THẦN HỌC XÁC THÂN

của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ

CHƯƠNG HAI (bài 1)

Ý Nghĩa Hôn Phối của Thân Xác

Như đã đề cập trong chương trước, nhân vị là một sự kiện khách quan, nghĩa là, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài. Chân lý này cũng là lý do giải thích tại sao mỗi con người đều là một chủ thể cá biệt, nói khác đi, là giải thích tại sao mỗi con người đều có khả năng hành động và tự uốn nắn bản thân qua các hành vi của mình. Đó cũng là lý do tại sao mỗi chúng ta đều có một đời sống nội tâm. Xuyên qua cái chân lý là con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, Wojtyla đã có thể nối kết chủ quan tính của các nhà hiện tượng luận mà không hề làm mất khách quan tính của Tin Mừng.

Phương pháp hiện tượng luận áp dung vào suy tư thần học nằm trong chính trọng tâm nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô II. Không hiểu rõ nội dung của phương pháp này, chúng ta hoặc sẽ không hiểu, hoặc sẽ hiểu sai những điểm quan yếu của nền THXT. Do đó, chúng ta hãy đọc THXT của ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị trong ánh sáng phương pháp hiện tượng luận của Ngài.

THXT phần lớn là một cuộc khảo sát các chương mở đầu sách Sáng Thế. Kinh Thánh chứa đựng Mạc Khải của Thiên Chúa. Như vậy làm thế nào có thể áp dụng phương pháp hiện tượng luận--vốn khảo sát kinh nghiệm con người-vào trong các chân lý mạc khải? Câu hỏi căn bản này hiển nhiên phải đặt ra khi tra cứu các tác phẩm của Gioan Phaolô. Thiên Chúa không hề mạc khải cho chúng ta “từ chốn trời cao.” Ngài cũng chẳng kiếm chỗ núi cao để “hò hét” với ta. Mạc khải xẩy đến xuyên qua kinh nghiệm đời sống thường ngày. Ta gặp Ngài và lắng nghe Ngài. Ta có kinh nghiệm về Ngài và cùng kinh nghiệm với Ngài. Các kinh nghiệm này, khi mang lấy các chân lý Mạc Khải, sẽ trở thành đề tài cho việc tra cứu hiện tượng luận. Việc ta gặp gỡ Chúa Kitô vừa mang tính kinh nghiệm (vì thế mà có thể nghiên cứu theo kiểu hiện tượng luận được) lại cũng đồng thời hàm chứa nội dung Mạc Khải. Khi áp dụng hiện tượng luận vào các kinh nghiệm này, sẽ thấy có hai luồng dữ kiện. Một luồng đến từ các cuộc khảo sát kinh nghiệm con người sẽ đưa đến mầu nhiệm nhân vị, một luồng khác đến từ Mạc Khải vốn đem lại các lời giải đáp cho các câu hỏi nêu lên qua nghiên cứu hiện tượng luận về nhân vị, nghĩa là, “Tôi là ai?” “Ai là một hữu thể nhân sinh?”

Sự sung mãn của Mạc Khải đến với ta qua Chúa Kitô, là chính Ngôi Lời. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng mạc khải trong Cựu Ước nữa. Mạc Khải Cựu Ước cũng đến trong và qua kinh nghiệm con người. Chúng có cùng những đặc tính như Mạc Khải của Chúa Kitô. Cũng gặp thấy hai luồng dữ kiện: các dữ kiện hiện tượng luận từ kinh nghiệm con người dẫn đến mầu nhiệm của nhân vị cũng như lời giải đáp cho các câu hỏi này (được Mạc Khải ban phát).

Chu kỳ thứ nhất của THXT là cuộc khảo sát ba chương đầu sách Sáng Thế, nhất là chương hai và chương ba. Gioan Phaolô mở đầu với câu trả lời của Ngài cho nhóm Pharisêu khi họ hỏi Ngài rằng ly dị vợ có hợp luật không. Ngài trả lời rằng “Thuở ban đầu” Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và “vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” Cần ghi nhận từ ngữ: “thuở ban đầu” trong câu trả lời của Chúa. Gioan Phaolô dậy rằng khi nói thế Ngài ám chỉ mấy lời đầu của Kinh Thánh, sách Sáng Thế, “lúc khởi đầu.” Lời ám chỉ của Chúa Kitô về việc tạo dựng con người có nam có nữ thật rõ ràng trong chương đầu sách Sáng Thế, khi Thiên Chúa “sáng tạo con người theo hình ảnh mình; Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa; Thiên Chùa sáng tạo con người có nam có nữ.” Nhưng Gioan Phaolô cũng nhận định rằng phần hai của câu Chúa Kitô trả lời, “bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” mới thực sự ám chỉ chương hai sách Sáng Thế: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.”

Chỉ trong một câu trả lời, Chúa Kitô móc nối chương một với chương hai sách Sáng Thế. Hẳn nhiên, chúng bổ túc cho nhau, và cùng dậy một chân lý. Tuy vậy, hai chương này lại được viết bởi hai tác giả khác nhau, sống cách nhau hàng mấy thế kỷ. Quan trọng hơn nữa, chúng được viết từ hai viễn cảnh khác nhau. ĐGH nhận định rằng chương một sách Sáng Thế thì “hoàn toàn không mang một dấu vết chủ quan tính nào. Nó chỉ hàm chứa các dữ kiện khách quan và định nghĩa thực tại khách quan.” Trong khi đó, ngài cho rằng chương hai thì tiên quyết mang tính chủ quan. “Có thể nói rằng chương hai sách Sáng Thế trình bầy việc tạo dựng con người đặc biệt trong khía cạnh chủ quan của nó. So sánh cả hai thuật trình, ta đi đến kết luận là: tính chủ quan này tương ứng với thực tại khách quan của con người được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa.”

Trong chương hai sách Sáng Thế, Gioan Phaolô nhìn thấy sự ghi chép một số những kinh nghiệm đầu tiên của con người. Việc khảo sát các kinh nghiệm này qua phương pháp hiện tượng luận không chỉ là một việc khả thể, mà là một việc phải làm, hầu có được một hiểu biết phong phú hơn về nhân loại. Đồng thời, sự ghi chép các kinh nghiệm này cũng chính là một phần của Mạc Khải. Tóm lại, chương hai vừa chứa đựng Mạc Khải, lại vừa ghi chép cái ý thức phản tỉnh của hai nhân vật đầu tiên trên trái đất. Hai luồng dữ kiện đề cập trước đây thật rõ rệt trong chương sách này.

Hơn nữa, như ĐGH nhận xét, nguồn Mạc Khải, vốn được ban phát một cách chủ quan (qua việc ghi chép các kinh nghiệm đầu tiên của con người) trong chương hai sách Sáng Thế đã xác nhận và lập lại nguồn Mạc Khải được ban phát một cách khách quan trong chương nhất. Tất cả những gì được mạc khải khách quan trong chương nhất đều được mạc khải một cách chủ quan trong chương hai. Thêm một điểm then chốt nữa là: Lời Chúa không chỉ được mạc khải qua kinh nghiệm con người trong chương hai sách Sáng Thế, mà chính nguồn Mạc Khải ấy còn phải được giải thích trong ánh sáng kinh nghiệm riêng mỗi người. Như ĐGH đã dậy, “Khi giải thích mạc khải về con người, nhất là về thân xác, ta phải qui chiếu vào kinh nghiệm, bởi lẽ chính nhờ kinh nghiệm mà ta nhận thức được con người có xác thân.”

Qua bốn diễn từ trong loạt bài THXT, ta thấy thật rõ dự phóng của ĐGH. Phương pháp hiện tượng luận sẽ được áp dụng vào các kinh nghiệm được ghi chép trong chương hai sách Sáng Thế. Sự khảo sát này dẫn ta đến mầu nhiệm con người (tất cả mọi nghiên cứu hiện tượng luận đều như thế cả) trong cùng lúc ấy nó cũng đưa ta đến điều Thiên Chúa mạc khải qua các kinh nghiệm này. Chính các chân lý mạc khải, nhất là các chân lý liên quan đến thân xác, cũng cần được nhìn xem trong nguồn sáng kinh nghiệm mới. ĐGH cũng ghi nhận các chân lý đươc mạc khải khách quan trong chương đầu sách Sáng Thế. Đây chính là một cách “kiểm soát” đối với việc phân tích kinh nghiệm bằng phuơng pháp hiện tượng luận.

THXT không chỉ là một khảo cứu lịch sử về những con người đầu tiên trên trái đất, bởi lẽ ta có thể đặt mình vào tư thế của nhóm Pharisêu khi họ đến chất vấn Chúa Kitô về vấn đề hôn nhân. Vả lại, mỗi người, bất kỳ đã sống, đang sống hoặc sẽ sống, đều “nằm gọn bên trong cái goi là ‘tiền lịch sử thần học được mạc khải’ của mình,” nghĩa là, trong các kinh nghiệm được ghi chép trong chương hai sách Sáng Thế lúc trước khi phạm tội. Mặc dù tất cả chúng ta đều sinh ra trong tội, nhưng có thể nói, chân lý này là mặt trái của hiện hữu con người chúng ta. Ta không thể hiểu được mặt trái này một cách đầy đủ nếu không biết rõ mặt phải, nghĩa là thế nào là một con người không có tội.

Việc ĐGH chủ tâm phân tích các chương đầu sách Sáng Thế là một điều dễ hiểu.. Chương nhất đưa ra các chân lý khách quan về Tạo Dựng. Chương hai ghi chép các kinh nghiệm của hai nhân vật đầu tiên của nhân loại. Với các chân lý Mạc Khải được trình bầy trong các chương kế tiếp qua hai phương thức: khách quan và chủ quan, trong toàn thể Kinh Thánh hoặc Thánh Truyền, khó có thể tìm được những chương sách nào thích hợp hơn để áp dụng phương pháp hiện tượng luận. Hơn nữa, kể từ khi xuất bản tác phẩm “Tình Yêu và Trách Nhiệm,” Gioan Phaolô đã nghiên cứu mầu nhiệm Tạo Dựng con người, có nam và có nữ. Với sự khám phá thú vị về sự đan kết của hai phương thức khách quan và chủ quan trình bầy trong các chương kế tiếp, ĐGH đã không thể không cố công nghiên cứu các chương đầu trong bộ Kinh Thánh.

(còn tiếp)