TÍNH NHÂN BẢN TRONG CÁCH HÀNH XỬ CỦA LINH MỤC

Ở chủng viện, các chủng sinh được học hành nhiều thứ và huấn luyện khá đầy đủ về đường thiêng liêng đạo đúc, nhưng có một mặt xem ra ít được để ý và coi trọng, đó là tính nhân bản. Nhân bản là lấy con người làm gốc trong cách giao tiếp đối xử, nghĩa là trọng kính người ta, khi nói năng, gặp gỡ, dù người ta ở cấp bậc nào, có học hay không có học, giầu sang hay nghèo hèn, công giáo hay ngoài công giáo, hay nói khác đi, tính nhân bản là cách đối xử sao cho có tình người và có tính người.

Ở xã hội chúng ta, nhất là trong giới công giáo, linh mục tu sĩ là những người thường được nể vì, trọng thị. Mà không riêng gì công giáo, tín đồ các tôn giáo khác cũng tỏ ra kính nể những người tu hành. Vì được trọng đãi như thế nên nhiều khi người tu hành coi đó như một điều đương nhiên. Chính vì điều này mà giới tu hành ở Việt Nam, trong đó có các linh mục, đôi khi gây buồn phiền đau khổ cho tín đồ, như mới đây tại một thành phố kia, một cha phó lo việc hôn phối đã không cho một tín nữ rước lễ, khi cử hành thánh lễ, chỉ vì người này kết hôn với một người ngoài đạo, dù đã được phép chuẩn tôn giáo dị đồng. Người tín nữ khiếu nại và trưng dẫn giáo luật như được chỉ dẫn. Cha phó nói : “ Luật đúng, nhưng tôi không cho.”

Người công giáo trong nước chúng ta chưa tới 1/10. Vì vậy trong vấn đề hôn nhân, xảy ra nhiều trường hợp người trong đạo lấy người ngoài đạo. Phép chuẩn tôn giáo dị đồng là một quyền Hội thánh ban cho người ta. Có những cha sở rất ngặt nghèo về vấn đề này và gây ra không biết bao nhiêu khó khăn rắc rối cho gíáo hữu. Tất nhiên, lý tưởng vẫn là người trong đạo lấy nhau. Nhưng vì mối nhân duyên, nhiều khi không được như thế. Điều này cha mẹ đương sự thường không muốn, các cha sở lại càng không muốn hơn. Nhưng có những trường hợp, bên phía công giáo rất cần sự thông cảm và nâng đỡ của cha sở. Thái độ thích nghi, uyển chuyển trong từng trường hợp, nhiều khi lại cảm hóa được cả bên công giáo lẫn ngoài công giáo và đưa tới một kết quả tốt đẹp hơn là sự cấm đoán ngặt nghèo.

Trên đây chỉ là một trường hợp điển hình trong nhiều trường hợp khác khiến giáo dân phải “ngậm cay nuốt đắng”, như có người kể rằng một giáo dân đến tòa giám mục nộp hồ sơ liên quan đến vấn đề hôn phối. Linh mục có trách nhiệm nhận hồ sơ. Vừa xem qua một chút, linh mục trả về và phê cho một câu : “Hồ sơ giả, mang về, không giải quyết.”

Chắc hẳn có những trường hợp, giáo dân làm không đúng hoặc thiếu giấy này giấy kia, hay đến vào những lúc không thuận tiện, không đúng với thủ tục và ngày giờ đã qui định. Trường hợp này gây khó chịu cho các linh mục, như đã thường xẩy ra. Nhưng chính trong những lúc như thế này, người ta mới thấy được nhân đức thật của linh mục. Nhân đức ở chỗ nhịn nhục và chịu đựng những thiếu sót và sơ hở của người khác. Mà ai đôi khi không có những điểm yếu giông giống như thế. Vì vậy, nên chịu đựng người để người chịu đựng ta.

Giáo dân cũng hay than phiền là sao nhiều linh mục khó tính và hay bẳn gắt đến thế. Do tính này mà người ta ngại và sợ đến với linh mục. Tư cách và thái độ của linh mục trong khi giải quyết các vụ việc chính là giảng đạo và truyền giáo, chứ không phải chỉ nguyên khi cử hành bí tích hay giảng dạy ở nhà thờ. Ngoài ra là lối sống của linh mục trong cách ăn mặc và sử dụng tiền bạc của cải vật chất. Người ngoài rất để ý và nhậy cảm về những vấn đề này nơi linh mục. Những điều ấy, các linh mục đều biết cả. Có điều giữ hay không giữ thôi. Mà giữ hay không giữ, điều ấy tùy thuộc tâm tính hay nhân sinh quan của mỗi người. Nhưng dù gì đi nữa thì ít là vì danh dự cá nhân và uy tín của hàng ngũ mà các linh mục nên lưu tâm đến vấn đề này.

Đã hẳn, các linh mục không phải là những người thập toàn, nhưng vẫn phải canh chừng lời ăn tiếng nói và cách thói ăn ở trước mặt những người khác. Một số trong các vị bị chê là nói những lời đùa cợt không thích đáng và tỏ ra như bị dồn nén về tâm lý nên phải nói ra để xì hơi cho nhẹ bớt. Vui vẻ, tươi cười, thoải mái, thân thiết nhưng không nên để cho người ta hiểu là có ý hướng về “đàng ấy”. Ở đây nhân bản còn có nghĩa là sao cho hợp với cốt cách con người của mình, vì nhân bản không nguyên chỉ đối với người khác mà còn đối với bản thân mình nữa.

Nhà tư tưởng Pascal có nói : “Ai muốn làm thiên thần thì hóa thành súc vật.” (Qui veut faire l’ange, fait la bête). Câu ấy có ý bảo nếu là người thì hãy làm người theo đúng nghĩa, chứ đừng có vượt quá giới hạn mà làm thiên thần. Làm người thì có hồn có xác, có cái thanh cao nhưng cũng có cái thấp hèn gắn liền với bản tính và những giới hạn của thân phận con người. Như vậy có nghĩa là phải khiêm nhường, chấp nhận giới hạn của mình mà đối xử đơn sơ, thân thiện với những người khác, không kiêu kỳ, bởi vì thân phận mình là thế, là bụi tro nên sẽ trở về với tro bụi.

Chúng ta thường được nghe nói về óc bài giáo sĩ ở nơi này nơi kia. Tại sao người ta lại chống giáo sĩ ? Có lẽ vì do bị tuyên truyền, mà cũng có khi vì những điều không hay không phải nơi một số linh mục tu sĩ, hoặc do cách đối xử thiếu nhân bản của những vị đó nữa.

Trước đây có một bác sĩ quân y thời Việt Nam Cộng Hòa rất bực mình khó chịu với một linh mục tuyên úy đeo lon thiếu tá. Theo bác sĩ kia nói thì vị tuyên úy này ỷ mình là linh mục nên tỏ ra nghênh ngang, đậu xe jeep ngăn cản lối đi, chẳng kể gì đến ai cả. Vì linh mục này mà mãi bao nhiêu năm sau, bác sĩ đó mới xin vào đạo, do ảnh hưởng đức tin mạnh mẽ lạ lùng của người vợ.

Hiện nay có những linh mục, tu sĩ cũng làm cho người ta bực bội vì cách cư xử thiếu nhân bản. Thí dụ có linh mục đáng tuổi cháu la mắng một bà cụ già bổn đạo như tát nước vào mặt. Có vị chỉ thẳng vào một ông già mà bảo : “Ông là đồ ngu !” Nhiều linh mục tu sĩ trẻ ăn nói ra vẻ cha chú với giáo dân, kể cả đối với những người ngoài đạo. Đôi khi lại có người tỏ ý xin xỏ, gạ gẫm làm quen, nhất là đối với những ai có điều kiện vật chất khá giả. Người ta tỏ vẻ chê bai và không cảm phục một chút nào những linh mục tu sĩ chỉ làm quen, chơi thân với người giầu hay Việt kiều ở nước ngoài về. Theo họ như vậy là phân biệt đối xử, vì chỉ nhìn con người theo quà cáp và lợi lộc vật chất chứ không theo gương Chúa Giê-su là Đấng không phân biệt đối xử hay loại trừ ai.

Nhưng bảo là trách thì trách vậy thôi chứ thực tế xem ra rất khó, vì thường chỉ những người khá giả hay trung lưu mối dám đến gặp linh mục, còn những người bình dân ít đến gặp hơn, trừ khi có việc. Mà có việc cũng còn ngại và sợ, ngại vì theo thói quen của người Việt Nam đến thì thường phải có quà. Nhà nghèo mà mỗi khi đến lại phải kiếm quà thì thật là phiền toái. Các linh mục không đòi phải như thế đâu nên giáo dân đừng nghĩ đến chuyện đó và nên bỏ qua thói tục này. Còn sợ thì vì nghĩ rằng mình không biết ăn nói thưa gửi sao cho phải phép, nên sợ sẽ bị la. Tất cả những điều này nên cho lui vào dĩ vãng thì hơn. Vì vậy, linh mục nên tìm đến với những người này hơn là đợi dịp cho người ta đến với mình.

Cũng phải nói thêm điều này cho công bình là giáo dân trách cha xứ, nhưng nhiều khi họ cũng là căn cớ làm cho cha xứ phải bực bội. Có những giáo dân “ba trợn”, bất bình với cha xứ vì không được đáp ứng nhu cầu hay không được cất nhắc lên các chức vụ trong hàng xứ, rồi đâm ra bất mãn gây bè kéo cánh phản đối cha xứ. Vì những người này mà đôi khi cha xứ phải có những biện pháp gay gắt. Vậy, muốn cho cách hành xử của linh mục có tính nhân bản, thiết tưởng nên chú trọng vào những điểm sau đây;

1. Trong cách giao thiệp tiếp xúc

Các linh mục nên liệu thế nào cho có tình người và tính người, nghĩa là có tình, có nghĩa, có sự liên đới, có lòng vị tha, có niềm thông cảm. Bởi vậy, các vị sẽ lưu ý kìm hãm tính nóng nảy hay bẳn gắt, trút bỏ thái độ hàch dịch như thánh Phao-lô khuyên dạy trong hai thư gủi tín hữu Ê-phê-xô và Cô-lô-xê :

Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp để xây dựng và làm ích cho người nghe… Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn hay la lối thoá mạ, trái lại, phải đối xử tốt với nhau… (Ep 4,29-32)

Anh em hãy ở khôn ngoan với người ngoài… Lời nói của anh em cần phải luôn dễ thương, mặn mà, để anh em biết đối đáp sao cho phải với mỗi người.”(Cl 4,6)

2. Trong cách giải quyết vụ việc

Không quan liêu, xa cách, quá giấy tờ hành chánh, thủ tục rườm rà.

3. Trong công tác mục vụ

Sẵn sàng, mau mắn, ấn định giờ giấc có mặt ở nhà xứ hay văn phòng cho giáo dân tới gặp hay liên lạc khi cần thiết.

Chúa Giê-su dạy các Tông đồ hãy học với Người vì Người hiền lành và khiêm nhường. Hai nhân đức này là nòng cốt cho việc đối xử có tính nhân bản của linh mục. Bên cạnh chúng ta, có nhiều người không phải là công giáo. Làm cách nào cho người ta hiểu và cảm phục lối cư xử của chúng ta, như thế mới mong truyền giáo được. Góc cạnh nhân bản nơi linh mục là cách thế tốt để thu phục nhân tâm. Một linh mục tử tế, quảng đại, lịch sự, không cáu kỉnh bẳn gắt, biết kính trọng người khác, không khinh người, không phân biệt đối xử sẽ là người dễ làm cho người khác cảm mến và có sức chiếu giãi ảnh hưởng không nhỏ vậy.