chồng. Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này. Sau lễ tế, từ sông Hát những chiến sĩ lên đường đánh tan những thành trì của giặc. Tại thành Luy Lâu của Tô Định đóng quân, Tô Định đã bỏ cả ấn tín, vàng bạc, vặt râu, thay áo, chui qua lỗ chó, bỏ chạy thoát thân mà về Nam Hải (Quảng Đông). Dẹp xong giặc bà Trưng Trắc lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh, xá thuế cho dân trong 2 năm, cắt cử các tướng quân đi chiếm lĩnh các thành trì. về cuộc khởi nghĩa này, sử gia Lê văn Hưu, thế kỷ thứ XIII viết : “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà hô một tiếng mà cả Cừu Chân, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Nam đều hưởng ư1ng. bà dựng nươ1c, xưng vương dễ như trở bàn tay. Như thế thì thấy hình thế đất Việt ta có thể được cơ nghiệp bá vương”. chẳng những chính sử đã ghi chép mà cón thấy lịch sử Trung Hoa cũng nói tới người nữ anh hùng này.
Hán Quan Vũ không cam phận chịu mang nỗi nhục thua dài trước nữ nhi của đất Việt, đã hạ lệnh cho các quận huyện ở Hoa Nam sắm sửa thuyền bè khí giới, xe cộ, xua quân vào tái chiếm Giao Chỉ. Hán Vương phong cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, đem 20.000 quân, 2.000 chiến thuyền sang đánh. Mã Viện theo đường Lạng Sơn đã bị nữ tướng Thánh Thiên và các tướng khác đánh cho đại bại, chạy về Trung Quốc. Từ Hợp Phố qua Khâm Châu, Phòng Thành vượt biên giới tới Đông Hưng (Trung Quốc). từ đây Mã Viện chia thành hai cánh quân thuỷ và bộ rồi vượt sông Ka Long sang Móng Cái, Tiên Yên, Hòn Gai rồi theo đường bộ và đường biển vào sông Bạch Đằng hợp đầu quân Ở Lục Đầu Giang, Phả Lại.
Hai Bà Trưng lập phòng tuyến ở Lãng Bạc, một vùng đất trũng giữa hai bờ sông Cầu từ Đông Triều đến Yên Phong. trận đánh dữ dội, quân của Hai Bà chết khoảng 10.000 quân, cuộc chiến kéo dai gần một năm thì quân Hai Bà tan rã. Bà Trưng Vương bị tử thương, các tướng sĩ quyết đánh giải vây đem xác Bà về an táng tại khu vực Đền Hùng.
Voi của Trưng Nhị cũng bị quân giặc đâm chết. trước tình thế nguy biến không để giặc bắt làm nhục bà Trưng Nhị đã gieo mình xuông sông Cẩm Khê tự tử. dân chúng ở ven sông Nguyệt Đức vớt được giải yếm, giải áo của bà Trưng Nhị lập miếu thờ bà ở Xuân Đài, miếu Gia Phú, làng Cẩm Viên xưa có hai mộ Ông Voi.
Dân chúng tại quê Hai Bà ở Hạ Lôi lập Đền thờ trên nền nhà cũ của Hai Bà. Hình thế của đất Đền mang hình chim Diều Hâu đang dang cánh, tương truyền được xây dưng từ thời Đinh Tiên Hoàng.
Người Việt tin rằng bao lâu còn Đền miếu thờ các anh hùng bấy lâu Đất Nước còn. Và lịch sử đã minh chứng cho niềm tin ấy.
Bà Lê Chân.
Một nữ tướng xuất thân từ làng An Biên, (nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), con của cụ Lê Thái Bảo, không chịu cúi đầu làm tỳ thiếp cho Tô Định, đã bỏ trốn ra cửa biển (Hải Phòng), khai hoang, lập trại, lấy An Biên quê bà đặt tên cho trại. bà thu hút nhiều người tài giỏi, xây dựng trại An Biên thành căn cứ quân sự và cũng là nơi sản xuất nhiều lúa gạo, cá mắm…đóng chiến thuyền.
Giặc Đông Hán thấy có nhiều tin loan truyền về trại An Biên, nên cho quân đi do thám và bao vây. nữ tướng Lê Chân trong tình thế ấy phát lệnh khởi nghĩa. giặc rất sợ uy danh của bà, và gọi bà là: “Con cá Kình biển Đông”. Mùa Xuân năm 40, Bà Lê Chân đem quân ra cùng với Hai Bà Trưng đánh chiếm nhiều thành luỹ của giặc. tại Luy Lâu, quân của Bà Lê Chân hợp lực cùng quân của Hai Bà Trưng đánh tan Tô Định. Sau trận đánh này, Hai Bà Trưng phong cho bà lê Chân làm chức “Chưởng quản binh quyền nội bộ” và giữ trại An Biên làm nơi trấn thủ vùng biển.
Thua Mã Viện bà Trưng tử trận ở sông Hát, Bà Trưng Nhị tuẫn tiết ở sông Cẩm Khê, Bà lê Chân rút quân về Lạt Sơn, là vùng núi non hieểm trở, bà đã lấp suối, ngăn sông, chặn đánh thuỷ quân giặc Hán. Sau khi đánh bại các tướng lĩnh khác Mã Viên tập trung quân bao vây căn cứ Lạt Sơn. Trong trận huyết chiến ngày 25 tháng chạp năm 43, bà Lê Chân đã hy sinh.
Nghe tin Bà tử trận, dân chúng tại trại An Biên lập bài vị, miếu thờ. Ban đầu miếu là mái tranh mãi đến năm 1919 mới xây dựng thành Ngôi Đền Nghè lớn như ngày nay.
hằng năm dân chúng mở Hội 3 ngày:
Ngày 8 - 2 là ngày sinh.
Ngày 15 - 8 là ngày thắng lớn.
Ngày 25 - 12 là ngày hy sinh.
Thái Uý Lý Thường Kiệt.
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm 10119, quê phường Thái Hoà, Thành Thăng long. Là một con người chí khí, say sưa thánh hiền. Triều Lý Thái Tôn ông được phong chức Hoàng Môn Chi hậu, mấy lần được thăng chức Đô tri ở Nội Sảnh, Lý Thánh Tông phong cho ông làm Thái Bảo, trao cho Tiết Việt. năm Thiên Hướng Bảo Tượng thứ 2 (1059) trước việc Nhà Tống viện trợ cho vua Chế Củ, vua nước Chămpa để đưa quân sang đánh miền Nam nước Đại Việt, và quân Tống đánh phía Bắc. Trong tình hình đó, Lý Thường Kiệt cùng vua Lý Thánh Tông đem quân đi đánh Chămpa để dẹp tan thế liên minh đó, bắt được Chế Củ vua nước Chămpa, Chế Củ phải cắt ba đất: Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) cho nhà Lý.
Do công lao ông được phong là Phụ quốc Thái Phó và nhận chức Tiê1t Độ cho các trấn xa, đồng trung thư môn hạ, Thiên Tử Nghĩa Đệ Phụ Quốc Thượng Tướng quân, Khai quốc Công.
Năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, Lý Nhân Tông mới 7 tuổi lên thay, vua Tống coi đó là thời cơ đánh Đại Việt. Vua Tống tập trung quân đánh ở 3 châu :Ung, Khâm liêm để xâm lược Đại Việt. LýThường Kiệt chủ trương tấn công giặc trước. Kế sách của Lý Thường kiệt là dương Đông kích Tây.cuối táhng 9 năm Ất Mão (10- 1075) Tồng Đản vượt biên giới đánh phá năm liên trại. Lý Thường kiệt chỉ huy 60.000 quân vướt biển đánh vào Nhà Tống. Lý Thường kiệt chia quân thành hai cánh đánh Khâm Châu và liêm Châu. tướng Tông là Trần Vĩnh Thái phải xin hàng, tướng Lỗ Khánh Tồn ở Liêm Châu bị hạ. ngày 4 táhng giêng năm Bính Thì (11 - 2 -1076, quân ta bắtđược trên 10.000 binh sĩ Nhà Tống, Trương Thủ Tiết chỉ huy cánh quân này bị giết chết. Ngày 1 tháng 3 năm 1076, sau 41 ngày Đại Việt hạ được thành Ung Châu. biết quân Tống sẽ có âm mưu xâm lược trở lại, Lý Thường Kiệt cho quân đi do thám, biết rõ quân Tống sẽ đưa 10.000 bộ binh, 1.000 ngựa và 20.000 dân phu. cuối năm 1076 quân Tống tràn vào Nước ta, trấn thủ ở dọc sông Cầu không cản ổi quân Tống, Quách Quý tướng của nhà Tống cho bắc cấu phao vượt sông để chọc thủng phòng tuyến Sông Như Nguyệt, một cánh quân đã tiến về Thăng Long, Lý Thường Kiệt tổ chức phản công, quân Tống bị thiệt hại nặng, rút chạy về phía Bắc sông Cầu. Hai Hòng Tử Hoàng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiến thuyền đánh sang bờ Bắc đều bị hy sinh. Lý Thường Kiệt dẫn đại quân đánh thốc sang bờ, quân Tống đại bại. giữa lúc đánh tại trại giặc thì từ Đền Trương Hống, Trương Hát ở bờ Nam sông Như Nguyệt, dòng thơ thần được ngâm lên : “Nam quốc Sơn hà, Nam Đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Như đẳng hành khan thủ bại hư”.
Sau khi giặc Tống tan, năm đầu Long Phù (1101) ông được thăng lên chức nội thị phán thủ đô áp nha, coi tất cả công việc trong ngoài điện. Ông còn dẹp yên loạn Lý Giác, và giặc Chiêm, sau đó năm thứ 5, ông mất, được tặng nhập nội điện đô tri kiểm hiệu Thái Uý, bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc Công và thực ấp vạn hộ.
Lý Thường kiệt được dân chúng yêu mến nhờ tài binh thao và chí khí kiên cường, đứng đầu các tước hầu. Ông được phong thần và dân chúng lập Đền thờ ở quận Đống Đa, Hà Nội.
5. Thánh những người chân đất.
Hai cuốn sách ghi chép những sự tích có tính truyền thuyết nhất là cuốn “Lĩnh Nam chích quái” và cuốn “Việt Điện u linh”, có thể tìm thấy những dấu vết của các thành hoàng. Ngoài ra, những thần tích, phần lớn do Nguyễn Bính (Thế kỷ 16) và Nguyễn Hiền (Thế kỷ 18) soạn, nhưng dân chúng vẫn cứ thành kính tin rằng đó là sự thật - một sự thật không có trong thực tế nhưng có trong tâm linh. Những thần tích được Nguyễn Bính soạn thảo được nhà vua phê chuẩn và gửi về cho các làng và các làng khi đón nhận về thì mở hội và đưa vào Đền Miếu của mình. Ngoài những thần tích của Nguyễn Bính và Nguyễn Hiền biên soạn, một công lao khác nữa cũng cần được nhắc tới, đó là những người trí thức ẩn mình sau luỹ tre làng, âm thầm chế tác. Thần tích xét về mặt tâm linh có những ảnh hưởng nhất định của nó trong đời sống dân chúng, đó là phác hoạ con đường hướng thiện cho nhiều người đi theo, phản ảnh cái đẹp trong cuộc sống từ trong suy nghĩ đến hành động.
Thánh có khi là những người nông dân, không có sắc phong của triều đình, không có chiến công hiển hách chống ngoại xâm hay lập làng lập nước. Họ là những người chân đất thật sự, không có gì ngoài cuộc sống bình dị của họ, thuỷ chung và sống thiện và trở nên thấn thánh. Dân gian lại tin rằng những người bình thường, càng tầm thường khi hiển thánh lại càng thiêng.
Vợ chàng Trương.
Xưa ở Huyện Nam Sang thuộc tỉnh Hà Nội, nay là thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, Huyện Lý Nhân, tỉnh hà Nam có người con gái tên là Vũ Thị Thiết có nhan sắc nết na, lấy người chồng cùng làng tên là Trương Sinh. Tính người ấy hay nghi hoặc, nàng thấy chồng như thế càng giữ gìn ý tứ. Vợ chồng lấy nhau chưa được bao lâu nàng ấy có thai, chưa được bao lâu thì chồng đi lính đánh giặc Chiêm. . sau đó nàng sinh được một người con trai đặt tên là Trương Đản, nuôi con lớn khôn đến khi bập bẹ biêt nói, Đản thường hay hỏi: “Bố đâu?”. Nàng chẳng biết thế nào giải thích cho con hiểu là bố đi lính, nàng chỉ vào bóng của mình trên vách và nói: “Bố con đấy”. Chú bé tin điều ấy là thật nên mỗi tối khi thắp đèn lên, Đản lại ra mon men chơi với bố.
Vài năm sau tan giặc Chiêm, Trương Sinh được giải ngũ về nhà, Trương Sinh muốn ẵm con ra nghĩa trang viếng mộ mẹ, đứa bé dãy nảy lên không nhận Trương Sinh là người cha nó, nó nói: “Không phải bố, đến tối bố mới về!” Trương Sinh hỏi kỹ hơn, đứa bé trả lời:”Bố tôi không biết nói, ông không phải là bố tôi”. Trương Sinh hỏi đứa con hình dạng người bố ra sao, đứa trẻ trả lời: “Đêm nào cũng thấy bố tôi về, mẹ tôi đi thì bố cũng đi, mẹ tôi ngồi, bố tôi cũng ngồi, mẹ tôi đứng, bố tôi cũng đứng”. Trương Sinh nghi ngờ vợ trong khi mình vắng nhà đã ngoại tình với người khác, vợ thanh minh sao cũng không chịu và cả hàng xóm khuyên thế nào chàng Trương cũng không nghe. uất ức cho tình ngay mà lý không ngay, vợ chàng Trương nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vận. Đến tối chàng Trương về nhà, thì đứa con chỉ vào vách tường reo lên : “Bố tôi đến kìa”. Chợt tỉnh chàng Trương đã hiểu trong những ngày chàng đi vắng vợ mình thường chỉ vào vách tường theo bóng của mình mà nói với con là bố của nó. Ân hận cho việc cố chấp hiểu sai về vợ mình, chàng lập đàn giải oan cho vợ bên bờ sông Hoàng Giang. Sau 3 ngày 3 đêm, chàng bỗng thấy 90 cỗ xe, cờ quạt rợp bóng nổi lên giữa sông, có nàng thiếu phụ nói rằng: “Giã ơn chàng có lòng giải oan cho tôi, nhưng mà đấng thượng đế thương tôi là người tiết nghĩa đã cho tôi ở trê cung tiên”. Nói dứt thì nàng biến mất. dân chúng thương nhớ người thiếu phụ tiết nghĩa, thuỷ chung vì hiểu lầm mà chết oan, nên lập miếu thờ bên bờ sông Hồng ấy. quanh năm có nhiều người đến miếu thắp nhang tưởng nhớ.
Qua các tích phong thần, người ta thấy chung có những giá trị riêng biệt truyền thống được duy trì qua những nhân vật thật hoặc không thật:
- Hiếu Đạo: Quế Hoa, Lang Liêu, Ngũ Vị Đại Vương Phúc Thần, Đào An, Đào Ý , Quách A - người con gái của Ngã ba Bạch Hạc...
- Người có lòng nhân: Đinh Dương Công, Nguyệt Tinh Công Chúa, người Họ Đặng huý là Cẩn, vợ là Phụng Thị, người Họ Hoàng và Vợ người Họ Phạm, Phạm Hồng và vợ là Hoàng thị Khanh… một việc xấu dù nhỏ vẫn không làm, một điều thiện dù nhỏ vẫn cố gắng; tu thân tích đức để viên tròn quả phúc.
- Thuỷ chung: Mỵ Châu, vợ chàng Trương…
II Thành Hoàng một tín ngưỡng.
Ý nghĩa của từ ngữ: Thành Hoàng là tên gốc từ Hán Việt: “Thành” là cái thành, “Hoàng” là cái hào đào sâu chung quanh cái thành để bảo vệ cái thành ấy, “thần hoàng” là vị thần coi giữ bảo trì cho làng hay thành. Sử dụng từ ngữ này ở Việt Nam, theo sự kiện gián tiếp là ngôi đình. Sử liệu cho biết, vào thời Trần, các làng đã dựng những ngôi Đình trạm để thờ Phật, nơi dừng chân nghỉ của các khách bộ hành. Năm 1231 Trần Thừa bắt các đình trạm dựng tượng Phật để thờ. Năm 1474, triều đình lại can thiệp vào việc thờ thần của tư nhân lập ra để thờ thần và có ruộng hậu tức là ruộng thờ. Như vậy, có thể suy luận, từ năm 1474, đã có những ngôi đình không còn đặt tượng Phật nữa mà thay vào đó là những vị Thần Hoàng. Theo tác giả Vũ Ngọc Khánh dựa vào tài liệu sử sách xưa cho biết: Từ khoảng thế kỷ thứ 9, nước ta đã có vị thành hoàng đầu tiên, do Cao Biền và Lý Nguyên Hi tôn vinh, hiệu là Đô Phủ thành hoàng thần quân. Chữ thành hoàng có từ đó, và đó là thành hoàng Đại La mà thôi. vị thành hoàng nay có tên là Tô Lịch.
Cộng đồng sinh sống cơ bản của người Việt xưa là làng, xuất hiện do văn hoá nông nghiệp là văn hoá cộng đồng, đồng cảm, đồng mệnh “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” . Đình làng là trung tâm của đời sống cộng đồng làng xã, là nơi hội họp của các hương hào cũng như dân làng, nơi xử kiện, nơi thờ vị thành hoàng, mở lễ hội của làng… Trong mỗi Đình làng đều thờ một vị thành hoàng nào đó của một làng. Không phải làng nào cũng là chiếc nôi sản sinh ra các anh hùng dựng nước và giữ nước, nên đã từng có những hội nghị làng để chọn vị thành hoàng cho làng, hoặc thờ chung một vị thần cho nhiều làng. Có thể kể ra rất nhiều vị thần được thờ chung cho nhiều làng như:Lạc Long Quân, Ỷ Lan, Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thánh Gióng, Thánh Trần… Tuy có sự thờ chung thần nhưng thần tích của mỗi làng lại mỗi khác, tuỳ theo sự thêm thắt cho thêm sắc thái của vị thần làng. Có những nhân vật thần hoàng không có ghi nhận trong lịch sử dân tộc, nhưng cho biết một điều khác mà tâm tình chung muốn diễn tả: Mọi địa phương muốn đóng góp vào việc dựng xây đất nước bằng những tài năng cao quý nhất của làng mình. Điều ấy cho thấy tâm hồn tôn giáo người Việt xưa, là gắn bó với tổ tiên, gắn bó với cội nguồn Đất Mẹ. “Thần hoàng” là những con người lịch sử chiếm đa số và phổ biến nhất ở Đồng bằng Bắc Bộ. Thí dụ, riêng ở Bắc Ninh thống kê được có 600 vị thần hoàng, thì đã có 496 vị là nhân thần có tính cách lịch sử.
Các nhân vật lịch sử được thờ nói lên một bài học yêu nước của dân tộc, trải qua nhiều thế hệ, từ lập nước đến giữ nước, triều đại nào cũng có những anh hùng trên những mảnh đất nhất định. Lòng yêu nước được lưu truyền theo tín ngưỡng thần hoàng là bài học nhắc nhớ lâu bền nhất trải qua thời bình trị cũng như thời chiến.
6. Thần Hoàng có nguồn gốc thiên thần:
“Thiên” có nghĩa là trời, được nhân hoá hay chưa được nhân hoá, có những đặc điểm như:
Thống lĩnh Hào Quang, Tích Lịch Hào Quang (Thần Hào Quang) thờ ở thôn Đông Khê, Pháp Thượng, Thuỵ Ứng thuộc Đan Phượng. có trường hợp các vị thần Hào Quang đã nhập vào lá phướn của Đạo Phật.
Thành Hoàng là Tứ Pháp (Sấm, chớp, mây mưa) được thờ ở nhiêu lưu vực sông Hồng. Có địa phương, thờ Ngũ Lôi, biến dạng từ Tứ Pháp: Nhất Phong, Nhị vũ, Tam vân, Tứ Diện, Ngũ Lôi thờ ở Hạ Kỳ, Nghĩa Hưng (Nam Định).
Thành Hoàng là một số vì sao: Nam Tào, Bắc Thần, thờ ở An Điều - Đan Phượng - Hà Tây, Nữ thần Sao Sa (thôn Duyên Lãng - Trực Ninh, Nam Định) hay Tam Tinh Đại Vương được thờ ở Đinh Nội thôn Đình Xá (Chương Mỹ - Hà Tây).
Các vị tiên, các thần linh trong Đạo giáo, cao nhất có Ngọc Hoàng (Nam Phong, Nam Trực), Tề thiên, Thiên quan Đại Vương (Nam Diện, Nam Dương, Nam Trực) các Thánh Mẫu trong Tam phủ, Tứ phủ, Tứ vị Thánh Vương Mẫu Liễu, Chủ Đồng Tử - Tiên Dung - Tây Sa…
Nhìn chung, người Việt trong khi tiếp xúc với các nền văn hoá có tính dung hợp các tôn giáo, có thời Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo Đồng Quy, đến thời có một tôn giáo hoàn toàn Việt Nam ra đời, tổng hợp từ Phật Giáo và Đạo ông bà làm nên Phật Giáo Hoà Hảo. Đạo Cao Đài là biểu lộ rõ nhất tính tư duy tổng hợp của người Việt Nam, trong đó thờ tất cả những vị thần thánh được hiển dương, hiển thánh.
7. Nguồn gốc của Thần Hoàng:
Thành Hoàng có nguồn gốc nhiên thần: Theo tính chất của văn hoá nông nghiệp, cặp phạm trù cơ bản là Âm - Dương, khởi đi từ vũ trụ luận nguyên sơ của Đông Phương là Sơn - Thuỷ, Đất - Nước, tương khắc và tương sinh, có khía cạnh song đối, con người sống được là nhờ sự hài hoà của trời đất, sông núi này. Thánh nhân là người sống sự hài hoà giữa trời và đất này ở trong mình.
Việc bảo trợ của các vị thần có sơn thần và thuỷ thần: Sơn thần có những vị như: Cao Sơn thần, Cao Sơn Đại Vương, Quý Minh Đại Vương, Cao Sơn Quý Minh, Sơn tinh, Cao Hiểu, Cao Khánh, Miêu sơn Kiều Lộ, Tản Viên thân…Thuỷ thần có những vị như Long Vương, Đại Càn, Tan Giang, Đông Hải Đại Vương, Thuỷ Tề Đại Vương, Trương Hống - Trương Hát được thờ ở 316 đền dọc bờ sông Như Nguyệt, Tổng Hậu… gắn với các vị thuỷ thần thường có những thần mang xác loài vật như : Rắn, Rùa, cá, baba, Rồng…
Thành Hoàng có nguồn gốc Nhân Thần: Nhân vật có lịch sử như Hai bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Công Trứ, Lý Thường kiệt, Nguyễn Trãi…Những vị thần có tính huyền thoại như Vua Hùng, An Dương Vương, cao Lỗ, Triệu Quang Phục, …qua các nhân thần mà các Đình làng thờ kính cho thấy, người Việt rất yêu Nước, lòng yêu nước ấy trở thành linh thiêng của hồn dân tộc.
Thành hoàng có nguồn gốc Tổ sư nghề: Vũ Quan, là tổ nghề nón và áo tôi của Làng Tri Chi, xã Tri Trung (Phú Xuyên) vào thời Lê. Nguyễn Thực (Đông Hải Đại Vương), tổ sư nghề tơ tằm, là thành hoàng của làng Thiên Đông, xã Mỹ Hưng, Thanh Oai. Thiều Hoa công chúa, tổ sư nghề dệt vải, Thành hoàng làng Ciổ Đô - Ba Vì - Hà Tây. Nguyên Hồ thống chế, tổ sư nghề rèn, thành hoàng làng Mậu Nương, xã hiền Lương - Hà Đông…
Thành Hoàng là những người khai phá lập làng: với những làng cổ xưa thì có những vị thành hoàng có công trị thuỷ, khai muơng, đắp đê, mở chợ, chữa bịnh như: Văn sĩ Thành, giúp dân phóng chữa dịch bệnh, thành hoàng của làng Thuỷ Hội - Tân Hội (Hà Tây). Quận Công Bùi Nghiên Phổ, có công mở chợ, là thành hoàng của làng Đình Thị, Trúc Sơn, Chương Mỹ (Hà Tây). Quận Công Lê bình (thời Lê) có công giúp dân đắp đê, thành hoàng thôn Cổ Nghiã Hạ và Nghĩa Thượng, Xã Thượng Đình - Đan Phượng (Hà tây). Khai phá và lập làng như: bà Lê Chân, Làng An Biên, tỉnh Quảng Ninh…
Thành Hoàng những người mở mang dân trí: sống trong một Đất Văn Hiến, người Việt luôn nhắc đến: “công cha, nghĩa mẹ, Ơn Thầy”, lòng yêu mến thầy là một truyền thống ăn sâu trong tâm thức hiếu đạo người Việt. Thầy là người học cao, hiểu rộng, đời sống đạm bạc, gương mẫu. Lúc sống, người Thầy được dân làng họ xem là niềm tự hào của họ, lúc mất người thầy được thờ kính và có khi là thành hoàng cho làng. Ví dụ như: Ông nghè Vũ Quân, ông nghè Nguyễn Trưởng Nguyên, trạng nguyên Nguyễn Hiền, …
Thành hoàng những con người hiếu đễ, tiết hạnh: Bà Thiết Hạnh thôn Nghĩa lễ (Nam Định), Hiếu lễ Trần Thị Ngoạn thôn Hưng Cát (Nam Định)…
Thành hoàng những người gốc ngoại: Tống Hâu, một hoàng hậu nước Tống bị nạn chết dạt vào bờ biển nước Việt, được hiển thánh ở nhiều làng thờ. Cao Than, là quan nhà Hán, có công với dân làng La Thạch - huyện Đan Phượng...
7. Tà thần:
Trái ngược vối những vị Phúc thần là những vị tà thần. Người ta tôn thờ cái bụng và làm nên những điều xấu xa.
Thành Hoàng là những người chết vào giờ thiêng: những thần hoàng này có đời sống xã hội cũng như luân lý thấp kém nhưng chết vào giờ thiêng, được dân làng đó sùng kính. Không phải là ai cũng ủng hộ những vị thần này, triều đình không cấp bằng sắc, thậm chí còn ra lệnh giải tán, phá bỏ các đền miếu thờ phụng các vị thần này ở làng, xã. Cách chung của nhiều người không nhận và gọi đó là nhưng vị tà thần. Những làng thờ tà thần cho thấy một tổ chức : “Luật vua thua lệ làng”, có những khoảng trời tự trị riêng mà cách chung của nhiều người không thể đụng chạm tới. Giờ thiêng mà dân chúng tin tưởng là một giờ bất thường, một cái chết bất thường làm cho linh hồn của họ có một sức mạnh. Các làng thờ tà thần là số rất ít trong Đất Việt, thường những làng ấy có phần nào sinh sống bằng những nghề thấp kém, hoặc có đời sống trái với luân thường đạo lý. Theo tính cách chung của người Việt, việc sống theo tín ngưỡng là một đời sống gắn bó với thần linh, như rất gần trong hơi thở, gắn liền với cuộc sống thường ngày. Theo cách chung ấy, khó mà biết được dân chúng những làng thờ tà thần, trong cuộc sống có chịu ảnh hửơng bởi lối sống theo những nghề mà vị thần hoàng làng ấy đã sống không.
Việc thờ tà thần thường đi với những tục hèm. Tục hèm là những nét riêng biệt, độc đáo, khi còn sống của vị thần chết vào giờ thiêng. Thoả mãn ước vọng của vị tà thần này khi còn sống thì được bảo vệ, nếu không thì chịu sự chúc dữ, nguyền rủa.
Làng Đồn Điền - Quảng Xương - Thanh Hoá, thờ vị thành hoàng là vị ăn mày, nên sắp đến ngày mở hội, cả làng có tục hèm sắm gậy đi ăn mày ở các làng bên, hay tỉnh khác. Người giàu hay nghèo trong làng đều sắm gậy đi ăn mày như thế vì họ tin rằng khi thực hiện tục hèm này, thì họ được may mắn, phát đạt. Tục hèm ăn mày, ngày nay chịu sự thoái hoá và trở thành một trở ngại cho việc phát triển của Đất Nước. Có rất nhiều những phản ảnh của báo chí về nạn ăn xin này là một căn bệnh khó chữa.
Làng Tích Sơn (Vĩnh Phú), Xuân Ái - Võ Giàng - Bắc Ninh, thờ một người ăn trộm, tục hèm trong ngày lễ hội của vị thành hoàng, có diễn một cảnh thần bị quật bò lăn ra sau một vụ trộm không lối thoát.
Làng Đồng Vệ (Vĩnh Phú), làng Cổ Nhuế (nay thuộc Hà Nội), làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) thờ thành hoàng vốn là người hót phân, trong lễ hội người ta có dâng cúng chuối bóc vỏ cùng với kẹo lạc nấu bằng mât đen giống như thỏi phân. Ngày xưa, phân bón cho ruộng đồng chủ yếu là phân trâu, bò, động vật, có những làng vì ít đất canh tác nên có nghề phụ là hót phân đem bán cho làng khác. Ngày nay, không còn những việc ấy nữa vì cũng chẳng hay ho gì cho những làng ấy.
Hèm đuổi lợn trong lễ hội làng Ngô Xá diễn lại vị thành hoàng làm nghề lái heo xưa vì đuổi heo và rớt xuống sông chết.
Hèm ẩu đả giữa các làng thấy ở nhiều nơi nghịch hẳn với tục giao hiều giữa các làng, hèm ẩu đả thấy ở nhiều nơi: Thụy Khê và Sài Sơn (Hà Tây); Thượng Ốc, Yên Lũng, Văn Lũng, Yên Thọ (Hà Đông); Bong Trung (Thanh Hoá); Yến Vĩ - Đục Khê (Hương Sơn)…với hèm tục này, càng ẩu đả đổ máu nhiều càng là thêm phúc phần may mắn, tránh được rủi ro…
Trong các vị thành hoàng, tà thần là những con người xấu không đáng bắt chước, noi theo, những tục hèm là để kêu gọi tránh đi hơn là khuyến khích phát triển, nếu làng xã còn tổ chức các hèm tục ấy thì ngày nay chỉ còn là trò chơi, một tịết mục hài không nội dung tín ngưỡng.
8. Tính cộng đồng của tín ngưỡng thành hoàng.
Tín ngưỡng Thành Hoàng là một sinh hoạt tâm linh của cơ cấu làng xã mà cái Đình là trung tâm cho những sinh hoạt tín ngưỡng ấy. Xét về tính cộng đồng thì tín ngưỡng Thành Hoàng là một văn hoá nối kết giữa những người trong làng với nhau, để đồng cảm với nhau và tiến tới việc đồng mệnh với nhau. Từ đồng cảm đến đồng mệnh buộc mỗi người ý thức cộng đồng là sống chết có nhau, theo đúng giá trị ca dao thành ngữ: “tối lửa tắt đèn có nhau”.
Trở ngại: Từ đồng cảm đến đồng mệnh có một điều khó chấp nhận là tính thủ cựu, thiếu sự liên đới giữa làng này và làng kia, ganh đua nhau về nhiều mặt hình thức, thiếu nội dung. Đó là một hình thức kém phát triển ngoài làng xã, đề cao thành hoàng làng mình thái quá đều là một trở ngại.
Thường tính cộng đồng của những làng thờ chung những vị thần hoàng thì phát triển hơn những làng cô lập. Sở dĩ có những làng thờ vị thành hoàng riêng biệt của mình, là vì những làng ở xa nhau, khó đi lại với nhau. Ngày hôm nay, phương tiện đi lại không còn là một vấn đề khó khăn, trong khi nền văn hoá phát triển lớn hơn giữa những công đoàn làng xã thì vẫn có những trào lưu ngược lại là những hội đồng hương phát triển, không làm việc chung với nhau, khích bác, đả kích, hơn thua với nhau. Xét thấy những làng Công Giáo cũng có những phát triển tương tự, vẫn có những thánh làng này hơn thánh làng kia, hội đồng hương này chê hội đồng hương khác ngay trong cùng một làng, một Giáo Xứ, một giáo phận.
Làm nổi bật truyền thống tâm linh Thành Hoàng là làm nổi bật tính liên đới, sống gắn bó với nhau, từ trong làng đến các làng lân cận như trong văn hoá đã từng có những làng có truyền thống giao hiếu với nhau. Sự liên đới là một di sản văn hoá mà các vị thánh nhân xưa đã sống và chết cho lý tưởng của một dân tộc hiếu hoà, trọng tình, trọng nghĩa…
Việc Thánh làng này hơn Thánh làng kia, là một cuộc chạy đua thiếu mất ý nghĩa của tính chất truyền giáo của Đạo Công Giáo. Nhiều Nhà Thờ chỉ ganh nhau hơn cây tháp. Ganh nhau vì có nhiều hơn vị thánh…Biến Ngôi Đình trở thành pháo đài là trái với truyền thống của dân tộc.
Thánh nhân đối với người Việt là một mẫu gương cao quý, không chỉ để thờ nhưng còn là để sống chung với thế giới thần linh, tiên tổ, hướng tới một đất nước thái hoà thịnh trị. Các vị thánh được thần tích và thần phả ghi chép lại như một bài học cho tương lai, biết sống và giữ những truyền thống để khỏi là người Việt mất gốc ngay trên quê hương mình.
III Tổ Sư Nghề:
Quan niệm Bách Nghệ Tổ Sư bắt nguồn từ lòng hiếu học của người Việt xưa.
Nền văn hoá nông nghiệp, phát triển theo tính cộng đồng làng xã, sống trong luỹ tre làng bảo vệ, tính cách người Việt xưa cũng có bảo thủ để giữ lấy mình. Từ tính cách bảo thủ ấy, trong một làng thường có những làng nghề, hay từng cụm theo nghề gia truyền. Mỗi nghành nghề thủ công có một vị khai sáng. Theo quan niệm: “Bán tự vi sư, nhất tự vi sư”, thì người dạy cho người khác một chữ hay một nghề đều gọi là thầy. Đã là thầy thì đối với trò đều được trọng vào hàng thứ hai trong tam cương của Nho Giáo: “Quân, sư, phụ”. Nghĩa là trong tinh thần hiếu đạo, người học trò phải xem đó là nghĩa vụ trọng thầy hơn cả bậc sinh thành, cho nên phát sinh một đạo gọi là đạo Thầy - Trò.
Thần thánh hoá người thầy không đúng cách là một cản trở lớn lao trong việc phát triển văn hoá.
9. Thầy dạy chữ:
Đạo Thầy - Trò, bắt nguồn trong văn hoá làng xã xưa kia, có một hoàn cảnh nhất định. Văn hoá làng xã là một môi trường văn hoá “đóng cửa nhà dạy nhau”, người thầy là một người trí hiểu biết hơn người, được may mắn sinh trưởng trong một gia đình chữ nghĩa, được học từ cha ông những sách thánh hiền, được có cơ hội ra thành thi Hội, thi hương, thi tiến sỹ. Được hửơng một nền tri thức vượt ra khỏi làng xã, để khi trở về người thầy là người thông thạo hơn người.
Do trình độ tri thức còn sự chênh lệch rất xa, đối với trò, người thầy là tuyệt đối : “Không thầy đố mày làm nên”, cho nên cung cách giảng dạy ở làng quê xưa có cách thức : “một thày nhiều trò”, “muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”, là một quan niệm rất gần gũi với nhiều người trong khung cảnh làng xã. Từ việc học yêu lấy thầy đến việc “tôn sư trọng đạo”, đến việc ngưỡng mộ tôn thờ là con đường rất gần. Sở dĩ Văn miếu xưa dành tôn thờ các Vị tổ Nho như Đức Khổng Tử là kết tinh từ đạo Thầy - Trò trong khung cảnh ấy. Đạo Thầy - Trò, có những giá trị định hướng, ảnh hưởng nhất định cho việc phát triển văn hoá, nhưng tuyệt đối quá cũng có nhiều điều dở:
Điều dở trong đạo Thầy - Trò: Cách thức truyền đạt ngày xưa trong làng xã, phát sinh ra một lối học thụ động của trò: “Chữ thầy, thầy nói, trò học, trò nghe”. Khác với lối giảng dạy của Đức Khổng Tử với trò là trao đổi. Người học trò làng quê Việt, ít được trao đổi cùng thầy, xuất phát từ một mặc cảm chung “biết năm ba chữ chưa đầy lá mít”, làm sao có thể đối thoại, trao đổi cùng thầy. Trò chỉ biết nghe, rồi ghi ghi, chép chép theo lời đọc của thầy: “không biết thì dựa cột mà nghe” . Lối học thụ động này làm cho học trò cùn đi óc sáng tạo, cứ theo thầy mà làm, tính cách gia truyền hình thành là như thế. Sự hình thành lớp học ngày xưa cũng là thế, cứ năm mươi hay một trăm học trò ngồi im lặng cúi đầu nghe thầy giảng như một lũ cừu ngoan ngoãn, không phản đối, không ý kiến, không thắc mắc. Thầy thích dạy gì thì dạy, sách của thày, chữ của thày, thày muốn truyền đạt bao nhiêu tuỳ thày, thày trau dồi thêm hay không cũng tuỳ thày. Đã là thày thì cứ là thày mãi mãi, thầy hay thầy dở cũng là thầy.
Từ cách học thụ động trò cũng chẳng thể hơn thầy, như người ta thường nói “trứng không khôn hơn vịt”. Làm học trò nghiã là học lấy cách tiêu hoá những gì thầy mớm cho, đi ra khỏi khuôn phép thầy - trò là người bất hiếu thậm chí còn chịu khinh người thất học. Học chỉ là tiêu hoá kiến thức thầy mớm cho, mà tiêu hoá không xong hoặc có điều tiêu hoá không nổi, thì đến bao giờ mới tiến.
10. Tổ Sư nghề:
Những tổ của ngành nông nghiệp:
Nghành nghề nông nghiệp đòi hỏi lắm công phu, nhất là theo lối canh tác tiểu nông nghiệp, người này học cách của người kia. Không biết cội nguồn của nghành nông nghiệp là đâu, mà người Việt không thích vô hình như thế nên tạo ra rất nhiều truyền thuyết để hình thành nên những vị tổ khai đất, dạy dân trồng trọt, như Triệu Cơ, ông Khai Canh. Dùng chữ Triệu để gọi danh, người Việt xưa biết rằng từ lâu lắm rồi, muôn năm trước, có người đã truyền dạy dân làm đất, trồng lúa…tính cách hữu hình vẫn không bảo đảm cho vụ mùa tốt tươi nên nhất định cần có một vị thần, vượt trên thế giới hữu hình này để cai quản mà người ta gọi là Thần Nông. Có thể đó là chòm sao Thần Nông mà người ta tin tưởng là ông nhìn thấy sự cực khổ của dân chúng mà giúp cho mùa màng được tươi tốt. Có thể người cai quản chính là ông Trời để cầu khẩn: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày…”. Mẹ Lúa - Thần Lúa - Vía Lúa, được nhân cách hoá thành người phụ nữ với nghi thức Mẹ Lúa gieo trồng. Với Thần Trâu, giúp người cấy cày. nội dung của tín ngưỡng nông nghiệp là Hồn Lúa. Hồn Lúa theo quan niệm dân gian là sức sống của cây lúa, quyết định cho vụ mùa bội thu. Do vậy trong thực hành nghi thức tín ngưỡng nông nghiệp, người ta chú trọng rất nhiều đến việc cầu mong sự quan tâm của các vị Thần cai quản.
Những Vị Thần Ngư Nghiệp:
Thờ Cá Ông và lễ Nghinh Ông là đặc điểm của những làng ven biển trên Đất Việt. Có nhiều truyền thuyết về Cá Ông, một trong những truyền thuyết như sau: Phật Bà Quan Âm là người hay cứu nạn cho chúng sinh, Ngài hoá thân thành Ông Nam Hải đi tuần du ngoài biển.
Một hôm, từ trên toà sen ngài nhìn thấy cảnh dông bão ngoài biển khơi đã nhấn chìm bao thuyền bè và bao sinh linh hiền lành ngày ngày ra khơi kiếm sống. trước cảnh thương tâm đó, Phật Bà Quan Âm cởi chiếc pháp y, xé tan thành từng mảnh ném xuống biển và hoá phép chúng thành con cá Voi, sai chúng đi cứu ngư dân bị nạn. sau đó, để tăng thêm sức mạnh cho chúng, Phật Bà Quan Âm lại mượn bộ xương của voi trên rừng cho Cá Voi, khiến cá Voi vừa to lớn vừa cío sức mạnh, có mặt ngay ở nơi con người lâm nạn để cứu giúp, trở thành người bạn, vị thần của dân chài.
Những bậc Thánh Sư (Tổ nghề): Thánh Sư là những người nhờ tài năng hoặc cách này hay cách khác, tìm ra được một bí quyết làm được một điều gì đó, sau rồi truyền nghề cho nhiều người khác.
Bách nghệ tổ sư bắt nguồn từ truyền thống hiếu đễ, lóng yêu mến thầy, thầy dạy chữ cũng như thày dạy nghề đều được yêu mến. Thường thày dạy nghề, nhất là những nghề lắm công phu mà vị thầy ấy có công tìm tòi và khai sáng được tôn kính như bậc thánh sư, được đặt trang trọng trên một bàn thờ khác với bàn thờ tổ tiên.
Có những vị thánh sư có tính huyền thoại như Triệu Cơ tổ sư nghề nông, Cao Lỗ Đại Vương tổ sư nghề nỏ thời An Dương Vương, Nguyễn Tam Trinh tổ sư nghề đô vật thời Hai Bà Trưng,…
Có những vị tổ sư người thật việc thật như Tuệ Tĩnh cùng Hải Thượng Lãn Ông là tổ sư ngành y, Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan là tổ sư ngành dệt, tiến sỹ Trần Lư là tổ sư ngành Hoạ...
Có những con người thực nhưng lại không để lại tên tuổi, không có lai lịch, và không có dấu tích của huyền thoại như Cụ Trần, tổ sư nghề giấy ở vùng Bưởi (Hà NỘi), Cụ Đặng, tổ sư nghề rèn ở An Khê (Bình Định)…
11. Mảnh đất hồn Việt.
Qua những vị thần nông nghiệp, ngư nghiệp, các thánh sư cho thấy mảnh đất hồn Việt biết trọng di sản văn hóa. Trở thành tín ngưỡng là hình thức lưu truyền bền bỉ nhất, trân trọng nhất mà người Việt có được. Hồn thiêng đã đi vào đất mẹ cưu mang, người Việt tin rằng nguồn gốc dưới đất của mình từ trời, ý thức về hai thực tại ấy có từ nguyên sơ, chính ý thức đưa dẫn cuộc sống gắn bó với thần linh. Không một việc gì của người Việt mà không có thần linh tham dự, không chỉ vì kế sinh nhai mà là mảnh đất thiêng hồn Việt đã làm nên con người tôn giáo ấy. Có thể nói con người Việt là con người của tôn giáo, một tôn giáo tâm linh nhắc đến nguồn cội, lòng biết ơn và lưu truyền cho con cháu.
Tổ sư nghề cho thấy nét đặc trưng của người Việt: “Uống nước nhớ nguồn”, mỗi một ngành nghề đều có nguồn ngọn, là những người khai sáng. Nếu Phương Tây có ghi lại công lao của các nhà phát minh, bằng cách gắn tên của người phát minh vào tác phẩm của người sáng chế, thì người Việt chẳng những thế còn đưa vị ấy vào trong tín ngưỡng để ngưỡng mộ, với lòng thành kính. Nguồn cội là tâm thức quan trọng của người Việt trong mọi vấn đề nhân sinh quan. Do tâm thức nguồn cội sâu xa, người Việt cách nào đó cũng hình thành nên nguồn Việt triết để trả lời cho những câu hỏi căn bản của con người: Từ đâu đến, đi về đâu, ý nghĩa là gì?... Những câu hỏi cơ bản để người Việt đi đến một triết lý sống: “Thương người như thể thương thân”. Ý thức có chung một người gốc làm nên triết lý sống trong toàn thể cũng như trong từng ngành nghề, biết nhờ nhau mà sống.
Nét đặc trưng thứ hai mà tín ngưỡng bách nghệ tổ sư cho thấy, lòng biết ơn: Lòng biết ơn của người Việt dường như bao trùm các khía cạnh của đời sống: Ơn Trời, Đất, Núi, Sông, Tổ Tiên, Thầy Cô, Thánh Sư…Biết ơn không đơn giản là tấm lòng nhưng bàng bạc đầy cuộc sống, lòng biết ơn được bày tỏ ra bên ngoài, từ những tập tục cho đến những thói quen thể hiện trong lời cám ơn và tri ân trở thành niềm tin trong tín ngưỡng. Người Việt vốn đề cao những tấm lòng hiếu thảo một phần lớn là biểu hiện của việc tri ân này: “Thi ân vật niệm, thụ ân vật vong”. Người làm ơn cho mình cao nhất là người giúp cho mình sống xứng đáng là một con người. Như vậy, ngay từ xưa người Việt đã có ý thức trong việc thụ nhận một nghề nghiệp, cho dù đó là những nghề thủ công đi chăng nữa, vẫn là một nghề để sống xứng đáng là một con người.
Tính lưu truyền bền vững của Bách nghệ tổ sư là trở thành tín ngưỡng. Người Việt sống tín ngưỡng chứ không theo tín ngưỡng. Theo cách sống đó, người vào nhập môn vào một nghề nào đó đều cần có một nghi thức “bái Sư”, Sư cao bậc hơn phụ trong thang đạo tam cương. Sau nghi thức bái sư nhập môn, người môn sinh có bổn phận làm sáng danh giá của thầy, không chỉ là theo một nghề mà là sống một nghề cho vẹn toàn.
Kết luận, một điều hệ trọng, được nhận ra trong quan niệm thần và thánh của người Việt có một chiều kích siêu việt. Đó là chiều kích viên mãn của những con người vượt qua ngưỡng cửa sự chết, hoàn thành được cuộc đời trong những nỗ lực của mình mà đi vào cõi sống muôn đời. Chết là bắt đầu sống, có người sống tủi nhục muôn đời, có người sống được tôn vinh hàng thần thánh…
Truyền thống tâm linh của người Việt như Cadìerre nhận xét: “Người Việt kêu cầu trời, xin trời cứu họ, khi mối hiểm nguy thật là bức bách. Nghi thức cầu xin đượm nét đơn sơ nhưng trang trọng làm ta có thể kết luận rằng đối với họ quả là có một sức mạnh nhiệm mầu ẩn trong trời, sức mạnh ấy cao hơn mọi sức mạnh siêu nhiên khác mà họ sùng bái..Nói tóm lại, những tình cảm thoát thai từ việc khấn xin thật ra cũng chính là những tình cảm mà người lương dân cầu khẩn đến Thượng Đế một cách nồng nhiệt và khiêm cung, nhận biết Ngài chỉ qua soi sáng của lý trí, và rồi thưa với vị Thượng Đế được mơ hồ nhận biết như là một Đấng tốt lành và toàn năng.
Một lương dân thông minh đã cắt nghĩa cho tôi về số sự kiện mà tôi trích dẫn, nói với tôi rằng: “Thưa cha, khi chúng tôi cầu khấn thần linh, chẳng khác nào trong tình huống cấp bách, tôi khẩn cầu với cha giúp đỡ. Khi đến với cha, tôi mang theo lễ vật phủ phục, xin điều mình xin và xin cha nhận lấy lễ vật. nếu cha giúp tôi, tôi trở lại, mang theo lễ vật mới dđể tạ ơn. quả thật chúng tôi cũng cư xử như vậy đối với thần linh””.
Phần 2: Thánh Đạo và Thánh Đời.
12. Những hiểu lầm ban đầu:
Theo từ Điển Đông Kinh diễn nghĩa của Alexandre de Rhodes, bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính, Nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1991, cha Alexandre de Rhodes khi diễn nghĩa chữ Thánh bằng tiếng Lusitan và tiếng La tinh giảng nghĩa là: “Thánh. Nên Thánh: Trở nên Thánh. Rứt Thánh: Rất Thánh. Thánh Hiền: Thánh và Hiền: Tước hiệu người ta tôn kính Khổng Tử nhưng không xứng đáng, bởi vì, hoặc là Khổng Tử không biết Thiên Chúa là tác giả của mọi sự thánh thiện và hiền lành, mà không có Thiên Chúa thì ông ấy không thể thánh thiện và hiền lành được; hoặc nếu ông ấy biết Thiên Chúa mà vì là thầy lại không dậy người khác biết, thì làm sao có thể gọi Ông ấy là Thánh và hiền được ?”.
Vấn đề được hiểu ở đây, trong thời gian đầu các vị thừa sai đến Việt Nam là chưa lãnh hội đủ ý nghĩa của từ Thánh theo quan niệm Đông Phương hay nhỏ hẹp hơn là người An Nam thời bấy giờ hiểu và quan niệm. Cho nên khi gặp phải tín ngưỡng Thành Hoàng của dân gian, chính cha Alexandre de Rhodes cũng hiểu lầm khi diễn giải chữ Thành Hoàng như sau: “Nơi thờ vị quỷ thần được coi là vị bảo hộ làng xã, và bởi đấy họ phong cho tước hiệu là Vua”. Cũng như trong quan niệm “Thần” của người An Nam, cha Alexandre de Rhodes giải thích: “Quỷ Thần mà người ta gọi là vị bảo hộ một nơi. vị quỷ thần đó thường là một người gian ác nào đó đã bị giết chết ở nơi đó, hoặc cũng có khi là một con vật chết trong chính nơi ấy, và khi tai hoạ xảy đến cho ai tại nơi đó, thì người ta tưởng cách ngây ngô là, do chính người hay vật ấy gây ra, và vì vậy người ta tôn thờ vị ấy bằng cách dựng nhà, bàn thờ…và phong cho vị ấy tước hiệu Vua hay Quan, để tai họa tương tự đừng xảy đến cho họ. Thần Kì cùng một nghĩa”.
Trong cuốn Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài của cha Alexandre de Rhodes có ghi nhận: “Mong sao cho người Đàng Ngoài đã rũ ách nô lệ người Tàu thì cũng bỏ được những dị đoan người Tàu truyền lại và dạy dỗ cho. Nhưng những nguyên lý tôn giáo dầu tốt dầu xấu đã ăn sâu vào lòng người do tập quán lâu đời thì không dễ dàng xoá đi được. Thế nên, người Đàng Ngoài, sau khi không còn chịu người Tàu đô hộ nữa, thì vẫn còn duy trì những mê tín của họ và tất cả giáo thuyết về thần thánh du nhập từ bên Ấn Độ. Từ thời đó đến nay, họ còn thêm nhiều dị đoan khác và trở nên mê tín hơn cả người Tàu”.
Sau này cha Alexandre sống lâu trên đất Việt đã có hiểu hơn như khi nhận định: “Sở dĩ có những lời vu khống này là vì có người quá nhiệt thành, không kín đáo, không khôn khéo. Họ muốn bãi bỏ tất cả các lễ nghi thường làm ở xứ này để cầu siêu với vong linh người quá cố. Tôi đã tường thuật nhiều lần trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Thực ra, nếu có một vài nghi lễ giáo dân không nên làm vì sợ tội, thì đa số kể như vô thưởng vô phạt và chúng tôi cho là có thể được duy trì mà không phạm tới sự thánh thiện của đạo ta.”
13. Những lời cáo buộc từ phía lương dân:
Bỏ đạo tổ tiên: cha Alexandre ghi lại trong cuốn Hành Trình Truyền giáo: “ Trong tất cả những thành công Chúa ban cho chúng tôi, chúa lại cho chúng tôi hai điều đau đớn, may mà có sức mạnh hơn sức loài người đã nâng đỡ chúng tôi. Thứ nhất, cha Pinh qua đời.. thứ hai là cơn bão táp đã tới từ phía phủ chúa. Vì thấy người Bồ không trở lại năm đó với đoàn tàu chở hàng hoá như thường lệ, chúa cả nghe bên phía địch thù của giáo dân. Những người này không lỡ bỏ dịp vu cáo và làm cho chúa không tin giáo dân nữa. Trong những tội vu khống, có tội này: giáo dân không thờ kính tổ tiên, lại theo đạo man di, vứt bỏ tâm tình biết ơn với tổ tiên, những tâm tình trời đặt trong lòng mọi người. Sở dĩ có những lời vu khống này là vì có người quá nhiệt thành, không kín đáo, không khôn khéo. Họ muốn bãi bỏ tất cả các lễ nghi thường làm ở xứ này để cầu siêu với vong linh người quá cố. Tôi đã tường thuật nhiều lần trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Thực ra, nếu có một vài nghi lễ giáo dân không nên làm vì sợ tội, thì đa số kể như vô thưởng vô phạt và chúng tôi cho là có thể được duy trì mà không phạm tới sự thánh thiện của đạo ta.”Sở dĩ có những hiểu lầm tai hại như thế là do phía những anh chị em tân tòng, sau khi chịu rửa tội đã công khai từ bỏ ma quỷ bằng cách:
Đập phá các ảnh tượng Phật, bàn thờ tổ tiên, ngay tại nhà hoặc nơi công khai. Người ta cho là theo đạo thì bỏ đạo ông bà, tổ tiên.
Khi từ bỏ tà thần, các tín hữu không được phép tham dự vào nghi lễ chung của địa phương như : Thờ Thành Hoàng, lễ hội thành hoàng, cúng giỗ tổ, những đấng lập làng...có tính chất nhớ ơn người đi trước hơn là thực hành niềm tin.
Người tín hữu mới theo đạo lại quá sốt sắng, ngoài đời sống thí tách biệt với người lương dân, có những làng công giáo riêng và xem thường những người lương dân, có lễ hội riêng của làng Công Giáo không can dự gì đến những lễ hội của địa phương. Cá nhân tín hữu thì đeo tràng chuỗi và tất cả những mẫu ảnh tượng nhỏ mà các cha tặng cho trên cổ, có người còn mang riêng theo mình cả những bàn thờ nhỏ để cầu nguyện. Những thái độ này luôn khiêu khích những người lương dân.
Ngoài những tố giác của những người lương dân, còn có những tố giác khác của các thày bói, phù thuỷ, thày sãi : Cha Alexandre de Rhodes kể “hạng người thứ nhất là các phù thuỷ…điều làm họ ghét chúng đó là thấy giáo dân tân tòng khắp nơi làm phép lạ chữa bệnh nhân…thực ra cũng có một số bệnh nhân chết, chúng tôi đã rửa tội trước, vì chúng tôi tới thì quá muộn. do đó họ gọi đạo chúng tôi là đạo chết và phao tin đến tai chúa là chúng tôi đến để sát hại thần dân của chúa và những quân binh tốt nhất của ngài, chúng tôi làm chúng yếu sức để rồi rơi vào tay địch”. “chúa dễ nghe theo những lời tố cáo của các thầy sãi. những người này rất ghét chúng tôi vì thấy đền của họ trở nên hoang vu, lợi lộc suy giảm. Thế là họ vận động chúa vì chúa rất ưng việc thờ cúng tà thần, coi chúng tôi là thù địch… các thầy sãi tố cáo chúng tôi nơi chúa rằng chúng tôi đập phá tượng thần ở các đến. Chúng tôi xin chúa thu xếp và xem xét đạo chúng tôi giảng là đạo huỷ diệt các thần và phá đổ tôn giáo cổ truyền trong nước, có nên được dung thứ không. Không điều tra thêm, chỉ dựa vào một cuộc họp vội vã, chúa liền ra sắc lệnh phạt rất nặng và cấm thần dân trong nước từ nay không được theo đạo Kitô là đạo phá đổ thần phật từ mọi đời vẫn thờ cúng. sắc lệnh được niêm yết ở cửa nhà chúng tôi, trước mặt chúng tôi vá trước mặt đa số giáo dân”.
Một phía khác từ hậu cung nhà vua, do luật “nhất phu nhất phụ” làm cho các bà và các hoạn quan mất quyền lợi khi vua nghe theo đạo.
14. Nỗ lực hội nhập văn hoá.
Khi Đạo Công Giáo vào An Nam không phải là vào khu nhà trống, ảnh hưởng lớn nhất lúc bấy giờ là Phật giáo cùng với Đạo Giáo và Khổng Giáo. Phật giáo Việt Nam du nhập từ Ấn Độ và Trung quốc vào khoảng thế kỳ 2 sau công nguyên, đạt tới đỉnh cao từ sau Ngô Quyền dành lại chủ quyền cho dân tộc (938) đến trước khi Lê Lợi - Nguyễn Trãi chống quân Minh (1418). Thời gian cực thịnh này cũng là thời gian văn học thiền phát triển, gọi tắt là văn học Thiền Tông thời Lý Trần. Đây là một thời đại mà giới trí thức hầu hết là Phật tử. Khác với Thiền Tông ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đạo Thiền kết hợp với tín ngưỡng bản địa có tính thần thuật ảnh hưởng của Đạo giáo (biến thể), có những chuyện kể luyện thần thông phép mầu, cứu nhân độ thế. Vào khoảng thế kỷ IX - X Mật Tông được truyền vào, như “cột kinh đà - la - mi” tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) là dấu vết. Mật Tông thường pha trộn với tín ngưỡng bản địa, đồng hoá phương thuật của Đạo giáo và phù thuỷ- thực hành việc chữa bệnh trừ tà, mê tín. Vốn tính suy tư của dân tộc là lối suy tư tổng hợp, nên trong việc thực hành không tránh khỏi những pha lẫn giữa nhiều tôn giáo lớn.Đây là một việc rất khó với các vị thừa sai và dễ gây hiểu lầm hơn cả. Bởi vì không thể coi tất cả đều là mê tín dị đoan mà gạt bỏ tất cả được. Trong tín ngưỡng có những điều tốt, cũng có khi bị pha lẫn chút ít dị đoan thực hành mê tín hoặc là người giáo hữu quá nhiệt thành với đạo Công Giáo mà gây hiểu lầm.
Vấn đề gai góc nhất để Tin Mừng phát triển trong văn hoá có hai hướng mà các nhà truyền giáo áp dụng:
Thích nghi: Truyền giáo không phải là vào khu vườn hoang, nhà trống, ở nơi đó đã có rất nhiều những lễ nghi của dân tộc cần tìm hiểu để thích nghi. Các kinh nghiệm của nhà truyền giáo Ricci (Lợi Mã Đậu) ở Trung hoa cho thấy một vấn đề gai góc và cần tìm hiểu nhất là các nghi lễ tỏ lòng tôn kính tổ tiên và các bậc thánh hiền. Không dễ gì gạt bỏ tất cả truyền thống lâu đời ấy, nghi lễ ấy đã là một phần đời không thể thiê1u trong văn hoá dân tộc. cha Ricci nghiên cứu rất kỹ lưỡng về vấn đề này: Trước hết cha đích thân đi quan sát tận mắt các buổi lễ, và hỏi người trong cuộc xem đó là nghi lễ gì? họ nghĩ gì về những nghi lễ ấy? Sau đó cha tìm hiểu trong kinh điển, hỏi những người trí thức, các nhà văn, những học giả đương thời. như thế, cha đi đến một kết luận: Đó chỉ là những nghi lễ tỏ lòng tôn kính của con cháu dành cho tổ tiên, môn sinh dành cho sư phụ, không có tính cách tôn giáo, vì không tính cách xin ơn. Cha viết : “Người Trung Hoa không hề coi Khổng Tử hay tổ tiên là các vị thần. họ không cầu nguyện với người quá cố, không xin họ ơn gì, cũng không nhờ họ xin gì”. Người Trung Hoa muốn đối xử với những người đã chết như với người còn sống. họ dọn cỗ bàn để thết đãi người sống cũng như dọn bàn để mời người quá cố, đó là cách diễn tả của lòng thảo hiếu đối với những người đã khuất. theo bản châ1t việc tôn kính tổ tiên và Khổng Tử không có gì là mê tín, song trong thực hành, có nhiều người đem pha trộn giữa những hình thức niềm tin của Lão Giáo và Phật Giáo bình dân mà người Công Giáo không thể chấp nhận được. Như thế, cha Ricci kết luận: Người Trung Hoa theo đạo có thể tiếp tục làm các nghi lễ tôn kính tổ tiên và Khổng Tử, chỉ phải tránh những điều gì mê tín dị đoan mà thôi. Điều này có tầm quan trọng khi áp dụng vào môi trường truyền giáo tại Việt Nam, nhất là đối với các tín ngưỡng dân gian, cần thích ứng và thích ứng đến đâu và như thế nào?
Bãi bỏ: Hướng thứ hai của các nhà truyền giáo là như không có gì cản trở hoặc hoán cải tất cả theo khuynh hướng của Augustin, nhấn mạnh tới hiệu quả của ân sủng, một mình ân sủng thôi, không để cho điều gì có dáng dấp “những lời lẽ có sức thuyết phục của khoa khôn ngoan” (1 Cor 2, 4) dự vào làm vẩn đục đi. những theo hướng này thường Âu hoá người Kitô hữu địa phương, làm cho họ hoán cải cho đến nỗi thay đổi toành diện và mất gốc ngay trên quê hương của mình. Theo cách thức bãi bỏ thì chẳng cần quan tâm đến văn hoá địa phương làm chi cả, cứ ôm trọn niềm tin và thực hành từ đâu đó mà bê nguyên si vào.
Có hai khuynh hướng rõ nét như thế nên xảy ra một tranh cãi đáng tiếc trong lịch sử, đó là vấn đề nghi lễ Trung Hoa.
15. Nghi lễ Trung Hoa.
Có lẽ chúng ta đã mất một thời gian quá lâu sống trong sự hiểu lầm về việc thờ kính tổ tiên với những người anh chị em lương dân, nên nhân dịp này, xin cũng được trình bày lại đường hướng cụ thể của HĐGMVN, để tránh mất thêm thời gian sống với người chung quanh mà vẫn như người xa lạ:Huấn thị năm 1659 nhắc nhở các Đại diện Tông Toà khi sang Việt Nam và Trung Hoa, hãy tôn trọng tập tục của dân bản xứ, nhưng có vài hiểu lầm của các cha thừa sai Paris (MEP), không chấp nhận sự dễ dãi của các cha Dòng Tên ở Việt Nam cũng như Trung Hoa về việc thờ kính gia tiên, nên xảy ra điều đáng tiếc. Lệnh cấm thờ kính gia tiên vào năm 1704 được Toà Thánh ban hành, Đức Thánh Cha Clemens XI, năm 1715 nhắc lại trong Tông Chiếu “Ex illa die” những điều cấm và kèm theo bản tuyên thệ phải từ bỏ lễ nghi Trung Hoa. Tại Việt nam, giáo phận Đàng Trong, do các cha Dòng Tên coi sóc không hưởng ứng và vẫn cho phép thờ kính tổ tiên như trước đây. Từ đó, có sự hiềm khích giữa các cha Dòng Tên và vị Đại Diện Toà Thánh. Cuối cùng đi đến phán quyết của Đức Thánh Cha Benedictus XIV trong Tông chiếu: “Ex quo singulari” giải quyết dứt khoát về lễ nghi Trung Hoa. Dòng Tên bị giải thể 1773 - 1814 được phục hồi.Gần 200 năm sau, ĐTC Leo XIII, mở rộng đường hướng cởi mở đối với các vấn đề xã hội trong Thông Điệp Rerum Novarum, 1891. Năm 1943 ĐTC Pius XII nhắc lại trong Thông Điệp “Mystici Corporis”, “Divino Afflante Spiritu” (1943), Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin cho rằng lễ nghi tôn kính tổ tiên chỉ có tính cách xã hội. Năm 1939, Thánh Bộ công bố Huấn thị “Plane Compertum est” về vấn đề lễ gia tiên. Năm 1965, HĐGMVN mới có thông báo về việc cho phép những hình thức tôn kính tổ tiên:Ngày 20 - 10 - 1964, Toà Thánh qua Thánh Bộ Truyền Giáo, đã chấp thuận đề nghị của HĐGMVN xin áp dụng Huấn Thị “Plane compertum est” về việc tôn kính tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sỹ cho giáo dân Việt Nam.Hội Nghị Nha TrangNgày 14 - 11 - 1974, gồm 7 Giám Mục Việt Nam, đã xác định cụ thể hơn về vấn đề thờ cúng tổ tiên trong 6 điểm.-Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện gì mê tín dị đoan như hồn bạch.- Việc đốt hương, nhang, đèn, nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ gia tiên và trước giường thờ tổ tiên là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.- Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì là mê tín dị đoan như đốt vàng mã và giảm thiểu, canh cải những lễ vật để biểu dương ý nghĩa thành kính biết ơn ông bà như dâng hoa trái, hương đèn.- Trong hôn lễ, dâu rể được làm lễ tổ, lễ gia tiên trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà.- Trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để lòng tôn kíng người đã khuất, cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố.- Được tham dự nghi lễ tôn kính vị Thành Hoàng quen gọi là “Phúc thần” tại đình làng để tỏ lòng tôn kính biết ơn những vị mà theo lịch sử, đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải vì mê tín như đối với các “yêu thần, tà thần”.Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có điều gì hiểu lầm nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu, khích lệ, thông cảm. Đối với giáo dân, cần giải thích cho hiểu việc tôn kính tổ tiên và các vị anh hùng liệt sĩ theo phong tục địa phương là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc liên quan đến tín ngưỡng, và chính Chúa cũng truyền “phải thảo kính cha mẹ”, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.
16. Những Suy nghĩ Từ Giáo Hội Việt Nam:
Bản đúc kết các câu trả lời của các giáo phận Việt Nam cho bản câu hỏi của "Lineamenta" Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu ghi nhận:
“Hạt giống Tin Mừng Đức Giêsu Kitô đã đến với Việt Nam từ bốn thế kỷ. Nhưng trước đó cả ngàn năm, trên vùng đất này, đã có ba tôn giáo lớn là Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo và một loại Tín Ngưỡng dân gian ăn sâu vào tâm hồn người Việt Nam. Phong tục tập quán, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam, đã được nhào luyện bởi tất cả những mầm sống cũng như giới hạn của các tín ngưỡng đó.Vì vậy khi Tin Mừng Đức Giêsu Kitô được loan báo cho người Việt Nam, không khỏi xảy ra những va chạm - có khi đến mâu thuẫn - giữa cái cổ truyền với cái mới lạ, giữa cái được gọi là "quốc hồn quốc túy" với cái bị xem là ngoại lai. Đối với người Kitô giáo, cái mới đã làm đảo lộn nền luân lý và đời sống tâm linh của cá nhân cũng như cơ cấu và lề thói của xã hội, gây nhiều khó khăn cho việc chung sống với đa số đồng bào của mình.Việc loan báo Tin Mừng chịu nhiều yếu tố của những thực tại trên chi phối, làm cho gương mặt Đức Giêsu khi tỏ khi mờ trong cái nhìn của người ngoài Kitô giáo và cả trong tâm thức của người tín hữu Việt Nam. Tuy nhiên, nếu có khi tưởng như hạt giống Tin Mừng sắp chết khô, thì cũng có thời được thấy "cây đức tin" sinh nhiều hoa trái.”
Những hoa trái được ghi nhận: “Hơn nữa, tình trạng nghèo đói khốn khổ triền miên của dân tộc đã tạo nên một khoảng trống mà họ chờ mong được lấp đầy. Nhờ các nhà truyền giáo, họ đã nhận lãnh nhiều điều tốt lành: những điều thường thức về vệ sinh, khoa học, những hiểu biết mới, những đồ vật quý hiếm cũng như những trợ giúp vật chất - dù rất khiêm tốn - những nhân vật thánh thiêng đầy nhân ái v.v...khiến họ, nhất là những người thuộc lớp bình dân, sẵn sàng đón nhận giáo lý mà những người tốt lành như vậy mang đến cho họ. Đàng khác, những tập tục phi lý và phi nhân (bùa mê, sát tế) làm nên một gánh nặng đè lên cuộc đời của họ: do đó, khi đã tìm gặp một vị thần đầy yêu thương, họ liền cảm được giải thoát và tin theo.”
Những Trái sâu : “Tính dễ dãi đã tạo thuận lợi cho việc tiếp xúc thuở ban đầu: phong cách lễ nghĩa đưa đến việc lầm tưởng người nghe đã đầu phục những chân lý được nêu lên. Thật ra, việc nhập đạo nhiều khi chỉ ở cấp độ lễ nghĩa, tình hàng xóm, "bánh ích đi bánh quy lại." Nhiều trường hợp chỉ do khi lập gia đình với người công giáo, họ đã nhượng bộ những yêu sách của Giáo Luật.Nơi một số người khác, một đời sống sung túc hơn làm cho họ cảm thất không cần đến với đạo nữa. Những phong trào sôi nổi, những mời gọi của xã hội hiện thời hấp dẫn hơn, đẩy họ xa rời môi trường nhà thờ và những biểu hiện bên ngoài còn ít oi của văn hóa Kitô giáo”.Đặt lại cái nhìn mới: “Trước hết, vì lục địa Á Châu không phải là một vùng đất hoang mà chúng ta có thể gieo trồng bất cứ giống gì. Trái lại, đây là vùng đất của những tôn giáo và của những nền văn hóa lâu đời hơn nhiều so với Âu Châu. Ở đây vốn đã sẳn có một vũ trụ quan, một nhân sinh quan, và một quan niệm tôn giáo rất phong phú và còn khá vững chắc.Tại đây, phần lớn người ta không phải là không biết đến Thiên Chúa, trái lại, họ cũng đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Người một cách nào đó, và gọi Người bằng những tên gọi khác nhau, như là Trời, là Thiên, là Brahman v.v...Do đó, "truyền giáo" không phải là giới thiệu một Thiên Chúa, một Đức Kitô hoàn toàn xa lạ, mà một cách nào đó, có thể nói là "làm sáng tỏ cái đức sáng" (minh minh đức) vốn đã hiện hữu tiềm tàng, hay là giúp cho người ta "ngộ được" cái chân lý, mà theo công đồng Vatican II đã có phần nào trong các tôn giáo khác (x. Nostra Aetate, số 2, đoạn cuối), đặc biệt là của Á Châu. Hãy theo cung cách của chính Đức Giêsu, là nói cho người ta biết Thiên Chúa đang ở giữa họ, ngay trong lòng họ, bây giờ và tại đây, chứ không phải tại Giêrusalem hay ở một nơi nào khác, một thời nào khác. Nói gợi ý xa xa là phương cách truyền giáo của Đức Giêsu: từ thứ nước uống hằng ngày mà người nghe có thể khám phá ra nước hằng sống (x. Ga 4,7-26). Bởi vì chính Thiên Chúa đã sáng tạo nên vạn sự, do đó, một cách nào đó, phải nói rằng sự hiện hữu của các tôn giáo ngoài Kitô giáo, cũng đều do sự quan phòng của Người.Tuy nhiên, cách nhận thức về Thiên Chúa, quan niệm về Thực tại Tối Hậu nơi người Á Châu không giống với Tây Phương. Có hai đặc điểm chính của triết học và tôn giáo Á Châu, đó là trước hết, người ta có một cái nhìn tổng hợp, hài hoà về mọi thực tại, kể cả Thực Tại Tối Hậu, mà người ta gọi là Trời, Thiên, Đại Ngã, Brahman hay Đạo. Thứ đến, vì đây là một cái nhìn hài hòa, kết hợp âm dương, nội ngoại, siêu việt nội tại. Vì thế mà cách đạt tới thực tại là con đường phủ định, “via negativa”. Người ta không thể giải thích Thiên Chúa là gì, nên chỉ nói Người không phải như thế nầy, không phải như thế kia, do đó mà người ta quan niệm rằng nên dùng cái tâm hơn là dùng lý trí để cảm nghiệm chân lý.”
Kết:
Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu đúc kết:
“Phải giới thiệu Đức Giêsu Kitô như Đấng thỏa mãn những khát vọng sâu xa của con người, được diễn tả qua các thần thoại và văn chương dân gian của các dân tộc Châu Á» (Ecclesia in Asia, số 20, §5).
Tân Hoà, ngày 18 - 9 - 2002.
hkimt@catholic.org