LTS: Thần học xác thân là một loạt bài dài được phổ biến hàng tuần trên mục Phụng Vụ - Mục Vụ. Kính mời qúy độc giả nhớ đón xem.

THẦN HỌC XÁC THÂN

của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ

CHƯƠNG DẪN NHẬP (Bài cuối)

Trong “Laborem Exercens” (về lao động con người), ĐGH đề cập đến mục đích tiên khởi của lao động, là uốn đúc cá nhân thành một người hành động như Thiên Chúa, thông phần vào công trình sáng tạo của Ngài, bằng việc cai quản “trái đất”. Khi lao động, con người bắt chước Thiên Chúa. Họ hành động như Thiên Chúa khi Ngài “lao động” để tạo dựng vũ trụ. Khi hành động theo hình ảnh Thiên Chúa qua lao động, con người tự uốn nắn để ngày càng tiến gần đến bản chất của mình hơn: tức trở thành hình ảnh của Thiên Chúa. Chính theo thể thức ấy mà con người được kiện toàn.

Trong “Familiaris Consortio,” Tông Huấn về Gia Đình, một trong các tưạ đề của Phần 3 là “Hỡi gia đình, hãy trở nên chính mình”; tựa đề này cũng được tìm thấy trong phần chính của bản văn.

Một trong các áp dụng thú vị nhất của ĐGH về phương pháp hiện tượng luận chính là phần phân tích các dụ ngôn của Chúa và các kinh nghiệm mà dân chúng có về Ngài. Trong thư luân lưu về luân lý, Veritatis Splendor, Vẻ Huy Hoàng của Chân Lý, chương nhất, ĐGH phân tích cuộc gặp gỡ giữa chàng thanh niên giầu có và Chúa Giêsu. Nhờ các phân tích này, ngài cho thấy sự hiểu biết sâu sắc về nhân vị. Rồi ngài đi đến kết luận: tất cả chúng ta đểu có một số câu hỏi, không khác gì câu hỏi của chàng thanh niên giầu có. Xuyên qua các nghiên cứu hiện tượng luận và chủ quan này, ĐGH mở ra các khía cạnh trong kinh nghiệm nội tâm của chúng ta, tỉ như, ai ai trong chúng ta cũng có những câu hỏi về chính mình. Nhưng còn hơn thế nữa, bởi vì các cuộc gặp gỡ này chính là sự giáp mặt với Thiên Chúa. Chúa Giêsu trả lời các câu hỏi, và ĐGH thì nghiên cứu cách cảm nghiệm của những người đã gặp gỡ Chúa Giêsu về các câu trả lời của Ngài.

Trong thư luân lưu thứ hai, Dives et Misericordia, Giầu Lòng Xót Thương, Gioan Phaolô đã luận bàn kỹ lưỡng về dụ ngôn người con hoang đàng. Ngài phân tích câu truyện dưới quan điểm của người con hoang đàng, nghĩa là, từ những kinh nghiệm nội tâm của anh để kết luận rằng chính chúng ta cũng có những kinh nghiệm của kẻ đi hoang. “Người con hoang đàng ấy…theo một nghĩa nào đó chính là con người của mọi thời.” Anh chàng đòi cha phải chia gia sản cho mình, trẩy đi phương xa, tiêu xài phung phí, rốt cuộc trở thành một kẻ chăn heo. Đến khi gần chết đói, thèm chính thức ăn của heo, hắn mới tỉnh ngộ, rồi quyết định về với cha mình. Tới đây, ĐGH viết rằng “lối so sánh rõ ràng đã trỏ về nội tâm con người.” Kẻ giang hồ không chỉ phung phí tiền bạc, hắn còn “ý thức là đã phung phí cả thân phận làm con của mình,” và cảm thấy mất mát cả phẩm giá mình nữa. Cuộc trở về với cha chính là một kinh nghiệm cá nhân về sự tha thứ, nhưng cũng hàm chứa những chân lý mạc khải quan trọng. Qua lối nghiên cứu dụ ngôn theo phương pháp hiện tượng luận, ĐGH cống hiến cho chúng ta một vài nhận định mới mẻ và bất ngờ. Biết một điều gì đó một cách khách quan là một chuyện, nhưng đích thân kinh nghiệm nó lại là một chuyện khác. Tỉ như, tôi nghe biết rằng máy xe cần vô dầu mỡ thường xuyên, nếu không thì sẽ tới lúc nó không chạy nữa. Tuy nhiên đến lúc xe chết máy giữa đường rồi thì mọi chuyện đều khác hẳn. Hiện tượng luận cho phép ta thăm dò kinh nghiệm con người, còn trong lãng vực nghiên cứu Thánh Kinh, nó cho phép ta thăm dò kinh nghiệm về Mạc Khải. Đây chính là điều ĐGH cống hiến khi áp dụng hiện tượng luận vào trong Mạc Khải.

Chủ nghĩa nhân vị mới của ĐGH hiển nhiên là một giải pháp độc sáng cho một vấn đề đã làm nhức nhối Giáo Hội và nền thần học Công Giáo kể từ thời Phục Hưng, khi hữu thể nhân sinh được chú trọng theo một cách thức thật khác lạ với thời Trung Cổ. Tuy có hơi giản lưọc, nhưng vẫn đúng khi bảo rằng tư tưởng thời Trung Cổ thì bắt đầu với Thiên Chúa, còn tư tưởng thời Phục Hưng lại khởi đầu bằng hữu thể con người.. Nền Phục Hưng Thệ Phản còn đi xa hơn nữa khi nhấn mạnh đến hữu thể nhân sinh cá biệt, nhất là về phương diện giải thích Thánh kinh một cách cá nhân tư riêng. Cùng một xu hướng có thể nhận thấy trong việc phát triển khoa học cũng như trong phương pháp khoa học dần dà được áp dụng từ thời Phục Hưng trở đi. Khoa học được xây dựng trên việc quan sát các hiện tượng cá biệt, nghĩa là, trên thực nghiệm và ghi nhận các dữ kiện chắt lọc từ kinh nghiệm. Khoa học và phương pháp khoa học đã thống lĩnh xã hội cho đến độ người ta miễn cưỡng chấp nhận các kết luận đến từ các nguyên tắc. Khi trưng dẫn một kinh nghiệm “sống thực” của một cá nhân, người ta thường dễ chấp nhận các kết luận dưạ trên sự kiện đó, đơn giản là vì nó có thể quan sát được và lại có tính cá biệt. Việc tập chú vào cá nhân còn là một trong những tiêu chuẩn của nền dân chủ. Việc nhấn mạnh đến cá nhân và tự do đã bắt nguồn từ thời Phục Hưng, Cải Cách, khi khoa học lên ngôi cùng với sự phát huy dân chủ. Kết quả là hình thành một thế giới quan mang tính chủ quan, qui nạp, và dựa vào kinh nghiệm. Khúc quanh chủ quan trong tổng hợp mới của ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị cho phép Mạc Khải được tuyên giảng cho thế giới thời thế kỷ 21 bằng chính ngôn ngữ và phạm trù của nó.

THƯ MỤC TỔNG QUÁT

George Weigel, Witness to Hope: The Biography of Pope John Paul II, (New York: Cliff Street Bookds, 1999)

Karol Wojtyla (Pope John Paul II), Sources of Renewal: The Implementation of Vatican II, translated by P.S. Falla, (New York: Harper and Row, 1980.)

Richard M. Hogan & John M. LeVoir, Faith For Today, 2nd edition, (Boston: Saint Paul Books and Media, 1995)

Rocco Buttiglione, Karol Wojtyla: The Thought of the Man Who Became Pope John Paul II, translated from the Italian by Paolo Guietti and Francesca Murphy, (Grand Rapids, MI: William B. Eerdmans, 1997)

Theology of the Body, no. 3, September 19, 1979, :The Second Account of Creation: The Subjective Definition of Man,” L’Osservatore Romano (English Edition), vol. 12, no. 39.

(còn tiếp)