THẦN HỌC XÁC THÂN

của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ

Ý Nghĩa Hôn Phối của Thân Xác

Hẳn nhiên, còn một câu hỏi nữa: Nếu đã biết các chân lý về Tạo Dựng một cách khách quan qua chương nhất sách Sáng Thế, thì tại sao lại phải rắc rối tìm hiểu Mạc Khải chủ quan về cùng chân lý ấy qua chương hai nữa? Tại sao lại cần tìm hiểu cả hai phương cách khi cũng chỉ đề cập đến cùng một chân lý? Câu trả lời đơn giản là: cả hai chương đều là một phần của Mạc Khải, và Thiên Chúa đã cống hiến cho ta cả hai phương cách vì chúng đều cần thiết. Nhưng tại sao cả hai lại cần thiết như vậy? Câu trả lời là: khi có kinh nghiệm một điều gì, thì điều đó dường như trở nên chân thật hơn đối với ta, nhất là trong bối cảnh sống của thế kỷ 21 như hiện nay. Như đã đề cập đến trong chương dẫn nhập, nếu tôi biết một cách lý thuyết (qua một bài thuyết trình hay một buổi học hỏi) rằng xe của tôi sẽ không chạy được nếu bị khô dầu, thì tôi mới chỉ có được một kiến thức khách quan về một khía cạnh của động cơ xe hơi. Tuy nhiên, khi đang ở trên xa lộ mà xe của tôi bị chết máy, thì cái kinh nghiệm này mới thực sự tạo ảnh hưởng rõ rệt. Chính cái kiến thức đến từ kinh nghiệm này mới thực sự đáng nhớ và sẽ khiến ta cẩn thận để tránh tai họa hơn là mớ kiến thức khách quan. Người thời đại sẽ ghi nhớ và hành động theo kiến thức kinh nghiệm nhanh nhậy hơn là theo kiến thức khách quan và lý thuyết. Đối với ta, kiến thức đến từ kinh nghiệm thì “chân thật” hơn. Thiên Chúa ban cho ta cả hai phương cách, bởi lẽ có người chỉ học được theo kiểu khách quan, còn có người lại chỉ học được theo kiểu kinh nghiệm, nhưng nhiều người trong chúng ta sẽ thấy cả hai đều có lợi.

Khởi đi từ diễn từ thứ năm trong loạt bài THXT, ĐGH bắt đầu phân tích các kinh nghiệm được ghi chép trong chương hai sách Sáng Thế. Một điểm then chốt ĐGH nêu lên là, trong chương hai, ngược với chương nhất, Ađam được tạo dựng trước Evà. Trước khi Evà được tạo dựng, Ađam chưa được coi là đàn ông. Chỉ sau khi Evà đã được tạo dựng thì nam tính và nữ tính mới được nói đến. Ađam (=con người) thật cô đơn. Ađam bắt đầu cảm nghiệm được nỗi cô đơn khi Thiên Chúa truyền cho ông đặt tên cho các loài vật có mặt trong vườn điạ đàng. Qua tiến trình này, Ađam thấy được là không có tạo vật nào giống mình cả, và chính vì đó ông cảm thấy cô đơn. Việc đặt tên cho loài vật thực sự trở thành cuộc Ađam đi tìm chính danh tính của mình. ĐGH viết:

“Việc con người thấy mình cô đơn trước Thiên Chúa chính là để, qua một sự tự xác định đầu tiên, biểu tỏ sự tự tri như một bộc bạch nguyên thủy và căn bản về nhân tính của mình. Tự tri phát triển cùng mức độ với tri thức về thế giới, về tất cả các tạo vật hữu hình, về tất cả mọi sinh vật mà con người đặt tên cho, hầu xác nhận tính dị biệt của con người so với chúng. Vì thế, theo cách thức ấy, ý thức biểu tỏ con người như là hữu thể sở hữu khả năng tri thức đối với thế giới hữu hình. Với tri thức này, mà một cách nào đó, khi đưa mình ra khỏi hữu thể mình, trong cùng một lúc, con người tự mạc khải cho chính mình trong tất cả độc đáo tính của hữu thể mình. Con người không chỉ cô đơn một cách cốt yếu và chủ quan. Thực ra, nỗi cô đơn cũng chính là chủ quan tính của con người, vốn được cấu thành qua sự tự tri. Con người cô đơn bởi vì nó ‘khác’ với thế giới hữu hình, khác với thế giới sinh vật…Con người mạc khải mình cho chính mình mà cũng đồng thời xác định mình như một ‘nhân vị’ giữa lòng thế giới hữu hình.”

Khi đặt tên cho loài vật, Ađam ngóng tìm một ai đó giống như mình. Ông không tìm được, bởi vì khi nhìn thấy và đặt tên cho loài vật, ông không thể tìm ra một hữu thể nào có điều mà ông đang có, đó là cái khả năng không những làm đươc nhiều việc (=hành động), mà còn có thể nhìn ngắm chính mình đang hành động nữa. Ông đăt tên cho loài vật, nhưng đồng thời cũng nhìn ngắm mình đang làm công việc ấy. Ông có một ý thức về sự việc đang xẩy ra, về điều mình đang làm. Qua ý thức này--chỉ ông mới có, còn loài vật thì không-ông vượt trổi trên tất cả mọi loài trong thế giới hữu hình. Vì thế, ông sở hữu sự tự tri, nghĩa là một nhận thức về tình trạng khác biệt của mình. Như ĐGH viết: “Ý thức, tức khả năng nhìn ngắm mình đang hành động, cho thấy con người là một hữu thể sở hữu khả năng tri thức.” Khi tách mình ra khỏi thế giới hữu hình như một hữu thể có trí tuệ, con người nhận thức mình là một nhân vị. Mà vì không có một nhân vị nào khàc trong thế giới hữu hình này cả, nên Ađam thấy mình cô đơn. Nhận thức này (biết mình là một nhân vị có khả năng thủ đắc sự tự tri từ ý thức về các kinh nghiệm của mình) chính là ý nghĩa của nỗi cô đơn nguyên thủy.

Từ ‘ý nghĩa’ ở đây được ĐGH sử dụng theo kiểu kỹ-thuật-nửa-chừng. ‘Ý nghĩa’ chỉ thị các kết luận mà một nhân vị rút tỉa được từ việc khảo sát các kinh nghiệm chất chứa trong ý thức mình. Ađam đặt tên cho loài vật và ông có ý thức về hành vi này. Khi tra xét kinh nghiệm này, (bằng cách khảo sát ý thức ‘chất chứa’ kinh nghiệm), ông biết được mình khác biệt với loài vật (bởi vì rõ ràng là chúng không hề có ý thức về các hành vi của chúng). Ông nhận thức được mình là một nhân vị. Tri thức này chính là ‘ý nghĩa’ của nỗi cô đơn. Ý nghĩa của một kinh nghiệm là tri thức chắt lọc từ một khảo sát các kinh nghiệm chất chứa trong ý thức. (Định nghĩa này sẽ đóng vai trò rất quan trọng khi theo dõi phần phân tích tư tưởng của ĐGH).

Thêm vào kinh nghiệm đặt tên cho loài vật, Ađam còn nghe Chuá phán rằng, “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn; vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” Trước lệnh truyền này, Ađam buộc phải lựa chọn. Thế là ông có ý thức về chọn lựa và rồi nhận thức rằng mình không chỉ có một trí tuệ để biết mình, mà còn có một khả năng cho phép mình lựa chọn nữa. Như ĐGH viết: “Định nghĩa nhân học chất chứa trong bản văn Yahwist (nghĩa là chương hai và ba sách Sáng Thế) tiếp cận với điều được mô tả trong định nghĩa thần học về con người, mà ta thấy trong trình thuật Tạo Dựng thứ nhất, (‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta”-St 1:26).

Hiển nhiên là trong tiến trình đặt tên loài vật, Ađam đã nhìn vào từng con, quan sát thân thể chúng. Ông nhận thức được mình khác với chúng bởi vì thân thể chúng khác với thân thể ông. Từ đó, ông ý thức rằng thân xác thì bộc lộ đời sống nội tâm và nhân vị mình như ĐGH viết: Ađam “khám phá ra ý nghĩa của thân thể tính.” Theo một kiểu nói đã trở thành thời danh của ĐGH, thì Ađam bắt đầu nhận thức rằng thân xác biểu tỏ nhân vị. ĐGH cũng nhận xét rằng: “Quả thực, thân xác, chỉ duy nó mà thôi, mới có khả năng biến cái vô hình, cái thiêng liêng và cái thần linh trở thành hữu hình. Nó đươc tạo dựng để chuyển đổi thành thực tại hữu hình của thế giới cái mầu nhiệm ẩn dấu trong Thiên Chúa từ ngàn xưa, và trở thành dấu chỉ của nó.” Thân xác con người không chỉ là tổng số các thành phần sinh học. Chính qua các chức năng sinh học có vẻ dễ hiểu này mà ngôi vị tính của con người được biểu lộ. Thân xác con người là tạo vật duy nhất Thiên Chúa dựng nên có được khả năng diễn tả và biểu lộ hữu hình một thực tại thiêng liêng là ngôi vị tính. Thiên thần là ngôi vị, Ba Ngôi Thiên Chúa cũng là ngôi vị, nhưng không vị nào trong số này lại có khả năng diễn tả và biến đổi ngôi vị mình thành ra hữu hình được. Do ý định của Thiên Chúa, điều đó chỉ được dành riêng cho hữu thể con người vốn là ngôi vị duy nhất có xác thân. (Hẳn nhiên, Chúa Giêsu, trong nhân tính của Ngài, cũng biến Ngôi Vị mình trở thành hữu hình; nhưng đó là bởi vì Ngài đã mặc xác phàm loài người. Chính với tư cách là một con người, một hữu thể nhân sinh, mà Ngài đã tự mạc khải trong và qua Thân Thể Ngài. Vì thế, quả đúng là chỉ có riêng hữu thể nhân sinh mới có được khả năng biểu tỏ ngôi vị tính trong thế giới hữu hình.)

Thân xác biểu lộ nhân vị, thế nhưng, vì ta là hỉnh ảnh của Thiên Chúa, nên thân xác ta không chỉ biểu lộ nhân vị ta mà thôi, nó còn thực sự bầy tỏ một cái gì của chính Thiên Chúa. Có thể nào khác đi đươc chăng? Thiên Chúa tạo dựng con nguời theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài. Hữu thể nhân sinh có xác thân biểu tỏ bản chất mình: là hình ảnh Thiên Chúa. Nhìn thấy một hữu thể nhân sinh, là nhìn thấy sự biểu tỏ hữu hình của hình ảnh Thiên Chúa. Nhìn thấy một hình ảnh của Thiên Chúa, là nhìn thấy một cái gì đó của Chính Ngài. Khi bộc lộ nhân vị mình và biểu tỏ chính Thiên Chúa, thân xác con người trở thành tạo vật duy nhất của Chúa và có tràn đầy giá trị cũng như phẩm giá. Hữu thể nhân sinh quả thật “chỉ thua kém thần linh một chút xíu.” Đây chính là chân lý mà Ađam đã nhận thức được khi khám phá ra ý nghĩa thân xác mình.

Ađam, nhân tính-chưa phân biệt nam nữ--biết mình như một ngôi vị có khả năng suy tưởng và chọn lưạ. Ông biết thân xác mình là sự biểu thị bên ngoài và hữu hình của ngôi vị tính nội tâm, của điều mình suy nghĩ hay chọn lưạ. Từ khi biết mình như một ngôi vị-thân xác hoặc như một thân xác-ngôi vị, và lại nghe văng vẳng bên tai lời Chúa cảnh cáo là mình “sẽ phải chết” nếu cả gan ăn trái cây biết điều thiện điều ác, Ađam cũng biết thân xác mình có thể chết, có thể ngưng sống. “Ngay từ đầu, sự luân phiên giữa chết và bất tử đã đi vào chính cái định nghĩa về con người, và “từ khởi đầu” đã thuộc về ý nghĩa của nỗi cô đơn trước mặt Thiên Chúa.”

Có kinh nghiệm về cô đơn, Ađam biết mình (bởi vì ông có ý thức về mình) như một hữu thể suy tưởng, chọn lưạ, và tự biểu lộ giữa thế giới hữu hình qua xác thịt và máu huyết. Nhưng ông vẫn cô đơn. Thế là Thiên Chúa cho Ađam ngủ thiếp đi, và tạo nên Evà, người nữ đầu tiên. Tiếng kêu vui mừng của Ađam đã trở thành quen thuộc: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” Con người, tỉnh dậy từ giấc ngủ mê, trở thành nam và nữ. Về điểm này, ĐGH viết: “Nếu có thể đọc được cái ấn tượng và cảm xúc xuyên qua những từ ngữ thật xa vời đó, ta có thể đánh bạo mà nói rằng cái chiều sâu và sức mạnh của dòng cảm xúc đầu tiên và ‘nguyên thủy’ này phát ra từ cửa miệng người-đàn-ông trước sự hiện diện của nhân tính người phụ nữ, cùng lúc trước sự hiện diện của nữ tính nơi một hữu thể nhân sinh khác, thật sự là một cái gì độc nhất và không thể lặp lại.” Ađam nhận ra nơi Evà một hữu thể khác mà thân xác cũng biểu tỏ một ngôi vị. Ông nhận ra nơi nàng (và nàng nhận ra nơi ông) ngôi vị tính ta vừa đề cập đến. (Xét như một nhân vật khác, Evà chia sẻ với Ađam chung một cảm nghiệm về nỗi cô đơn bởi vì nỗi cô đơn thuộc về Ađam xét như con người, chứ không xét như nam-nhân. Có thể nói, cô đơn thuộc về nhân tính. Cùng với Ađam, Evà cũng có cảm nghiệm về cô đơn, vì thế, nàng cũng nhận thức đươc mình là ai xét như một ngôi vị có ý thức phản tỉnh về trí tuệ, ý chí và thân xác.)

Ađam và Evà mặc nhiên hiểu rằng có một cái gì đó thiếu vắng trong nỗi cô đơn. Khi đặt tên cho loài vật, ông không thấy ai giống mình. Khi Evà được tạo dựng, sự thiếu vắng mặc nhiên này trở thành minh nhiên. Đó là lý do của tiếng reo vui khôn tả: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” Chỉ qua biến cố tạo dựng một trợ tá “tương xứng với ông” mà Ađam mới vượt qua được cái “biên cương của nỗi cô đơn con người.” Giữa Ađam và Evà, có một mối tương thuộc không hề thấy có nơi phần thụ tạo hữu hình còn lại trong thế giới.

(còn tiếp)