CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN năm A (23.01.2005)
Bài giảng lễ cho các hội đồng mục vụ toàn giáo phận
Anh chị em thân mến,
1. Chúa Giêsu là con người biết thời biết thế, biết khi nào tiến, khi nào lùi, khi nào ngưng, khi nào phải gặp ai, làm gì, ở đâu.
Sau khi Gioan Tẩy giả bị bắt, Chúa Giêsu lánh qua miền Galilêa, ít nguy hiểm hơn.
Lại nữa, Chúa Giêsu chọn đúng thời điểm để rời Nadarét nơi thôn quê nhỏ bé, để đến Caphanaum, một thành ven biển hồ, một thị trấn buôn bán làm ăn sầm uất, có nhiều người qua lại, thuận tiện cho việc tiếp xúc và rao giảng Tin mừng. Dân cư ở đây đa số là dân ngoại. Người Do thái ở vùng nầy cũng bị coi là kẻ sống bên lề dân được tuyển chọn. Nói chung, dân cư ở Galilêa phương Bắc bị dân miền Nam Giuđêa có kinh đô Giêrusalem khinh chê, tránh xa.
Chính dọc bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ Giêrusalem, chính giữa đám ngư phủ đầu tắt mặt tối, chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự đền thờ, mà Chúa Giêsu chọn các môn đệ đầu tiên đi theo mình.
Anh chị em thân mến,
2. Thánh sử Matthêu so sánh việc Đức Giêsu đến với nhân loại như ánh sáng đến với đám dân đang sống trong cảnh tối tăm. Ông thấy lời ngôn sứ Isaia được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu cứu thế: “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu dọi” (Is. 8,23-9,1).
Tin mừng Chúa Giêsu loan báo là tin vui, là hy vọng, là tự do, là hạnh phúc, là ánh sáng.
Á thánh Têrêxa Calcutta cho chúng ta một gương mẫu tuyệt đẹp về một người được đưa ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng. Một ngày kia, tại Melbourne, Australia, mẹ đi thăm một người đàn ông nghèo khổ, sống thui thủi một mình trong túp lều tối tăm, chẳng ai đoái hoài đến. Túp lều nhỏ bé, lộn xộn, ánh sáng không lọt vào được. Từ lâu, ông ta không có một người bạn nào trên đời đến thăm viếng.
Mẹ Têrêxa đến thăm, quét dọn, lau chùi, sắp xếp ngăn nắp mọi cái. Lúc đầu, ông ta phản đối nói rằng: “Cứ để vậy, không cần sắp xếp gì hết”. Nhưng mẹ vẫn tiếp tục quét dọn. Bên dưới một đống rác, mẹ tìm thấy một cây đèn dầu đẹp, nhưng đầy bụi bặm. Mẹ rửa sạch và đánh bóng lại, rồi mẹ đến hỏi ông ta: “Sao ông không thắp đèn lên cho sáng?”. Ông trả lời: “Thắp đèn làm gì? Chưa bao giờ có ai đến thăm tôi cả”. Mẹ nói: “Ông có hứa sẽ thắp đèn lên, nếu các nữ tu của tôi đến thăm không?”. Ông đáp: “Vâng, nếu nữ tu đến thăm, tôi sẽ thắp đèn lên”.
Hai nữ tu của mẹ Têrêxa bắt đầu đến thăm ông đều đặn. Cuộc sống ông ta ngày càng được cải thiện. Rồi một hôm ông ta nói với hai nữ tu: “Này các chị, từ nay tôi có thể tự mình dọn dẹp được rồi. Nhưng xin các chị một ân huệ. Xin nói với nữ tu đầu tiên đến thăm tôi (mẹ Têrêxa) rằng: Ánh sáng chị ấy thắp lên trong đời tôi vẫn còn cháy mãi”.
Anh chị em thân mến,
3. Ban đầu, ông ta không thích ánh sáng. Ông ta cảm thấy sợ hãi. Ánh sáng làm ông ta khó chịu. Tại sao? Bởi vì nó phơi bày sự khốn khổ của đời ông: trước tiên là sự khốn khổ vật chất, kế đến là sự khốn khổ tinh thần. Nhưng dần dà, ông ta thấy ánh sáng như một người bạn an ủi ông và đem lại niềm hy vọng cho cuộc sống đen tối của ông. Vì thế ông đã từ từ thay đổi cuộc sống của mình. Ánh sáng đã cứu ông. Dĩ nhiên không phải là ánh sáng đã làm điều đó, nhưng là sự khiêm tốn, nhẫn nại và yêu thương của mẹ Têrêxa và của các nữ tu của mẹ.
Để biết giá trị của ánh sáng, người ta phải ý thức về sự tăm tối của mình và mong thoát khỏi bóng tối. Người ta phải nhận thức nhu cầu cần thay đổi của mình và phải quyết tâm thay đổi. Trước khi tìm thấy ánh sáng cứu độ, người ta phải cảm nghiệm sự tăm tối u buồn trong đời mình. Khi ấy lòng mình mới sẵn sàng đón nhận ánh sáng ơn cứu độ.
Vì thế, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng sứ điệp: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt. 4,17). Sám hối là thừa nhận mình đang sống trong bóng tối và mở lòng mình ra với ánh sáng. Hãy chứng tỏ lòng sám hối bằng cách sống mới. Được cứu độ là ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng.
Mỗi người chúng ta đều có những vùng bóng tối trong đời mình như sợ hãi, ganh ghét, hận thù, ích kỷ, khép kín, thành kiến... Do đó, chúng ta cần có ánh sáng của Chúa Kitô. Hãy chấp nhận để cho ánh sáng gây phiền nhiễu, vì nó phơi bày những gì sai trái trong cách sống của chúng ta.
Anh chị em thân mến,
4. Ánh sáng của Chúa Kitô đã được thắp lên trong mỗi người chúng ta, ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Thánh tẩy. Chúa Giêsu khẳng định: “Anh em là muối, là ánh sáng cho đời” (Mt. 5,13-14).
Đây là một vinh dự lớn lao, đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề. Trách nhiệm sống thánh thiện, xứng đáng là con cái Chúa: “Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em là Đấng ngự trên trời” (Mt. 5,48).
Rồi còn có trách nhiệm lan tỏa ánh sáng ra chung quanh. Đó là nhiệm vụ truyền giáo, là loan báo Tin mừng. Ánh sáng trong mình càng chiếu tỏa ra, thì càng được sáng thêm. Đức tin càng được loan truyền, thì đức tin càng thêm mạnh.
Sống trong ánh sáng là một niềm vui lớn. Niềm vui càng lớn hơn bội phần khi cuộc sống chúng ta trở nên nguồn sáng cho những anh chị em khác.
Chiếu giải ánh sáng, loan báo Tin mừng với tất cả nhiệt tình và hứng khởi. Lời ngôn sứ Isaia đang vang vọng giữa cộng đoàn chúng ta hôm nay làm phấn chấn bước chân truyền giáo của chúng ta: “Đẹp thay trên đồi núi, bước chân loan báo Tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị” (Is. 52,7). Amen.
Tổng Giám Mục Huế
Bài giảng lễ cho các hội đồng mục vụ toàn giáo phận
Anh chị em thân mến,
1. Chúa Giêsu là con người biết thời biết thế, biết khi nào tiến, khi nào lùi, khi nào ngưng, khi nào phải gặp ai, làm gì, ở đâu.
Sau khi Gioan Tẩy giả bị bắt, Chúa Giêsu lánh qua miền Galilêa, ít nguy hiểm hơn.
Lại nữa, Chúa Giêsu chọn đúng thời điểm để rời Nadarét nơi thôn quê nhỏ bé, để đến Caphanaum, một thành ven biển hồ, một thị trấn buôn bán làm ăn sầm uất, có nhiều người qua lại, thuận tiện cho việc tiếp xúc và rao giảng Tin mừng. Dân cư ở đây đa số là dân ngoại. Người Do thái ở vùng nầy cũng bị coi là kẻ sống bên lề dân được tuyển chọn. Nói chung, dân cư ở Galilêa phương Bắc bị dân miền Nam Giuđêa có kinh đô Giêrusalem khinh chê, tránh xa.
Chính dọc bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ Giêrusalem, chính giữa đám ngư phủ đầu tắt mặt tối, chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự đền thờ, mà Chúa Giêsu chọn các môn đệ đầu tiên đi theo mình.
Anh chị em thân mến,
2. Thánh sử Matthêu so sánh việc Đức Giêsu đến với nhân loại như ánh sáng đến với đám dân đang sống trong cảnh tối tăm. Ông thấy lời ngôn sứ Isaia được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu cứu thế: “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu dọi” (Is. 8,23-9,1).
Tin mừng Chúa Giêsu loan báo là tin vui, là hy vọng, là tự do, là hạnh phúc, là ánh sáng.
Á thánh Têrêxa Calcutta cho chúng ta một gương mẫu tuyệt đẹp về một người được đưa ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng. Một ngày kia, tại Melbourne, Australia, mẹ đi thăm một người đàn ông nghèo khổ, sống thui thủi một mình trong túp lều tối tăm, chẳng ai đoái hoài đến. Túp lều nhỏ bé, lộn xộn, ánh sáng không lọt vào được. Từ lâu, ông ta không có một người bạn nào trên đời đến thăm viếng.
Mẹ Têrêxa đến thăm, quét dọn, lau chùi, sắp xếp ngăn nắp mọi cái. Lúc đầu, ông ta phản đối nói rằng: “Cứ để vậy, không cần sắp xếp gì hết”. Nhưng mẹ vẫn tiếp tục quét dọn. Bên dưới một đống rác, mẹ tìm thấy một cây đèn dầu đẹp, nhưng đầy bụi bặm. Mẹ rửa sạch và đánh bóng lại, rồi mẹ đến hỏi ông ta: “Sao ông không thắp đèn lên cho sáng?”. Ông trả lời: “Thắp đèn làm gì? Chưa bao giờ có ai đến thăm tôi cả”. Mẹ nói: “Ông có hứa sẽ thắp đèn lên, nếu các nữ tu của tôi đến thăm không?”. Ông đáp: “Vâng, nếu nữ tu đến thăm, tôi sẽ thắp đèn lên”.
Hai nữ tu của mẹ Têrêxa bắt đầu đến thăm ông đều đặn. Cuộc sống ông ta ngày càng được cải thiện. Rồi một hôm ông ta nói với hai nữ tu: “Này các chị, từ nay tôi có thể tự mình dọn dẹp được rồi. Nhưng xin các chị một ân huệ. Xin nói với nữ tu đầu tiên đến thăm tôi (mẹ Têrêxa) rằng: Ánh sáng chị ấy thắp lên trong đời tôi vẫn còn cháy mãi”.
Anh chị em thân mến,
3. Ban đầu, ông ta không thích ánh sáng. Ông ta cảm thấy sợ hãi. Ánh sáng làm ông ta khó chịu. Tại sao? Bởi vì nó phơi bày sự khốn khổ của đời ông: trước tiên là sự khốn khổ vật chất, kế đến là sự khốn khổ tinh thần. Nhưng dần dà, ông ta thấy ánh sáng như một người bạn an ủi ông và đem lại niềm hy vọng cho cuộc sống đen tối của ông. Vì thế ông đã từ từ thay đổi cuộc sống của mình. Ánh sáng đã cứu ông. Dĩ nhiên không phải là ánh sáng đã làm điều đó, nhưng là sự khiêm tốn, nhẫn nại và yêu thương của mẹ Têrêxa và của các nữ tu của mẹ.
Để biết giá trị của ánh sáng, người ta phải ý thức về sự tăm tối của mình và mong thoát khỏi bóng tối. Người ta phải nhận thức nhu cầu cần thay đổi của mình và phải quyết tâm thay đổi. Trước khi tìm thấy ánh sáng cứu độ, người ta phải cảm nghiệm sự tăm tối u buồn trong đời mình. Khi ấy lòng mình mới sẵn sàng đón nhận ánh sáng ơn cứu độ.
Vì thế, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng sứ điệp: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt. 4,17). Sám hối là thừa nhận mình đang sống trong bóng tối và mở lòng mình ra với ánh sáng. Hãy chứng tỏ lòng sám hối bằng cách sống mới. Được cứu độ là ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng.
Mỗi người chúng ta đều có những vùng bóng tối trong đời mình như sợ hãi, ganh ghét, hận thù, ích kỷ, khép kín, thành kiến... Do đó, chúng ta cần có ánh sáng của Chúa Kitô. Hãy chấp nhận để cho ánh sáng gây phiền nhiễu, vì nó phơi bày những gì sai trái trong cách sống của chúng ta.
Anh chị em thân mến,
4. Ánh sáng của Chúa Kitô đã được thắp lên trong mỗi người chúng ta, ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Thánh tẩy. Chúa Giêsu khẳng định: “Anh em là muối, là ánh sáng cho đời” (Mt. 5,13-14).
Đây là một vinh dự lớn lao, đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề. Trách nhiệm sống thánh thiện, xứng đáng là con cái Chúa: “Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em là Đấng ngự trên trời” (Mt. 5,48).
Rồi còn có trách nhiệm lan tỏa ánh sáng ra chung quanh. Đó là nhiệm vụ truyền giáo, là loan báo Tin mừng. Ánh sáng trong mình càng chiếu tỏa ra, thì càng được sáng thêm. Đức tin càng được loan truyền, thì đức tin càng thêm mạnh.
Sống trong ánh sáng là một niềm vui lớn. Niềm vui càng lớn hơn bội phần khi cuộc sống chúng ta trở nên nguồn sáng cho những anh chị em khác.
Chiếu giải ánh sáng, loan báo Tin mừng với tất cả nhiệt tình và hứng khởi. Lời ngôn sứ Isaia đang vang vọng giữa cộng đoàn chúng ta hôm nay làm phấn chấn bước chân truyền giáo của chúng ta: “Đẹp thay trên đồi núi, bước chân loan báo Tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị” (Is. 52,7). Amen.
Tổng Giám Mục Huế