MỘT MÙA XUÂN CHƯA BÌNH YÊN

Khi nói những chuyện lôi thôi dài giòng mất thời giờ vô ích, chúng ta thường bảo nhau: lại “con cà con kê”! Kê là gà! Thôi thì cho phép tôi “cà kê” một chút đêm nay - đêm 30 Tết, đêm linh thiêng, đêm giao duyên Đất Trời, đêm ‘tống cựu nghinh tân’ -đêm tống khỉ nghinh gà.

Có ông kia rất ngang bướng. Khi chết, đến gặp thánh Phêrô và nằng nặc đòi vào Thiên Đàng. Thánh Phêrô xem lại sổ bộ, không thấy tên nên không cho vào. Sừng sộ cũng không đuợc, năn nỉ cũng không xong, ông này liền bỏ đi. Nhưng chỉ một lát sau, ông ta quay lại, trên vai đeo thêm một cái bao. Thánh Phêrô nói: “Một là một; hai là hai, đừng có năn nỉ lôi thôi!” Rồi nghe tiếng sột soạt trong cái bao, thánh Phêrô nói thêm: “Ngươi mang con gì trong bao vậy?” Ong ngang bướng không nói không rằng chỉ mở cái bao he hé vừa đủ cho thánh Phêrô xem. Vừa nhìn xong, thánh Phêrô mặt không còn hột máu, lật đật mở cửa Thiên Đàng, miệng lầm bầm: “Vào ngay đi! Đừng nhắc lại chuyện củ đau lòng Ta lắm, con a!”

Chuyện củ gì mà làm cho thánh Phêrô đau lòng lắm vậy?

Cũng như heo, gà với dân Việt chúng ta khá gần gủi. Không những là một ngón ăn ngon “con gà cục tác lá chanh”, mà còn là lễ vật không thể thiếu khi dâng cúng tiên nhân. Rồi tiệc tùng, biếu xén thế nào cũng có gà: “bút sa, gà chết” là thế.

Chẳng những vậy, dân ta còn đưa gà vào thơ văn, ca dao, tục ngữ. “Chó giữ nhà, gà gáy sáng”. Có thể nói không ngoa, gà đã ít nhiều phong phú hoá cuộc sống con người chúng ta.

Như ai oang oang vênh vang tự đắc thì nói: “gà đẻ gà cục tác”. Chỉ người nào có tính háo thắng tranh nhau thiệt hơn: “gà tức nhau tiếng gáy”. Ai mất hồn ngơ ngơ ngáo ngáo thì ví: “ngây ngô như gà ngồ”. Với người không chịu làm việc là gánh nặng cho gia đình thì “gà què ăn quẩn cối xay”. Mắt kém thì bảo là ‘mắt quáng gà”. Đi đứng không vững, hoặc làm việc gì không nên thì nói “lạng quà lạng quạng như khỉ quáng gà”. Chữ xấu thì “viết như gà bới”. Hết chuyện xui này đến chuyện xui khác thì “tội vịt chưa qua, tội gà đã đến”.

Trong gia đình, mẹ mất sớm, người cha là “gà trống nuôi con”. Nếu chồng mất rồi tái giá, thì “mẹ gà, con vịt”. Dạy con biết thương yêu nhau thì “gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.

Gà quả thật là một sinh vật khá thú vị, đuợc dùng trong thơ và chuyện ngụ ngôn, chứ không phải đơn thuần ‘cục tác lá chanh”. Như chuyện một con gà trống đang gáy oang oang, một con cáo đi ngang qua liền nói: “Thưa Ngài! Từ lúc cha sinh mẹ đẻ tôi chưa thấy giọng của ai hùng tráng như Ngài. Tướng mạo Ngài lại rất phương phi lẫm liệt. Nếu Ngài nhắm mắt lại, chắc Ngài sẽ gáy hay hơn nhiều lắm.” Nghe bùi tai, chú gà trống nhắm tít mắt lại. Cáo nhà ta không một giây chần chơ, chồm tới ngoạm ngay chú gà trống đang ngon miệng gáy và phóng nhanh vào rừng.

Thế là tiêu đời chú gà trống! Nhưng không! Gà cũng khôn không kém cáo! Thấy con cáo tha gà, người nhà vừa la vừa rượt theo bén gót. Thấy thế, gà liền bảo cáo: “Cái lũ người này vớ vẫn thật. Tôi đã đồng ý nạp mình cho Ngài rồi mà cớ sao họ lại làm ầm ầm mãi lên thế! Ngài hãy mau la lên cho bọn chúng biết rằng tôi đã hoàn toàn thuộc về Ngài rồi và bảo bọn chúng hãy mau cút xéo đi.” Cáo nghe có lý, bèn hả mồm ra để nói, thì gà liền phóng ngay đi, và đậu trên một cành cây nọ.

Cáo ngồi dưới gốc cây, nhìn gà trống trên cao, nuốt từng ngụm nước bọt thèm thuồng, rồi tự nguyền rủa: “Rõ mình ngu ngốc quá. Cái miệng làm hại cái thân! Nói không đúng lúc.” Nghe thế, gà cũng thốt lên thương hại: “Căp mắt của tôi cũng dại dột chẵng kém gì mồm miệng của Ngài. Lúc cần nhìn, thì lại nhắm tít lại”.

Biết nói đúng lúc, đúng nơi! Biết nhìn điều đáng nhìn! Có phải đó là hành trang cần thiết của đời sống chúng ta. Như Chúa đã phán: “Ai có tai, hãy nghe”. Hãy nghe điều đáng nghe. Hãy nói điều đáng nói. Hãy nhìn điều đáng nhìn.

Chuyện vui, ngụ ngôn về gà cũng nhiều, nhưng chuyện buồn về gà cũng không thiếu. Khỉ đi thì gà lại. Nếu năm Mậu Thân 1968 đánh dấu một trang sử đẩm máu đau thương, thì năm Ất Dậu 1945 là một năm đau xót, thương tâm, man dã, khiếp đảm nhất trong lịch sử dựng nuớc và giữ nuớc của dân tộc ta.

Năm ấy, tôi đã chưa sinh ra, nhưng ngày hôm kia, đuợc tiếp chuyện với qúy cụ trong Huynh Đoàn Đa Minh -những chứng nhân cho biến cố rất đau thương và kinh khiếp này- rồi đọc lại những thư liệu, tôi mới cảm thấy thương và xót xa cho dân tộc Việt mình. Một dân tộc đất không giàu và nguời không đông, nhưng đã vẫn chưa yên hưởng đuợc thanh bình, chưa hít thở bầu khí tự do. “Dân tộc ta”, như nhà văn Phan Nhật Nam viết, “sao nỡ quá đoạ đày”.

Một cụ đã bảo tôi: “Năm 1945, miền Bắc bị vỡ đê. Như sóng thần tsunami bên An Độ Dương, tuy cường độ nhỏ hơn nhiều.” Nhưng nếu sóng thần ngày 26/12/2004 là thiên tạo, sóng thần năm Ất Dậu 1945 là nhân tạo: con người tạo dựng để tàn sát con người. Như Ellen Goodman suy tư và sững sờ sau cơn địa chấn sóng thần vừa qua: Đã không đủ thiên tai hay sao mà con người chúng ta lại tạo thêm ra những tang thương, chết chóc, đổ vỡ kinh khoàng khác? (1)

Ất Dậu 1945. Cách đây đúng 60 năm. Đúng 5 con giáp. Phát Xít Nhật lấy thóc gạo đem nấu thay than. Phát Xít Nhật đốt cháy ruộng đồng để trồng đay, trồng gai phục vụ cho kỹ nghệ chiến tranh Lừa ngựa của quân Nhật ăn thừa mứa nhưng hơn 2 triệu người Việt Nam bị bỏ đói. Và chết đói. Nhiều người khác chết no, vì bội thực. Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đày!!!

Nạn đói Ất Dậu 1945 là do con người tàn ác với con người. Gà cũng là biểu tượng của nước Pháp. Nếu Phát Xít Nhật muốn giết, tru di dân tộc bằng cách bóp chẹt bao tử tổ tiên ta, thì người Pháp khôn ngoan hơn, cáo cạnh hơn, đầu độc dân tộc ta bằng đầu óc qua chính sách ngu dân.

Đã có một thời trong lịch sử giữ nuớc và dựng nước của dân tộc ta mà cái gì cũng là Pháp. Nói tiếng Pháp. An cơm Tây. Lấy vợ đầm!!!

Như việc đặt tên thánh rửa tội. Như tên lúc khấn dòng. Phải là một tên Pháp, phép rửa tội mới thành! Phải là một tên Tây, việc khấn dòng mới trọn! Chúng ta mất dần căn tính, và quên bẵng đi chúng ta là người Công Giáo Việt Nam, mà tổ tiên đã anh dũng đổ máu đào để đức tin đuợc quyện vào trong lòng dân tộc.

Thần học gia nổi tiếng Hans Kung đã chua chát nhận xét khi ông trích lời của một tân tòng: “Except for the colour of our skin, we are no different from the French.” (Ngoại trừ màu da, chúng tôi không khác nguời Pháp mấy!)

Giáo Hội có thể nào nhập thể nếu không quyện vào ngôn ngữ và dân tộc mình? Không thể nào! Hãy nghe đây Huấn lệnh của Bộ Phúc Am Hoá Các Dân Tộc viết năm 1659 cho các nhà thừa sai: “Không thể viện bất cứ lý do gì để bắt người địa phương thay đổi ngôn ngữ, phong tục, tập quán, truyền thông mình. Hãy tôn trọng và phát huy những gì đáng tôn trọng và phát huy.”

Cho dẫu phải oằn mình ngậm đắng nuốt cay muôn vàn khổ nhục điêu linh, lịch sữ đã chứng minh là dẫu qua bao nhiêu dâu biển thăng trầm, dân tộc ta vẫn trường tồn. Dân tộc ta vẫn chịu đựng. Và dân tộc ta đã thắng.

Và chúng ta chỉ thắng khi chúng ta tuyệt đối tin vào Thiên Chúa. Vào vong linh các bậc tiên nhân. Vào các thánh tử đạo chúng ta.

Tối nay, hoặc ba ngày Tết, hãy kể chuyện con cà con kê vì gà phong phú hoá đời sống chúng ta. Nhưng xin cũng hãy đừng quên, gà cũng nhắc cho chúng ta nỗi đau nhược tiểu. Và vì thế, đừng “chớ hoài đá nhau’ vì chúng ta cùng một Mẹ, Mẹ Việt Nam. Và hãy bằng mọi cách đưa Giáo Hội Chúa nhập thể trong lòng dân tộc mình.

It was in the personal tragedy we felt our unity. Waves swept away Muslims, Hindus, Buddhists and Christians with a ferocious indifference. Once again, unified in the face of catastrophe, we hit the pause button on our own man-made conflicts.

But I also watch us inch back to "normal." On Page 1, the fury of nature shares space again with the folly of humanity. The victims of nature make room for the victims of man-made conflict.

It's impossible to watch this unfold and not wonder why people need tragedy to remind us of our humanity. And why we manufacture disaster when nature provides quite enough of its own.
( Ellen Goodman, “Back to Normal?”)