THẦN HỌC XÁC THÂN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ
CHƯƠNG DẪN NHẬP (Bài số 3)
Như đã nói, tổng hợp mới của ĐGH Gioan Phaolô II là kết quả của việc sử dụng một trào lưu triết học có tên là hiện tượng luận. Cha đẻ của hiện tượng luận chính là triết gia người Đức: Edmund Husserl (1859-1938). Một cách tóm tắt, Husserl chú trọng đến kinh nghiệm chủ quan, cá biệt của con người mà ông thâu thập lần hồi từ nhiều người khác nhau. Hiện tượng luận là một phương pháp triết học có tính chủ quan, qui nạp và dựa trên kinh nghiệm. Husserl rất muốn khám phá xem sự vật tại thế như thế nào (hữu thể sự vật--điều triết học luôn truy tìm) qua nhận thức nội tâm của từng cá nhân về thế giới. Nhờ thế, ông đã liên kết được những năng lực nội tâm của trí tuệ, ý chí, và ý thức với thế giới thực, và đã có thể vượt qua được sự phân cách giữa đời sống nội tâm và thế giới hiện thực, điều đã đi vào tư tưởng triết học lần đầu tiên qua Descartes (“Tôi tư duy, vì thế, tôi hiện hữu”) là người đã cách ly thực tại--tức thế giới ngoài kia--với đời sống nội tâm của từng người, bởi vì nó đặt nền hiện hữu chỉ dựa trên tư duy tự nội mà thôi.
Karol Wojtyla lần đầu tiên giáp mặt với hiện tượng luận qua Roman Ingarden, một giáo sư phân khoa triết trường Đại Học Cracow, nơi vị Giáo Hoàng tương lai đã lấy được học vị Tiến Sĩ Triết Học. Ingarden là một trong các sinh viên của Husserl. Qua sự nghiên cứu tập trung vào đạo đức học, Wojtyla thấy rằng hiện tượng luận có khả năng đem lại mối dây liên kết với thực tại, một phương thức xây dựng nền móng qui phạm đạo đức ở trong thực tại, chứ không phải chỉ ở trong các ý tưởng nội tại. Trước đây, Immanuel Kant (1724-1804), một triết gia người Đức khác, cũng đã cho rằng các qui phạm đạo đức thì bất khả tri, bởi vì nó nằm bên ngoài kinh nghiệm trực tiếp của con người. Tuy nhiên, luân lý tính (tức là trật tự tốt đẹp nơi con người) lại đòi buộc ta hành xử theo các qui phạm truyền thống. Do đó, ta vẫn phải hành xử theo các qui phạm này cho dù là bất khả tri-đây là điều Kant gọi là “quyết lệnh.” Trong khi Kant phân cách đạo đức với thực tại, thì Wojtyla thấy hiện tượng luận có thể đem đến một cách thức khả dĩ móc nối qui phạm đạo đức vào lại với thực tại.
Wojtyla trình luận án tiến sĩ về Max Scheler, cũng là một học trò của Husserl. Scheler đặc biệt lưu tâm đến đạo đức học và đã nỗ lực đến với tri thức về đạo đức qua hiện tượng luận. Scheler cho rằng mọi kinh nghiệm của con người đều có liên quan đến một giá trị. Chúng ta hoặc được giá trị lôi kéo hoặc bị nó cự tuyệt. Khi nghiên cứu kinh nghiệm con người theo quan điểm chủ quan và nội tại, Scheler tin rằng mình có thể xác định được các giá trị. Các giá trị này thực sự hiện hữu trong thực tại bên ngoài. Chúng cụ thể và khách quan, nhưng lại được nhận thức qua kinh nghiệm chủ quan và cá nhân. Từ đó, Scheler đề nghị một thứ có thể thay thế cho cái gọi là “quyết lệnh” của Kant. Hơn nữa, ông còn liên kết các gía trị với kinh nghiệm chủ quan và nội tâm của con người. Các giá trị thì khách quan và có thực, thế nhưng lại chỉ nhận thức được bằng kinh nghiệm nội tâm. Thay vì đóng vai các mệnh lệnh và qui luật bó buộc phải theo, thì các giá trị (qui luật đạo đức) lại là một phần kinh nghiệm nội tâm của con người.
Wojtyla phê phán Scheler vì ông đã không thể đưa ra một trật tự giá trị khách quan. Vì các giá trị chỉ nhận thức được qua kinh nghiệm chủ quan của từng người, thành ra nó có thể rất khác biệt và thay đổi tùy mỗi người. Hơn nữa, chính cường độ của việc đáp lại các giá trị thì xác định tầm quan trọng của chính các giá trị. Giá trị nào thôi thúc được lời đáp trả đầy xúc cảm cao độ nhất nơi một cá nhân, sẽ trở thành chính giá trị quan trọng nhất đối với cá nhân ấy. Vì thế, ngay cả khi hai người có cùng một bộ giá trị tương tự nhau, hai người ấy vẫn có thể có những khác biệt khi định giá giai tầng của các giá trị này. Scheler cho rằng không thể thiết lập được một trật tự luân lý khách quan. Scheler cố né tránh đề cập đến bổn phận hoặc trách nhiệm, bởi vì ông muốn phản ứng ngược lại cái gọi là “quyết lệnh” của Kant.
Wojtyla còn phê bình Scheler ở điểm là vị triết gia người Đức này đã không nhận ra rằng qua các lựa chọn đạo đức, chúng ta trở thành chính điều chúng ta làm. Làm điều lành, ta sẽ thành người tốt; làm điều ác, ta sẽ biến ra hư xấu. Một hành vi đạo đức không chỉ gây hậu quả bên ngoài, mà còn tạo ra ảnh hưởng ở ngay bên trong chúng ta nữa. Viếng thăm một người bạn đang nằm bệnh viện chẳng hạn, không chỉ đem lại nguồn an ủi cho người ầy, mà chính chúng ta cũng cảm thấy mình đã làm được một việc thiện.
Dầu phê phán Scheler, Wojtyla vẫn thấy rằng việc Scheler sử dụng hiện tượng luận đã đem lại một phương thức đầy hiệu quả để nghiên cứu nền đạo đức học Kitô giáo. Nếu Mạc Khải dậy rằng các lề luật Kitô giáo chính là các qui phạm nội tâm, nghĩa là, các qui luật ấy có thể nhận thức được bằng kinh nghiệm, thì chúng sẽ không còn mang tính chất của các qui phạm ngoại tại áp đặt lên chúng ta. Ngoài ra, còn có thể nói đến các giá trị này một cách chủ quan, nhưng vẫn phù hợp với não trạng thời đại.
Quan trọng hơn nữa, hiện tưọng luận còn cung cấp một phương cách nghiệm xét nhân vị. Hiên tượng luận nghiên cứu kinh nghiệm con người xét từ góc cạnh nội tâm.. Chính nhờ các kinh nghiệm này, chúng ta trở nên điều chúng ta là, và việc nghiên cứu các kinh nghiệm này cũng như các ảnh hưởng nội tại, sẽ cống hiến cho chúng ta một phương cách thấu hiểu nhân vị từ bên trong. Vì nhân vị là một trong các khái niệm quan trọng nhất của Kitô giáo, nên có thể nói phương pháp hiện tượng luận đã mở ra một con đường mới cho việc học hỏi và nhận thức về Kitô Giáo. Khi dùng triết học Aristotle, thánh Tôma mới chỉ nghiên cứu nhân vị “từ bên ngoài” một cách khách quan mà thôi. “Ngài chưa triển khai đầy đủ khía cạnh chủ quan của đời sống con người.” (nhận định của Rocco Buttiglione) Khi sử dụng phương pháp hiện tượng luận, Gioan Phaolô có thể khai triển được khía cạnh chủ quan của con người mà vẫn không thỏa hiệp hay làm biến đổi các Chân lý nền tảng khách quan của Mạc Khải.
Chính bởi vì nhân vị đóng vai trò rất quan trọng đối với chân lý mạc khải, ta mới có thể có được một tổng hợp của hiện tượng luận và đức tin. Hiện tượng luận khởi sự cuộc truy tầm bằng chính nhân vị cá biệt. Nó mở đầu bằng kinh nghiệm hữu thức ta có được về chính mình xét như là tác nhân hành động. Tiếp đó, hiện tượng luận dẫn đến mầu nhiệm của nhân vị. Dù mang nặng tính chủ quan, hiện tượng luận đã “mở rộng cánh cửa” cho sự thực toàn vẹn về con người, được Thiên Chúa mạc khải trong trật tự khách quan. Gioan Phaolô đã đánh ghi mối liên hệ giữa hiện tượng luận và trật tự khách quan của đức tin qua bản văn Sáng Thế Ký này: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta” (St. 1:26). Con người là nhân vị (tức có ý thức về hành vi của chính mình, đây là điểm mấu chốt của nhân vị) chính bởi vì nó giống Thiên Chúa, được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Việc tham chiếu vào công trình Tạo Dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa đã cùng một lúc cứu vãn được quan đìểm chủ quan của các nhà hiện tương luận mà không làm mất khách quan tính của Phúc Âm. Bản chất chân thực của nhân vị được mạc khải trong trật tự khách quan, nhưng được cảm nghiệm và nghiên cứu một cách chủ quan. Nội dung Mạc Khải, tức các chân lý tập trung vào ngôi vị tính-ngôi vị tính của Thiên Chúa và của từng người-đã được trao tặng cho mỗi cá nhân, nhưng vẫn được cảm nghiệm một cách chủ quan. Trật tự khách quan của Mạc Khải nhờ thế đươc liên kết với kinh nghiệm chủ quan mỗi người.. Hiển nhiên, một trong những dấu ấn của triều Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị là việc lặp đi lặp lại liên tục các giáo huấn về phẩm gía của mỗi một con người.
Tổng hợp mới của Gioan Phaolô bao phủ toàn thể viên kim cương, tức toàn thể Mạc Khải của Chúa Kitô. Giáo Huấn của Chúa Kitô có thể thâu tóm trong bẩy lãnh vực: Thiên Chúa (Một Chúa, Ba Ngôi), Tạo Dựng, Nhập Thể, Giáo Hôi, Bí Tích, Ân sủng, và Giới Răn. Mỗi lãnh vực còn được phân chia thành các khiá cạnh nhỏ. Tỉ như, nói đến mầu nhiệm Tạo Dựng thì nhất thiết bao hàm việc Tạo Dựng thiên thần, Tạo Dựng con người, mầu nhiệm sa ngã và nguyên tội, ngay cả việc Thiên Chúa Quan Phòng biểu tỏ cho dân chúng thời Cựu Ước. Lối tiếp cận mới của Gioan Phaolô bao trùm tất cả nội dung Mạc Khải, tức toàn thể viên kim cương. Có một số ít vấn đề Mạc Khải tuy chưa được ĐGH đề cập đến một cách sâu rộng, nhưng nếu dựa vào cách tiếp cận và não trạng của ngài, thì các vấn đề này sẽ được nghiên cứu dễ dàng. Ít nhất ngài đã ngắn gọn đề cập đến từng lãnh vực, và từ các nhận định đó, ta thấy rõ đâu là chiều hướng tư duy của ngài. Có người còn phân tích các lãnh vực này sâu xa hơn nữa. Tổng hợp của Gioan Phaolô II hiển nhiên là chính lãnh vực ngài đã triệt để khai thác, tỉ như Thần Học Xác Thân.
THXT chắc hẳn là một cách nhìn chủ quan và nội tại, cái nhìn soi rọi vào diễn tiến câu chuyện Ađam và Evà trong vườn đia dàng trước và sau khi sa ngã. Kết quả cuộc xét duyệt về các kinh nghiệm của ông bà nguyên tổ được áp dụng vào các lãnh vực quan trong liên hệ đến dục tính, hôn nhân, và đời sống gia đình. Gioan Phaolô minh nhiên thừa nhận rằng ngài muốn nhìn vào cái thực tại chủ quan và nội tâm của đời sống ông bà nguyên tổ, khi đưa ra nhận định rằng một trong các bản văn trọng điểm, tức chương hai Sách Sáng Thế Ký, “đã trình bầy công trình Tạo Dựng con người một cách đặc biêt chủ quan.”
Phương pháp hiện tượng luận cũng rõ nét trong tác phẩm Gioan Phaolô viết về Giáo Hội, mang tựa đề: “Các Ngọn Nguồn Canh Tân.(NNCT)” Được viết dưới dạng suy tư về Giáo Hội mười năm sau ngày khai mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, NNCT mở đầu bằng vấn nạn các nghị phụ tự đặt cho chính mình, “Hỡi Giáo Hội, ngươi nói gì về chính mình?” Nếu Giáo Hội có thể tự đặt một câu hỏi (để rồi tìm được một câu trả lời), thì nó chính là một chủ thể có ngôi vị--nó là một nhân vị. Qủa vậy, Giáo Hội là ngôi vị mầu nhiệm của Chuá Kitô.
Mỗi nhân vị đều có một tâm trí và một ý chí. Mỗi người đều biết điều mình biết, và biết điều mình chọn lựa. Sự tự tri này về điều mình biết và chọn lựa được gọi là ý thức. Qua sự tự tri này, ta nhìn vào chính mình trong khi học cũng như khi hành động. Ý thức của ta lưu trữ điều ta đã học và đã làm. Nó lưu trữ các kinh nghiệm của ta. Chức năng lưu trữ này của ý thức đem đến kết qủa là ta trở thành điều ta làm. Qua những gì đã được lưu trữ trong ý thức, ta tự phán định về mình-ta tự uốn nắn thành các sự vật ta đã có kinh nghiệm. Khi tập đánh dương cầm, chẳng hạn, các kinh nghiệm sẽ được lưu trữ, và dần dà ta tự uốn mình trở thành một dương cầm thủ. (Hẳn nhiên, ta không thể hoàn toàn biến đổi, hoặc tiêu hủy đi điều Chúa đã ban cho qua công trình Tạo Dựng”, nghĩa là, xét như là nhân vị, ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Chúa.) Vả lại, việc lưu trữ các kinh nghiệm này có nghĩa là ta có ký ức về điều mình đã làm. Hiện tượng luận thăm dò chiều sâu ý thức, sử dụng chức năng ký ức của nó, để nghiên cứu các kinh nghiệm của ta.
Là ngôi vị của Chúa Kitô, mang sẵn một tâm trí và một ý chí, Giáo Hội cũng có sự tự tri và ý thức về các hành vi của mình. Do đó, Giáo Hội có thể được nghiên cứu như một chủ thể, một ngôi vị, từ bên trong. Trong NNCT, vị GH tương lai cố công thăm dò ý thức tự tri của Giáo Hội về các hành vi tri thức của mình, tỉ như, đức tin, và các chọn lựa của Giáo Hội. Wojtyla nghiên cứu Giáo Hội tự bên trong bằng cách áp dụng phương pháp hiện tượng luận vào việc truy cứu thần học về Giáo Hội. Sau chương Dẫn Nhập trong Phần I, Phần II và III của cuốn sách lần lượt là một bản xét duyệt các hành vi tri thức và ý chí của Giáo Hội. Phần II mang tựa đề “Việc Đào Luyện Lương Tâm”, trong khi Phần III có tựa đề, “Việc Đào Luyện Thái Độ.” Trong bản dịch Anh Ngữ, Wojtyla dùng từ “ý thức” để ám chỉ sự tự tri của Giáo Hội về điều mình biết (tức đức tin), và dùng từ “thái độ” đề chỉ sự tự tri về điều Giáo Hội muốn (tức hành vi). Việc nghiên cứu Giáo Hội từ bên trong, xét như một chủ thể có ngôi vị, rõ ràng là một ứng dụng phương pháp hiện tượng luận vào một trong các dề tài lớn của Mạc Khải. “Khúc quanh” mới của ĐGH không chỉ tìm thấy trong loạt bài THXT của ngài.
Chúng ta còn tìm thấy việc sử dụng phương pháp hiện tượng luận trong hầu hết các thư luân lưu và văn kiện dưới triều ĐGH Gioan Phaolô. Con đường mới đầy bất ngờ ngài đã vạch ra được nhìn thấy qua những lời đầu tiên trong thư luân lưu đầu tiên củ ngài: “Đấng Cứu Độ con người, Chúa Giêsu Kitô, chính là trung tâm vũ trụ và lich sử. Cũng một khúc quanh bất ngờ nữa được tìm thấy nơi các chỗ khác trong thông điệp, tỉ như, khi Gioan Phalolô viết về Giáo Hội và dậy rằng, “con người chính là con đường tiên khởi và căn bản của Giáo Hội.”
(còn tiếp)
CHƯƠNG DẪN NHẬP (Bài số 3)
Như đã nói, tổng hợp mới của ĐGH Gioan Phaolô II là kết quả của việc sử dụng một trào lưu triết học có tên là hiện tượng luận. Cha đẻ của hiện tượng luận chính là triết gia người Đức: Edmund Husserl (1859-1938). Một cách tóm tắt, Husserl chú trọng đến kinh nghiệm chủ quan, cá biệt của con người mà ông thâu thập lần hồi từ nhiều người khác nhau. Hiện tượng luận là một phương pháp triết học có tính chủ quan, qui nạp và dựa trên kinh nghiệm. Husserl rất muốn khám phá xem sự vật tại thế như thế nào (hữu thể sự vật--điều triết học luôn truy tìm) qua nhận thức nội tâm của từng cá nhân về thế giới. Nhờ thế, ông đã liên kết được những năng lực nội tâm của trí tuệ, ý chí, và ý thức với thế giới thực, và đã có thể vượt qua được sự phân cách giữa đời sống nội tâm và thế giới hiện thực, điều đã đi vào tư tưởng triết học lần đầu tiên qua Descartes (“Tôi tư duy, vì thế, tôi hiện hữu”) là người đã cách ly thực tại--tức thế giới ngoài kia--với đời sống nội tâm của từng người, bởi vì nó đặt nền hiện hữu chỉ dựa trên tư duy tự nội mà thôi.
Karol Wojtyla lần đầu tiên giáp mặt với hiện tượng luận qua Roman Ingarden, một giáo sư phân khoa triết trường Đại Học Cracow, nơi vị Giáo Hoàng tương lai đã lấy được học vị Tiến Sĩ Triết Học. Ingarden là một trong các sinh viên của Husserl. Qua sự nghiên cứu tập trung vào đạo đức học, Wojtyla thấy rằng hiện tượng luận có khả năng đem lại mối dây liên kết với thực tại, một phương thức xây dựng nền móng qui phạm đạo đức ở trong thực tại, chứ không phải chỉ ở trong các ý tưởng nội tại. Trước đây, Immanuel Kant (1724-1804), một triết gia người Đức khác, cũng đã cho rằng các qui phạm đạo đức thì bất khả tri, bởi vì nó nằm bên ngoài kinh nghiệm trực tiếp của con người. Tuy nhiên, luân lý tính (tức là trật tự tốt đẹp nơi con người) lại đòi buộc ta hành xử theo các qui phạm truyền thống. Do đó, ta vẫn phải hành xử theo các qui phạm này cho dù là bất khả tri-đây là điều Kant gọi là “quyết lệnh.” Trong khi Kant phân cách đạo đức với thực tại, thì Wojtyla thấy hiện tượng luận có thể đem đến một cách thức khả dĩ móc nối qui phạm đạo đức vào lại với thực tại.
Wojtyla trình luận án tiến sĩ về Max Scheler, cũng là một học trò của Husserl. Scheler đặc biệt lưu tâm đến đạo đức học và đã nỗ lực đến với tri thức về đạo đức qua hiện tượng luận. Scheler cho rằng mọi kinh nghiệm của con người đều có liên quan đến một giá trị. Chúng ta hoặc được giá trị lôi kéo hoặc bị nó cự tuyệt. Khi nghiên cứu kinh nghiệm con người theo quan điểm chủ quan và nội tại, Scheler tin rằng mình có thể xác định được các giá trị. Các giá trị này thực sự hiện hữu trong thực tại bên ngoài. Chúng cụ thể và khách quan, nhưng lại được nhận thức qua kinh nghiệm chủ quan và cá nhân. Từ đó, Scheler đề nghị một thứ có thể thay thế cho cái gọi là “quyết lệnh” của Kant. Hơn nữa, ông còn liên kết các gía trị với kinh nghiệm chủ quan và nội tâm của con người. Các giá trị thì khách quan và có thực, thế nhưng lại chỉ nhận thức được bằng kinh nghiệm nội tâm. Thay vì đóng vai các mệnh lệnh và qui luật bó buộc phải theo, thì các giá trị (qui luật đạo đức) lại là một phần kinh nghiệm nội tâm của con người.
Wojtyla phê phán Scheler vì ông đã không thể đưa ra một trật tự giá trị khách quan. Vì các giá trị chỉ nhận thức được qua kinh nghiệm chủ quan của từng người, thành ra nó có thể rất khác biệt và thay đổi tùy mỗi người. Hơn nữa, chính cường độ của việc đáp lại các giá trị thì xác định tầm quan trọng của chính các giá trị. Giá trị nào thôi thúc được lời đáp trả đầy xúc cảm cao độ nhất nơi một cá nhân, sẽ trở thành chính giá trị quan trọng nhất đối với cá nhân ấy. Vì thế, ngay cả khi hai người có cùng một bộ giá trị tương tự nhau, hai người ấy vẫn có thể có những khác biệt khi định giá giai tầng của các giá trị này. Scheler cho rằng không thể thiết lập được một trật tự luân lý khách quan. Scheler cố né tránh đề cập đến bổn phận hoặc trách nhiệm, bởi vì ông muốn phản ứng ngược lại cái gọi là “quyết lệnh” của Kant.
Wojtyla còn phê bình Scheler ở điểm là vị triết gia người Đức này đã không nhận ra rằng qua các lựa chọn đạo đức, chúng ta trở thành chính điều chúng ta làm. Làm điều lành, ta sẽ thành người tốt; làm điều ác, ta sẽ biến ra hư xấu. Một hành vi đạo đức không chỉ gây hậu quả bên ngoài, mà còn tạo ra ảnh hưởng ở ngay bên trong chúng ta nữa. Viếng thăm một người bạn đang nằm bệnh viện chẳng hạn, không chỉ đem lại nguồn an ủi cho người ầy, mà chính chúng ta cũng cảm thấy mình đã làm được một việc thiện.
Dầu phê phán Scheler, Wojtyla vẫn thấy rằng việc Scheler sử dụng hiện tượng luận đã đem lại một phương thức đầy hiệu quả để nghiên cứu nền đạo đức học Kitô giáo. Nếu Mạc Khải dậy rằng các lề luật Kitô giáo chính là các qui phạm nội tâm, nghĩa là, các qui luật ấy có thể nhận thức được bằng kinh nghiệm, thì chúng sẽ không còn mang tính chất của các qui phạm ngoại tại áp đặt lên chúng ta. Ngoài ra, còn có thể nói đến các giá trị này một cách chủ quan, nhưng vẫn phù hợp với não trạng thời đại.
Quan trọng hơn nữa, hiện tưọng luận còn cung cấp một phương cách nghiệm xét nhân vị. Hiên tượng luận nghiên cứu kinh nghiệm con người xét từ góc cạnh nội tâm.. Chính nhờ các kinh nghiệm này, chúng ta trở nên điều chúng ta là, và việc nghiên cứu các kinh nghiệm này cũng như các ảnh hưởng nội tại, sẽ cống hiến cho chúng ta một phương cách thấu hiểu nhân vị từ bên trong. Vì nhân vị là một trong các khái niệm quan trọng nhất của Kitô giáo, nên có thể nói phương pháp hiện tượng luận đã mở ra một con đường mới cho việc học hỏi và nhận thức về Kitô Giáo. Khi dùng triết học Aristotle, thánh Tôma mới chỉ nghiên cứu nhân vị “từ bên ngoài” một cách khách quan mà thôi. “Ngài chưa triển khai đầy đủ khía cạnh chủ quan của đời sống con người.” (nhận định của Rocco Buttiglione) Khi sử dụng phương pháp hiện tượng luận, Gioan Phaolô có thể khai triển được khía cạnh chủ quan của con người mà vẫn không thỏa hiệp hay làm biến đổi các Chân lý nền tảng khách quan của Mạc Khải.
Chính bởi vì nhân vị đóng vai trò rất quan trọng đối với chân lý mạc khải, ta mới có thể có được một tổng hợp của hiện tượng luận và đức tin. Hiện tượng luận khởi sự cuộc truy tầm bằng chính nhân vị cá biệt. Nó mở đầu bằng kinh nghiệm hữu thức ta có được về chính mình xét như là tác nhân hành động. Tiếp đó, hiện tượng luận dẫn đến mầu nhiệm của nhân vị. Dù mang nặng tính chủ quan, hiện tượng luận đã “mở rộng cánh cửa” cho sự thực toàn vẹn về con người, được Thiên Chúa mạc khải trong trật tự khách quan. Gioan Phaolô đã đánh ghi mối liên hệ giữa hiện tượng luận và trật tự khách quan của đức tin qua bản văn Sáng Thế Ký này: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta” (St. 1:26). Con người là nhân vị (tức có ý thức về hành vi của chính mình, đây là điểm mấu chốt của nhân vị) chính bởi vì nó giống Thiên Chúa, được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Việc tham chiếu vào công trình Tạo Dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa đã cùng một lúc cứu vãn được quan đìểm chủ quan của các nhà hiện tương luận mà không làm mất khách quan tính của Phúc Âm. Bản chất chân thực của nhân vị được mạc khải trong trật tự khách quan, nhưng được cảm nghiệm và nghiên cứu một cách chủ quan. Nội dung Mạc Khải, tức các chân lý tập trung vào ngôi vị tính-ngôi vị tính của Thiên Chúa và của từng người-đã được trao tặng cho mỗi cá nhân, nhưng vẫn được cảm nghiệm một cách chủ quan. Trật tự khách quan của Mạc Khải nhờ thế đươc liên kết với kinh nghiệm chủ quan mỗi người.. Hiển nhiên, một trong những dấu ấn của triều Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị là việc lặp đi lặp lại liên tục các giáo huấn về phẩm gía của mỗi một con người.
Tổng hợp mới của Gioan Phaolô bao phủ toàn thể viên kim cương, tức toàn thể Mạc Khải của Chúa Kitô. Giáo Huấn của Chúa Kitô có thể thâu tóm trong bẩy lãnh vực: Thiên Chúa (Một Chúa, Ba Ngôi), Tạo Dựng, Nhập Thể, Giáo Hôi, Bí Tích, Ân sủng, và Giới Răn. Mỗi lãnh vực còn được phân chia thành các khiá cạnh nhỏ. Tỉ như, nói đến mầu nhiệm Tạo Dựng thì nhất thiết bao hàm việc Tạo Dựng thiên thần, Tạo Dựng con người, mầu nhiệm sa ngã và nguyên tội, ngay cả việc Thiên Chúa Quan Phòng biểu tỏ cho dân chúng thời Cựu Ước. Lối tiếp cận mới của Gioan Phaolô bao trùm tất cả nội dung Mạc Khải, tức toàn thể viên kim cương. Có một số ít vấn đề Mạc Khải tuy chưa được ĐGH đề cập đến một cách sâu rộng, nhưng nếu dựa vào cách tiếp cận và não trạng của ngài, thì các vấn đề này sẽ được nghiên cứu dễ dàng. Ít nhất ngài đã ngắn gọn đề cập đến từng lãnh vực, và từ các nhận định đó, ta thấy rõ đâu là chiều hướng tư duy của ngài. Có người còn phân tích các lãnh vực này sâu xa hơn nữa. Tổng hợp của Gioan Phaolô II hiển nhiên là chính lãnh vực ngài đã triệt để khai thác, tỉ như Thần Học Xác Thân.
THXT chắc hẳn là một cách nhìn chủ quan và nội tại, cái nhìn soi rọi vào diễn tiến câu chuyện Ađam và Evà trong vườn đia dàng trước và sau khi sa ngã. Kết quả cuộc xét duyệt về các kinh nghiệm của ông bà nguyên tổ được áp dụng vào các lãnh vực quan trong liên hệ đến dục tính, hôn nhân, và đời sống gia đình. Gioan Phaolô minh nhiên thừa nhận rằng ngài muốn nhìn vào cái thực tại chủ quan và nội tâm của đời sống ông bà nguyên tổ, khi đưa ra nhận định rằng một trong các bản văn trọng điểm, tức chương hai Sách Sáng Thế Ký, “đã trình bầy công trình Tạo Dựng con người một cách đặc biêt chủ quan.”
Phương pháp hiện tượng luận cũng rõ nét trong tác phẩm Gioan Phaolô viết về Giáo Hội, mang tựa đề: “Các Ngọn Nguồn Canh Tân.(NNCT)” Được viết dưới dạng suy tư về Giáo Hội mười năm sau ngày khai mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, NNCT mở đầu bằng vấn nạn các nghị phụ tự đặt cho chính mình, “Hỡi Giáo Hội, ngươi nói gì về chính mình?” Nếu Giáo Hội có thể tự đặt một câu hỏi (để rồi tìm được một câu trả lời), thì nó chính là một chủ thể có ngôi vị--nó là một nhân vị. Qủa vậy, Giáo Hội là ngôi vị mầu nhiệm của Chuá Kitô.
Mỗi nhân vị đều có một tâm trí và một ý chí. Mỗi người đều biết điều mình biết, và biết điều mình chọn lựa. Sự tự tri này về điều mình biết và chọn lựa được gọi là ý thức. Qua sự tự tri này, ta nhìn vào chính mình trong khi học cũng như khi hành động. Ý thức của ta lưu trữ điều ta đã học và đã làm. Nó lưu trữ các kinh nghiệm của ta. Chức năng lưu trữ này của ý thức đem đến kết qủa là ta trở thành điều ta làm. Qua những gì đã được lưu trữ trong ý thức, ta tự phán định về mình-ta tự uốn nắn thành các sự vật ta đã có kinh nghiệm. Khi tập đánh dương cầm, chẳng hạn, các kinh nghiệm sẽ được lưu trữ, và dần dà ta tự uốn mình trở thành một dương cầm thủ. (Hẳn nhiên, ta không thể hoàn toàn biến đổi, hoặc tiêu hủy đi điều Chúa đã ban cho qua công trình Tạo Dựng”, nghĩa là, xét như là nhân vị, ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Chúa.) Vả lại, việc lưu trữ các kinh nghiệm này có nghĩa là ta có ký ức về điều mình đã làm. Hiện tượng luận thăm dò chiều sâu ý thức, sử dụng chức năng ký ức của nó, để nghiên cứu các kinh nghiệm của ta.
Là ngôi vị của Chúa Kitô, mang sẵn một tâm trí và một ý chí, Giáo Hội cũng có sự tự tri và ý thức về các hành vi của mình. Do đó, Giáo Hội có thể được nghiên cứu như một chủ thể, một ngôi vị, từ bên trong. Trong NNCT, vị GH tương lai cố công thăm dò ý thức tự tri của Giáo Hội về các hành vi tri thức của mình, tỉ như, đức tin, và các chọn lựa của Giáo Hội. Wojtyla nghiên cứu Giáo Hội tự bên trong bằng cách áp dụng phương pháp hiện tượng luận vào việc truy cứu thần học về Giáo Hội. Sau chương Dẫn Nhập trong Phần I, Phần II và III của cuốn sách lần lượt là một bản xét duyệt các hành vi tri thức và ý chí của Giáo Hội. Phần II mang tựa đề “Việc Đào Luyện Lương Tâm”, trong khi Phần III có tựa đề, “Việc Đào Luyện Thái Độ.” Trong bản dịch Anh Ngữ, Wojtyla dùng từ “ý thức” để ám chỉ sự tự tri của Giáo Hội về điều mình biết (tức đức tin), và dùng từ “thái độ” đề chỉ sự tự tri về điều Giáo Hội muốn (tức hành vi). Việc nghiên cứu Giáo Hội từ bên trong, xét như một chủ thể có ngôi vị, rõ ràng là một ứng dụng phương pháp hiện tượng luận vào một trong các dề tài lớn của Mạc Khải. “Khúc quanh” mới của ĐGH không chỉ tìm thấy trong loạt bài THXT của ngài.
Chúng ta còn tìm thấy việc sử dụng phương pháp hiện tượng luận trong hầu hết các thư luân lưu và văn kiện dưới triều ĐGH Gioan Phaolô. Con đường mới đầy bất ngờ ngài đã vạch ra được nhìn thấy qua những lời đầu tiên trong thư luân lưu đầu tiên củ ngài: “Đấng Cứu Độ con người, Chúa Giêsu Kitô, chính là trung tâm vũ trụ và lich sử. Cũng một khúc quanh bất ngờ nữa được tìm thấy nơi các chỗ khác trong thông điệp, tỉ như, khi Gioan Phalolô viết về Giáo Hội và dậy rằng, “con người chính là con đường tiên khởi và căn bản của Giáo Hội.”
(còn tiếp)