THẦN HỌC XÁC THÂN

của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ

CHƯƠNG HAI (bài 3)

Ý Nghĩa Hôn Phối của Thân Xác

Khi nhìn thấy nhau, Ađam và Evà đều nhận thức được rằng có “hai chiều kích bù đắp cho nhau” trong ý thức phản tỉnh (=tự tri qua trí tuệ) và sự tự quyết (=khả năng lưạ chọn, tức ý chí), là hai phương cách bổ túc nhau trong ý thức về ý nghĩa của thân xác.” Nói khác đi, hai người đã khám phá ra nam tính và nữ tính. “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” Ađam và Evà cùng nhau bước vào cuộc hôn phối, một kết hợp nhân vị được biểu lộ trong và qua thân xác. Đây là cuộc hôn phối đầu tiên. Nhưng để bước vào cuộc hôn phối này, ý chí chọn lưạ phải được huy động. ĐGH nhìn thấy trong động từ “gắn bó” một chỉ dấu của việc Ađam và Evà quyết định tự hiến cho nhau. “Câu 2:24 trong sách Sáng Thế không chỉ cho thấy rằng, khi được tạo dựng có nam có nữ, con người được tạo thành cho một sự hợp nhất, mà còn cho thấy rằng chính sự hợp nhất này, vốn làm cho họ trở thành “một xương thịt,” thì ngay từ khởi đầu, đã mang đặc tính của sự hợp nhất do lưạ chọn tự do.”

Việc tự do chọn lưạ cam kết với nhau được thực hiện dựa trên sự bù đắp hỗ tương, nghĩa là, dưạ trên nam tính và nữ tính. Họ nhận ra rằng thân xác mình được tạo thành nhắm vào việc kết hợp giữa họ. Tuy nhiên, sự kết hợp này không chỉ thuần túy thân xác. Nó bao hàm sự thừa nhận và ý thức về nam tính và nữ tính, cũng như một lưạ chọn tự do. Việc họ tự hiến cho nhau được thực hiện một cách riêng tư, trong lúc cả hai đều hiểu rõ mình là ai, và đều hoàn toàn tự do chọn lưạ việc tự hiến cho nhau.

Điểm đặc biệt quan trọng trong kinh nghiệm về mối hợp nhất của Ađam và Evà chính là việc cả hai đều thấu hiểu ý nghĩa thân xác mình, điều mà ĐGH gọi là ý nghĩa hôn phối của thân xác. Như đã nói, nếu “ý nghiã” biểu thị các kết luận mà một nhân vị rút tỉa được từ việc khảo sát các kinh nghiệm chất chứa trong ý thức, thì ý nghĩa hôn phối của thân xác biểu thị các kết luận mà Ađam và Evà rút tỉa được từ kinh nghiệm hai người kết hợp với nhau. Khi nhìn Ađam, Evà nhận thức rằng “phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” Khi thấy Evà, Ađam cũng nhận thức rằng “phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” Thân xác họ được tạo dựng cho nhau, vì thế họ không ngại kết hợp với nhau. Trong kinh nghiệm kết hợp này, Ađam và Evà tự “chiêm ngưỡng.” Họ thấy mình quyết định tự hiến cho nhau. Họ biết mình được tạo dựng cho nhau. Trong chính ý thức về kinh nghiệm kết hợp này, họ khám phá ra tình yêu. Họ khám phá ra rằng mình được tạo dựng để yêu thương nhau trong và qua thân xác mình. Khám phá này chính là khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác.

Việc khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác là sự xác nhận chủ quan điều được mạc khải khách quan trong chương nhất sách Sáng Thế, khi “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình; Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa; Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.” Được sáng tạo giống Thiên Chúa, nên tự hữu thể mình, con người được kêu gọi hành động giống Thiên Chúa. Hình ảnh chính là sự phản chiếu. Khi soi gương chải đầu chẳng hạn, ta thấy hình ảnh mình trong gương đang chải đầu. Là hình ảnh Thiên Chúa, ta được kêu gọi hành động giống Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương, nên ta được mời gọi yêu thương giống như Ngài. Sự kiện khách quan này được mạc khải trong chương nhất sách Sáng Thế. Trong chương hai, con người khám phá ra chân lý và ý nghĩa này. “Bao lâu được mạc khải và được ‘sống’ một cách ý thức, ý nghĩa này luôn xác nhận rằng, việc cho đi một cách đầy sáng tạo, dưới tác đông của tình yêu, sẽ đưa đến ý thức nguyên thủy về con người, và trở thành một kinh nghiệm trao ban hỗ tương, như được thấy trong bản văn cổ.” Thiên Chúa mạc khải chân lý này: khi được tạo dựng theo hình ảnh Ngài, con người được kêu mời yêu thương như Ngài; thế nhưng, Ađam và Evà lại khám phá ra cùng cái chân lý ấy qua chính kinh nghiệm của mình, tức là qua việc nhận thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác mình.

“Như thấy trong các trang đầu sách Sáng Thế, ý thức về ý nghĩa của thân xác, nhất là ý nghĩa “hôn phối” của nó, chính là yếu tố căn bản của hiện hữu con người trên trần gian.” Hẳn nhiên, ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác chính là chân lý căn bản về hữu thể nhân sinh; chân lý ấy là: ta được tạo dựng trong và cho tình yêu, và thân xác ta chính là phương tiện bầy tỏ và nhận lãnh tình yêu ấy. Ý thức về chân lý mà Thiên Chúa công bố khi Ngài tạo dựng nên ta giống hình ảnh Ngài thì tuyệt đối quan yếu cho đời sống con người. Ta được tạo dựng để yêu thương và để được thương yêu. Như ĐGH viết trong thư luân lưu đầu tiên của Ngài, “Con người không thể sống không tình yêu. Con người sẽ trở thành bất khả tri cho chính mình, và đời người sẽ vô nghĩa nếu tình yêu không được mạc khải, không được cảm nghiệm, không được con người biến thành của mình, và nếu con người không tham dự vào tình yêu một cách mật thiết,” bởi vì con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, và được mời gọi hành động như Ngài, tức là sống yêu thương. Việc khám phá ra chân lý này một cách chủ quan chính là điều ĐGH muốn trình bầy khi nói đến ý nghĩa hôn phối của thân xác.

Hiển nhiên, Ađam và Evà phần nào đã khám phá ra chân lý này khi nhìn thấy nhau lần đầu tiên, ngay cả trước khi hoàn hợp với nhau. Điều này được tỏ hiện qua tiếng reo vui, “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” Việc khám phá được trọn vẹn qua sự kết hợp vợ chồng của hai người. Dĩ nhiên, cả hai biến cố đều xẩy ra trong lúc họ đều trần truồng. Tác giả sách Sáng Thế còn nhận xét rằng, “con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.” Tuy nhiên điều quan trọng hơn hết mà ĐGH muốn nói đến trong các đoạn văn ám chỉ ý nghĩa hôn phối của thân xác không phải là bảo rằng Ađam và Evà thì trần truồng, mà là bảo rằng, họ đã khám phá ra việc họ được tạo dựng là để yêu thương và sống cho tình thương yêu ấy, nghĩa là, họ khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác.

Là những kẻ được sinh ra trong di sản tội lụy, thì thật là khó cho ta, nếu không muốn nói là bất khả, cảm nghiệm được sự trần truồng đúng y như Ađam và Evà đã cảm nghiệm, và khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác theo đúng kiểu cách Ađam và Evà đã khám phá. Tội lỗi đã che mờ ánh nhìn và sự thấu hiểu của ta về chân giá trị của người khác. Sách Sáng Thế đề cập đến sự thiếu vắng này, khi nói rằng, sau khi phạm tội, Ađam và Evà “thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.” “Chỉ duy sự trần truồng vốn biến người nữ trở thành một ‘đối tượng’ cho người nam, hoặc ngược lại, mới chính là nguồn của sự xấu hổ. Sự kiện họ không hề xấu hổ (trước khi phạm tội) có nghĩa là người nữ đã không là ‘đối tượng’ cho người nam, và người nam cho người nữ.” Trong kinh nghiệm về sự hợp nhất nguyên thủy, cả Ađam lẫn Evà đều tự do trao hiến mình cho nhau. Họ tự nguyện hàng phục lẫn nhau để người này mưu cầu hạnh phúc cho người kia. Tình yêu là thế đó. Sau khi phạm tội, tính lăng loàn của xác thịt do tội lỗi gây nên, đã khiến người này thèm muốn người kia. Thế là thay vì tự do tự hiến-trong khi nhận thức rằng người kia là tặng vật toàn vẹn-thì tính lăng loàn đã đưa họ đến chỗ chiếm đoạt người kia cho riêng mình. Thay vì cho đi, thì lại ham muốn chiếm hữu như sự vật. Ham muốn này được bộc lộ trong thân xác họ, và cả hai đều nhìn thấy sự bộc lộ của nỗi ham muốn này. Họ thấy xấu hổ khi đứng trước mặt nhau bởi vì họ biết rằng mình không được hạ giảm người kia xuống hàng sự vật; thế nhưng, sau khi phạm tội, sự ham muốn chiếm đoạt đã hiện rõ qua trạng thái trần truồng. Chính vì thế, đối với những kẻ thừa tự tội lỗi như ta, toàn thể nhân loại là con cháu Ađam Evà, chỉ ngoại trừ Chúa Kitô và Mẹ Maria, thật khó, nếu không nói là bất khả, khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác theo cung cách Ađam Evà đã khám phá. Hẳn nhiên, đây là một trong các lý do điều đó được mạc khải cho ta, không chỉ một cách khách quan trong chương nhất sách Sáng Thế, mà còn qua sự ghi chép về các kinh nghiệm của Adam Evà trong chương hai nữa.

Khi khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác, Ađam và Evà nhận thức rằng mình là tặng vật cho nhau, đươc Thiên Chúa giới thiệu người này cho người kia. Cũng như tặng vật họ trao nhau là chính tặng vật tình yêu, thì món quà Thiên Chúa tặng ban người này cho người kia cũng là món quà tình yêu. Thế là họ nhận ra rằng khi yêu thương nhau, khi trao thân cho nhau, họ đã phản ảnh món quà Thiên Chúa tặng ban cho họ. Sự kết hợp tình yêu của họ cùng một lúc trở thành một tấm gương soi, một phản chiếu, một hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa đã dành cho họ. Sự kết hợp của họ đã biến cõi sống nội tâm của Thiên Chúa hóa thành hữu hình. Thân xác họ xét riêng rẽ không chỉ diễn đạt bản chất của họ và mạc khải Thiên Chúa là ai, nhưng khi yêu thương nhau, Ađam và Evà còn biến tình yêu Thiên Chúa, tình yêu của chính Thiên Chúa Ba Ngôi trở thành hữu hình nữa. Hẳn nhiên, vì không biết sự hiện hữu của Thiên Chúa Ba Ngôi, Ađam và Evà không thể phản chiếu một cách ý thức tình yêu của Tam Vị, tuy nhiên họ vẫn ý thức khi phản ảnh tình yêu Thiên Chúa tuôn đổ trên họ khi Ngài tạo dựng nên họ cho nhau, và cũng chiếu dọi tình yêu Thiên Chúa mạc khải khi sáng tạo muôn loài cho họ quản cai. ĐGH nhận xét rằng tình yêu của Ađam và Evà chính là “một bí tích ban sơ, hiểu như một dấu chỉ chuyển tải một cách hữu hiệu vào thế giới hữu hình cái mầu nhiệm vô hình ẩn dấu trong Thiên Chúa từ khởi đầu. Đó chính là mầu nhiệm của chân lý và tình yêu, mầu nhiệm đời sống của Thiên Chúa, trong đó con người được thông dự vào.”

Theo phân tích của ĐGH về chương hai và chương ba sách Sáng Thế, thì ý thức của Ađam và Evà hoặc các kinh nghiệm đầu đời đã khiến họ khám phá ra các chân lý về chính mình xét như các cá vị. Cả Ađam lẫn Evà đều biết rằng họ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa xét như nhân vị có trí tuệ và ý chí. Họ hiểu rằng thân xác mình thì biểu lộ chính họ và mạc khải chính Thiên Chúa. Họ biết mình là tặng vật cho nhau, và Thiên Chúa tuôn đổ hồng ân xuống trên họ khi Ngài tạo dựng nên họ cho nhau. Chính trong những khám phá này về bản thân mình qua các kinh nghiệm chủ quan, họ xác nhận các chân lý được mạc khải trong trật tự khách quan đề cập đến trong chương nhất sách Sáng Thế.

Các kinh nghiệm nguyên thủy này, vốn luôn mãi là một phần đời của chúng ta-trong bối cảnh tiền-lịch-sử thần học của mỗi người--sẽ không bao giờ lặp lại được. Tôi lỗi đã làm thương tổn chúng ta đến độ sẽ chẳng bao giờ sống lại được nỗi cô đơn mà Ađam đã sống, cũng như chẳng bao giờ có được sự hợp nhất nguyên thủy mà Ađam Evà đã trải qua. Sự đổi thay trong ta do tội lỗi gây nên được hàm chứa trong sách Sáng Thế. Trước khi phạm tội, họ trần truồng nhưng không hề xấu hổ. Sau khi phạm tội, họ trần truồng và phải kết lá che thân. Điều này cho thấy một đổi thay triệt để nơi Ađam và Evà. Chính sự đổi thay này và các hậu quả của nó đã là đề tài của chu kỳ thứ hai trong loạt bài về nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị.

Kỳ sau: Chương Ba: Tội Lỗi và Xấu Hổ