TSUNAMI và ƠN GỌI LÀM NGƯỜI
“I came to realize that life lived to help others is the only one that matters and that it is my duty. This is my highest and best use as a human.” -- Ben Stein.
“We make a living by what we get, we make a life by what we give.” --Sir Winston Churchill.
“Thượng Đế ơi! Nào chúng tôi có tội tình gì mà Người nở phạt khiếp kinh như thế?” một người đàn bà ở Aceh tức tưởi khóc, ngước mặt nhìn trời miệng kêu la và nước mắt không ngớt tuôn rơi.” “Nào chúng tôi đã làm gì mà Người phẫn nộ đến cuồng điên như vậy?”
“Tại sao Thiên Chúa lại có thể để cho những sự việc kinh khiếp đất trời này xảy đến cho dân Người?” Kể từ ngày 26/12/2004, câu hỏi đau xót kia cơ hồ như quyện trên môi miệng mỗi một người khắp mọi vùng lục địa. Hình như ai cũng nhìn nhau và thầm tự hỏi: “Tại sao Thượng Đế lại có thể nhẫn tâm như thế? Tại sao thiên tai lại cuồng nộ giáng xuống những đầu xanh vô tội? Tại sao những người nghèo khổ nhất lại phải gánh chịu những ngọn sóng bạc đầu khủng khiếp nhất trong lịch sử con nguời? Tại sao? Tại sao thế hả Trời!?”
Sóng Thần cũng đã bổ xuống tai ương như thế, tuy cường độ và thiệt hại về nhân mạng và tài sản kém đi nhiều, vào ngày Các Đẳng Linh Hồn năm 1755 tại Lisbon, Bồ Đào Nha, và cuốn hút ra Đại Tây Dương hơn 60 ngàn người. Nhiều người cuồng tín đã kháo bảo nhau: “Đấy là hình phạt của Thiên Chúa dành cho dân thành Lisbon!!!”
Lối lập luận nông cạn, hời hợt, thiếu đức tin và có thể nói vô tín ngưỡng này đã làm Voltaire -một triết gia người Pháp- phẫn nộ: “Every man is guilty of all the good he didn’t do!” (Mỗi một người đều mắc tội về những điều tốt mà đã không làm!) Và cũng đã khiến ông viết ‘Candide, chế diễu Leibniz -một triết gia tin tưởng vào lạc quan chủ nghĩa- và qua đó, những người tin vào Thiên Chúa!
Cũng đã nhiều người phẫn nộ -cực kỳ phẫn nộ- như Voltaire sau ngày 26/12. Phải chăng Lisbon, Phuket, Aceh v.v… là những Sôđôma thời đại? Trong Cựu Ước, Abraham cũng đã nhiều lần cật vấn Giavê: “Tại sao Vị Thẩm Phán của toàn nhân loại đã không ban điều công chính?” Và cả Môi sen cũng đã phàn nàn: “Lòng dạ nào mà Giavê lại để những điều dữ xảy đến cho dân Người?”
Có lẽ chúng ta chẳng bao giờ tìm đuợc câu trả lời thích đáng khi đang còn sống trên dương thế này vì đức tin Công Giáo không thể phản ánh qua câu trả lời mà nằm trong từng câu hỏi một. Như trong triết học, vấn đề không phải là trả lời đúng nhưng là biết đặt câu hỏi đúng!!!
Vì thế, thiết tưởng chúng ta nên tự vấn:“Thiên Chúa đã muốn nhắn gửi gì với toàn thế giới? Và hãy thẳng thắn tự hỏi chính lương tâm mình: “Thiên Chúa đã muốn nhắn gửi gì riêng với tôi đây?”
Một điều chắc chắn là chúng ta không thể nào tiếp tục suy nghĩ và sống như chẳng có gì đã xảy ra. Cơn hải chấn có thể nói ‘vô tiền khoáng hậu’ này phải là một lời cảnh tỉnh, bó buộc chúng ta phải dừng lại và suy niệm về đời sống con nguời. Đuợc làm con Chúa là một ân sủng quý báu, nhưng trước và qua đó, chúng ta phải thực sự sống trọn kiếp con người, như Chúa Giêsu đã sống.
Nói một cách khác, không thể đuợc làm con Chúa nếu không sống trọn kiếp con người. Và chỉ khi sống trọn vẹn chân chính đời sống con người, ân sủng làm con Chúa sẽ đuợc Chúa thương mến trao ban cho những người mà “chỉ một mình Chúa biết họ đã tin tưởng vào Người” (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).
Sống thực sự đời sống con nguời là không thể sống thờ ơ lạnh nhạt trên những bất hạnh đau khổ lầm than của những nguời khác. Bạn đứt tay, tôi phải chảy máu, cho dẫu bạn là ai, theo tôn giáo gì, hoặc không theo tôn giáo nào. Như Johann Arnold đã cảnh tỉnh trong ‘The Tsunami: A Wake-up Call’: “Only a week has gone by. But how many of us have already returned to petty pursuits like hunting for post-Christmas bargains at the mall? Even on the news, this event is beginning to fade -it’s back to Janet Jackson. We care so little about the rest of the human race. How many of us take that to heart? “Nothing matters as long as it isn't us. Yet it could be us next time; it is an eleventh-hour warning!”
“Faith is not only on your knees, but also on your hearts,” một độc giả đã góp ý trên tờ The Sydney Morning Herald. Chúng ta
cần cầu nguyện nhiều, nhưng cũng cần thực thi những điều chúng ta cầu nguyện. Và cần thiết hơn, chúng ta phải dừng lại suy niệm về ý nghĩa của cơn hải chấn đến quá nhanh, quá thảm khốc hãi hùng, quá sức tưởng tượng và sự suy nghĩ của con người này.
Phải dừng lại! Phải suy niệm! Phải tiếc thuơng! Phải tưởng nhớ! Điều đầu tiên tôi hằng suy nghĩ là mốc thời gian khi những cơn sóng thần giận dữ và điên cuồng ủ phập xuống. Sao không là ngày khác mà là Boxing Day 26/12/2004 -chỉ một ngày sau Lễ Giáng Sinh!!! Tại sao? Có phải chăng chúng ta, như các mục đồng và ba đạo sĩ Phương Đông, nên luôn mau mau đến thờ lạy Chúa mỗi ngày, mỗi Chúa Nhật đầu tuần. Có thể nào viện lý do này nọ? Có thể nào đi trễ và về sớm? Có thể nào Chúa không còn là trọng tâm của đời sống nữa? Sóng Thần đấy! Tsunami đấy! Muộn một phút và sớm một giây thôi đã thay đổi vận mệnh nhiều người…
Hãy đừng như những nhà thông thái cận kề Hêrôđê! Hơn ai hết, họ biết rõ ngọn nguồn nơi chốn và giờ giấc Đấng Cứu Tinh sinh ra, nhưng chân họ đã chồn, lòng đã héo khô và miệng mồm đã tiết ra mùi rắn độc. Họ có đầu óc và kiến thức đấy, nhưng bất động, thờ ơ, dững dưng, lạnh nhạt với đời sống chung quanh. Với những kẻ khốn cùng!
Sóng Thần ập đến từ An độ Dương nhưng cơ hồ như sóng gió cũng đã cuồng cuộng nỗi lên trên bờ sông Giođan hơn hai ngàn năm trước. Chừng như nhân loại vẫn sững sốt bàng hoàng trước cơn địa chấn tâm linh này: “Có thể nào Đấng Tác Thành lại phải khiêm cung chịu phép rửa như những vật đuợc tác thành?”
Có thể nào? Nhưng khác với Gioan Tẩy Giả mà phép rửa là rũ sạch tội trần, phép rửa với Đức Giêsu là mở đầu cho sứ mệnh Người. Đầu mới thẩm ướt nước sông Giođan lúc sớm hôm nhưng máu đã rịn ra từ cạnh sườn trên đồi Golgotha khi chiều vắng.
Bình minh trên sông Giođan và hoàng hôn trên đồi máu Golgotha. Phép rửa là dấu báo cả chuỗi đời Người gắn liền với thập tự giá. Phép rửa chúng ta cũng phải thế: “Được tái sinh với Đức Kitô, chúng ta hãy cùng chết với Người.”
Quả thật! Nhiều người đã tái sinh sau khi những ngọn sóng thần cuốn hút hàng trăm ngàn nguời vào đại dương sâu. Như một cụ bà Thái Lan nhất quyết bắt một du khách khác phải mang đôi dép -gia tài duy nhất còn sót lại của cụ: “Tôi đi chân không đã quen rồi! Thấy cô không có giày dép đau lòng làm sao ấy!” Bên cạnh đấy, đau đớn thay, nhiều đồng bào cụ lại đi ‘hôi của’ từ những tử thi đã bốc mùi rửa thối!
Trong cơn nguy nan, con người thường trở thành thánh chịu nạn. Như Jessie Maulder -một sinh viên y khoa từ Melbourne. Jessie chọn Phuket cho mùa hè năm nay -một nơi định mệnh vào một mùa hè định mệnh. Nhưng cũng chính nơi đây Jessie đã được tái sinh -như muôn ngàn thiện nguyện viên khác: “It’s difficult to understand the magnitude of suffering when I get home,” Jessie thổn thức nói bên cạnh hàng hàng lớp lớp tử thi.
“The Magnitude of Suffering!!!” Có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được, như Sophie Scholl viết trong “The Suffering of These Days”: “I want to share in the suffering of these days… That is putting it too strongly, perhaps; I mean I want to be affected more directly…Sympathy is often difficult and soon becomes hollow if one feels no pain oneself.” Cảm thông thôi chắc chưa đủ đâu nếu chúng ta không thể đau nỗi đau chung nhân loại này. Nhưng ít ra, xin hãy luôn nhớ rằng, là con người, chúng ta không thể dững dưng với những bất hạnh xảy đến cho con người. Và đời sống chúng ta chỉ thực sự có ý nghĩa khi hiểu được và sống trọn vẹn chân lý rất giản đơn này.
“I came to realize that life lived to help others is the only one that matters and that it is my duty. This is my highest and best use as a human.” -- Ben Stein.
“We make a living by what we get, we make a life by what we give.” --Sir Winston Churchill.
“Thượng Đế ơi! Nào chúng tôi có tội tình gì mà Người nở phạt khiếp kinh như thế?” một người đàn bà ở Aceh tức tưởi khóc, ngước mặt nhìn trời miệng kêu la và nước mắt không ngớt tuôn rơi.” “Nào chúng tôi đã làm gì mà Người phẫn nộ đến cuồng điên như vậy?”
“Tại sao Thiên Chúa lại có thể để cho những sự việc kinh khiếp đất trời này xảy đến cho dân Người?” Kể từ ngày 26/12/2004, câu hỏi đau xót kia cơ hồ như quyện trên môi miệng mỗi một người khắp mọi vùng lục địa. Hình như ai cũng nhìn nhau và thầm tự hỏi: “Tại sao Thượng Đế lại có thể nhẫn tâm như thế? Tại sao thiên tai lại cuồng nộ giáng xuống những đầu xanh vô tội? Tại sao những người nghèo khổ nhất lại phải gánh chịu những ngọn sóng bạc đầu khủng khiếp nhất trong lịch sử con nguời? Tại sao? Tại sao thế hả Trời!?”
Sóng Thần cũng đã bổ xuống tai ương như thế, tuy cường độ và thiệt hại về nhân mạng và tài sản kém đi nhiều, vào ngày Các Đẳng Linh Hồn năm 1755 tại Lisbon, Bồ Đào Nha, và cuốn hút ra Đại Tây Dương hơn 60 ngàn người. Nhiều người cuồng tín đã kháo bảo nhau: “Đấy là hình phạt của Thiên Chúa dành cho dân thành Lisbon!!!”
Lối lập luận nông cạn, hời hợt, thiếu đức tin và có thể nói vô tín ngưỡng này đã làm Voltaire -một triết gia người Pháp- phẫn nộ: “Every man is guilty of all the good he didn’t do!” (Mỗi một người đều mắc tội về những điều tốt mà đã không làm!) Và cũng đã khiến ông viết ‘Candide, chế diễu Leibniz -một triết gia tin tưởng vào lạc quan chủ nghĩa- và qua đó, những người tin vào Thiên Chúa!
Cũng đã nhiều người phẫn nộ -cực kỳ phẫn nộ- như Voltaire sau ngày 26/12. Phải chăng Lisbon, Phuket, Aceh v.v… là những Sôđôma thời đại? Trong Cựu Ước, Abraham cũng đã nhiều lần cật vấn Giavê: “Tại sao Vị Thẩm Phán của toàn nhân loại đã không ban điều công chính?” Và cả Môi sen cũng đã phàn nàn: “Lòng dạ nào mà Giavê lại để những điều dữ xảy đến cho dân Người?”
Có lẽ chúng ta chẳng bao giờ tìm đuợc câu trả lời thích đáng khi đang còn sống trên dương thế này vì đức tin Công Giáo không thể phản ánh qua câu trả lời mà nằm trong từng câu hỏi một. Như trong triết học, vấn đề không phải là trả lời đúng nhưng là biết đặt câu hỏi đúng!!!
Vì thế, thiết tưởng chúng ta nên tự vấn:“Thiên Chúa đã muốn nhắn gửi gì với toàn thế giới? Và hãy thẳng thắn tự hỏi chính lương tâm mình: “Thiên Chúa đã muốn nhắn gửi gì riêng với tôi đây?”
Một điều chắc chắn là chúng ta không thể nào tiếp tục suy nghĩ và sống như chẳng có gì đã xảy ra. Cơn hải chấn có thể nói ‘vô tiền khoáng hậu’ này phải là một lời cảnh tỉnh, bó buộc chúng ta phải dừng lại và suy niệm về đời sống con nguời. Đuợc làm con Chúa là một ân sủng quý báu, nhưng trước và qua đó, chúng ta phải thực sự sống trọn kiếp con người, như Chúa Giêsu đã sống.
Nói một cách khác, không thể đuợc làm con Chúa nếu không sống trọn kiếp con người. Và chỉ khi sống trọn vẹn chân chính đời sống con người, ân sủng làm con Chúa sẽ đuợc Chúa thương mến trao ban cho những người mà “chỉ một mình Chúa biết họ đã tin tưởng vào Người” (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).
Sống thực sự đời sống con nguời là không thể sống thờ ơ lạnh nhạt trên những bất hạnh đau khổ lầm than của những nguời khác. Bạn đứt tay, tôi phải chảy máu, cho dẫu bạn là ai, theo tôn giáo gì, hoặc không theo tôn giáo nào. Như Johann Arnold đã cảnh tỉnh trong ‘The Tsunami: A Wake-up Call’: “Only a week has gone by. But how many of us have already returned to petty pursuits like hunting for post-Christmas bargains at the mall? Even on the news, this event is beginning to fade -it’s back to Janet Jackson. We care so little about the rest of the human race. How many of us take that to heart? “Nothing matters as long as it isn't us. Yet it could be us next time; it is an eleventh-hour warning!”
“Faith is not only on your knees, but also on your hearts,” một độc giả đã góp ý trên tờ The Sydney Morning Herald. Chúng ta
cần cầu nguyện nhiều, nhưng cũng cần thực thi những điều chúng ta cầu nguyện. Và cần thiết hơn, chúng ta phải dừng lại suy niệm về ý nghĩa của cơn hải chấn đến quá nhanh, quá thảm khốc hãi hùng, quá sức tưởng tượng và sự suy nghĩ của con người này.
Phải dừng lại! Phải suy niệm! Phải tiếc thuơng! Phải tưởng nhớ! Điều đầu tiên tôi hằng suy nghĩ là mốc thời gian khi những cơn sóng thần giận dữ và điên cuồng ủ phập xuống. Sao không là ngày khác mà là Boxing Day 26/12/2004 -chỉ một ngày sau Lễ Giáng Sinh!!! Tại sao? Có phải chăng chúng ta, như các mục đồng và ba đạo sĩ Phương Đông, nên luôn mau mau đến thờ lạy Chúa mỗi ngày, mỗi Chúa Nhật đầu tuần. Có thể nào viện lý do này nọ? Có thể nào đi trễ và về sớm? Có thể nào Chúa không còn là trọng tâm của đời sống nữa? Sóng Thần đấy! Tsunami đấy! Muộn một phút và sớm một giây thôi đã thay đổi vận mệnh nhiều người…
Hãy đừng như những nhà thông thái cận kề Hêrôđê! Hơn ai hết, họ biết rõ ngọn nguồn nơi chốn và giờ giấc Đấng Cứu Tinh sinh ra, nhưng chân họ đã chồn, lòng đã héo khô và miệng mồm đã tiết ra mùi rắn độc. Họ có đầu óc và kiến thức đấy, nhưng bất động, thờ ơ, dững dưng, lạnh nhạt với đời sống chung quanh. Với những kẻ khốn cùng!
Sóng Thần ập đến từ An độ Dương nhưng cơ hồ như sóng gió cũng đã cuồng cuộng nỗi lên trên bờ sông Giođan hơn hai ngàn năm trước. Chừng như nhân loại vẫn sững sốt bàng hoàng trước cơn địa chấn tâm linh này: “Có thể nào Đấng Tác Thành lại phải khiêm cung chịu phép rửa như những vật đuợc tác thành?”
Có thể nào? Nhưng khác với Gioan Tẩy Giả mà phép rửa là rũ sạch tội trần, phép rửa với Đức Giêsu là mở đầu cho sứ mệnh Người. Đầu mới thẩm ướt nước sông Giođan lúc sớm hôm nhưng máu đã rịn ra từ cạnh sườn trên đồi Golgotha khi chiều vắng.
Bình minh trên sông Giođan và hoàng hôn trên đồi máu Golgotha. Phép rửa là dấu báo cả chuỗi đời Người gắn liền với thập tự giá. Phép rửa chúng ta cũng phải thế: “Được tái sinh với Đức Kitô, chúng ta hãy cùng chết với Người.”
Quả thật! Nhiều người đã tái sinh sau khi những ngọn sóng thần cuốn hút hàng trăm ngàn nguời vào đại dương sâu. Như một cụ bà Thái Lan nhất quyết bắt một du khách khác phải mang đôi dép -gia tài duy nhất còn sót lại của cụ: “Tôi đi chân không đã quen rồi! Thấy cô không có giày dép đau lòng làm sao ấy!” Bên cạnh đấy, đau đớn thay, nhiều đồng bào cụ lại đi ‘hôi của’ từ những tử thi đã bốc mùi rửa thối!
Trong cơn nguy nan, con người thường trở thành thánh chịu nạn. Như Jessie Maulder -một sinh viên y khoa từ Melbourne. Jessie chọn Phuket cho mùa hè năm nay -một nơi định mệnh vào một mùa hè định mệnh. Nhưng cũng chính nơi đây Jessie đã được tái sinh -như muôn ngàn thiện nguyện viên khác: “It’s difficult to understand the magnitude of suffering when I get home,” Jessie thổn thức nói bên cạnh hàng hàng lớp lớp tử thi.
“The Magnitude of Suffering!!!” Có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được, như Sophie Scholl viết trong “The Suffering of These Days”: “I want to share in the suffering of these days… That is putting it too strongly, perhaps; I mean I want to be affected more directly…Sympathy is often difficult and soon becomes hollow if one feels no pain oneself.” Cảm thông thôi chắc chưa đủ đâu nếu chúng ta không thể đau nỗi đau chung nhân loại này. Nhưng ít ra, xin hãy luôn nhớ rằng, là con người, chúng ta không thể dững dưng với những bất hạnh xảy đến cho con người. Và đời sống chúng ta chỉ thực sự có ý nghĩa khi hiểu được và sống trọn vẹn chân lý rất giản đơn này.