1.- DÒNG NỮ TU MÙ
"Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời"
Dòng nữ tu mù được thiết lập giữa thành phố Paris. Ngoài bà Bề Trên - một chị Việt-Nam - cùng một vài chị sáng mắt, các nữ tu khác đều mù hết. Họ kiên nhẫn, bền chí học chữ, học nghề, học phổ thông, học nhạc... (theo phương pháp Braille). Họ hát kinh bằng cách sờ chữ với đôi bàn tay.
Họ còn mở trường dạy các trẻ em mù. Trong lớp, thầy mù, trò mù mà vẫn vui vẻ, hồn nhiên. Với một ngôi nhà ba tầng, các em tự do lên xuống, nô đùa ngoài sân như những người sáng mắt vậy.
Sự bền chí của các nữ tu đã thánh hóa chính cuộc đời họ và còn làm cho bao nhiêu trẻ em bất hạnh khác thấy đời mình tươi đẹp, hạnh phúc.
2.- THẦY VIANNEY BỀN CHÍ
"Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thật sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. 'Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu rỗi' ".
Cuộc cách mạng Pháp 1789 bùng nổ khiến thầy Vianney phải bỏ dở việc học. Sau đó, thầy tự học dưới sự dìu dắt của cha xứ, nhưng khổ thay, học mấy cũng chẳng nhớ. Lúc ấy, địa phận gặp cảnh khan hiếm linh mục, Vianney được bề trên gọi về khảo hạch và lần nào cũng trượt!
Vianney không nản lòng, cứ tiếp tục học. Cuối cùng, Bề Trên thấy thầy bền chí quá nên gọi cha sở đến để hỏi xem thầy có lòng đạo đức và kính mến phép Thánh Thể không. Cha sở trả lời có. Cha Chính quyết định: "Thôi, cho thầy chịu chức vì thầy bền chí, chứ nếu khảo hạch thì không bao giờ đỗ được".
Về sau, cha Viannney trở thành một vị thánh thời danh, đem nhiều linh hồn trở về với Chúa. Năm 1925, Đức Piô XI đã đặt ngài làm quan thầy các cha xứ.
3.- CHARLES DE FOUCAULD, HẠT GIỐNG TRONG SA MẠC
"Có thể không kết quả bên ngoài, nhưng thêm kinh nghiệm, thêm khiêm tốn, thêm tin Chúa. Đó là thành công dưới mắt siêu nhiên."
Cha Charles de Foucauld suốt đời tu ở giữa sa mạc Sahara, chiêm niệm, chầu Thánh Thể và sống bác ái với dân tộc Touareg. Suốt đời, ngài tha thiết cầu xin cho có một người đến sa mạc cùng chung sống một lý tưởng với ngài mà chẳng thấy ai, nhưng ngài vẫn bền chí cầu nguyện cho đến ngày ngã gục, mà vẫn không thấy bóng người mong ước. Xét bề ngoài thì quả là một sự thất bại!
Nhưng hạt giống ấy, sau một thời gian chôn vùi, đã đâm chồi nẩy lộc: các hội dòng theo tinh thần của ngài mọc lên khắp nơi. Ngài xin một người, Chúa cho hằng trăm, hàng ngàn Tiểu Đệ, Tiểu Muội có mặt khắp năm châu.
4.- LỬA THỬ VÀNG
"Giữ vững tinh thần, mặc dù cảm thấy rã rời, nguội lạnh: mây mù sẽ qua đi, không che mãi được mặt trời. Chỉ đợi mây mù bay qua thôi."
Khi Đức Cha J. Hervas đến nhận một giáo phận trong đó giáo sĩ rời rạc, giáo dân khô khan, ngài cầu nguyện, nghiên cứu, đối thoại và cuối cùng đi đến một phương thức thánh hóa giáo dân, đào tạo cán bộ tông đồ trong giáo phận: đó là "Học Hội Kitô hữu" (Cursillos de Cristiandad). Tuy nhiên, một số người hiểu lầm, ra sức chống đối kịch liệt và đã làm đơn kiện đến Tòa Thánh cùng bày tỏ thái độ bất hợp tác.
Ngài đã bị thuyên chuyển sang một giáo phận nhỏ nhất nước Tây-Ban-Nha. Vị giám mục kế vị ngài tại giáo phận cũ lại ra một thư luân lưu, kết án "Học Hội Kitô hữu" là một tổ chức lạc đạo, sai lầm về tín lý lẫn luân lý.
Đức Cha Hervas vẫn kiên trì bền chí. Dần dần nhiều người cảm phục, kể cả hàng giáo phẩm và giáo sĩ. Phong Trào "Học Hội Kitô hữu" hiện bành trướng khắp nơi và được các Đức Thánh Cha chúc lành, khuyến khích.
5.- ĐỨC CHA FRANCOIS PALLU
"Con run sợ, vấp ngã, khó khăn, hiểu lầm, công kích, sỉ nhục, tử hình... Con quên Phúc Âm sao? Chúa Giêsu đã chịu tất cả. Cứ theo Ngài, con sẽ phục sinh."
Vào thế kỷ XVII, Tòa Thánh đã phong chức hai vị giám mục làm Đại diện Tông tòa đầu tiên:
Đức Cha Lambert de la Motte phụ trách Đàng Trong kiêm Kampuchia, Lào, Thái-Lan.
Đức Cha Francois Pallu phụ trách Đàng Ngoài kiêm Trung Quốc, Triều Tiên. Đó là một khu vực rộng lớn, không thể tưởng tượng! Dưới quyền Đức Cha F. Pallu chỉ có ít vị thừa sai. Không có một linh mục người Việt nào. Xứ sở lại đang ở trong tình trạng cấm cách khốc liệt.
Ngày 3-1-1662, Đức Cha giả từ gia đình và từ Pháp, dùng tàu buồm vượt Địa Trung Hải rồi men theo đường bộ qua hết các nước Trung Đông, vịnh Ba-Tư, An-Độ, mới đến Thái-Lan.
Năm 1670, trên đường đến Bắc Việt, khi đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bị bão đánh giạt vào Phi-Luật-Tân. Ngài bị người Tây-Ban-Nha bắt. Sau ba tháng, lại bị đày vòng qua Thái-Bình-Dương, vượt cả Đại-Tây-Dương, đến Tây-Ban-Nha. Tuy gian khổ, nhưng tim ngài vẫn luôn chói sáng mọt niềm hy vọng: "Tôi phải mang Phúc Âm đến tận Trung Quốc"ỉ>.
Vừa được trả tự do, ngài tìm hết mọi cách để đến Bắc Kinh. Cuối cùng, thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như người tôi trung của Chúa hằng mong ước. Ngài đã nói một câu đáng ghi nhớ: "Tôi tự cho mình là hạnh phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một chiếc cầu tới Bắc Việt và tới Trung Quốc".
(ĐỌC SÁCH "NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH TRÊN ĐƯỜNG HY VỌNG" CỦA ĐỨC CỐ HỒNG Y NGUYỄN-VĂN-THUẬN. CHƯƠNG I I I. "BỀN CHÍ" ) HÙNG-TÂN
"Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời"
Dòng nữ tu mù được thiết lập giữa thành phố Paris. Ngoài bà Bề Trên - một chị Việt-Nam - cùng một vài chị sáng mắt, các nữ tu khác đều mù hết. Họ kiên nhẫn, bền chí học chữ, học nghề, học phổ thông, học nhạc... (theo phương pháp Braille). Họ hát kinh bằng cách sờ chữ với đôi bàn tay.
Họ còn mở trường dạy các trẻ em mù. Trong lớp, thầy mù, trò mù mà vẫn vui vẻ, hồn nhiên. Với một ngôi nhà ba tầng, các em tự do lên xuống, nô đùa ngoài sân như những người sáng mắt vậy.
Sự bền chí của các nữ tu đã thánh hóa chính cuộc đời họ và còn làm cho bao nhiêu trẻ em bất hạnh khác thấy đời mình tươi đẹp, hạnh phúc.
2.- THẦY VIANNEY BỀN CHÍ
"Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thật sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. 'Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu rỗi' ".
Cuộc cách mạng Pháp 1789 bùng nổ khiến thầy Vianney phải bỏ dở việc học. Sau đó, thầy tự học dưới sự dìu dắt của cha xứ, nhưng khổ thay, học mấy cũng chẳng nhớ. Lúc ấy, địa phận gặp cảnh khan hiếm linh mục, Vianney được bề trên gọi về khảo hạch và lần nào cũng trượt!
Vianney không nản lòng, cứ tiếp tục học. Cuối cùng, Bề Trên thấy thầy bền chí quá nên gọi cha sở đến để hỏi xem thầy có lòng đạo đức và kính mến phép Thánh Thể không. Cha sở trả lời có. Cha Chính quyết định: "Thôi, cho thầy chịu chức vì thầy bền chí, chứ nếu khảo hạch thì không bao giờ đỗ được".
Về sau, cha Viannney trở thành một vị thánh thời danh, đem nhiều linh hồn trở về với Chúa. Năm 1925, Đức Piô XI đã đặt ngài làm quan thầy các cha xứ.
3.- CHARLES DE FOUCAULD, HẠT GIỐNG TRONG SA MẠC
"Có thể không kết quả bên ngoài, nhưng thêm kinh nghiệm, thêm khiêm tốn, thêm tin Chúa. Đó là thành công dưới mắt siêu nhiên."
Cha Charles de Foucauld suốt đời tu ở giữa sa mạc Sahara, chiêm niệm, chầu Thánh Thể và sống bác ái với dân tộc Touareg. Suốt đời, ngài tha thiết cầu xin cho có một người đến sa mạc cùng chung sống một lý tưởng với ngài mà chẳng thấy ai, nhưng ngài vẫn bền chí cầu nguyện cho đến ngày ngã gục, mà vẫn không thấy bóng người mong ước. Xét bề ngoài thì quả là một sự thất bại!
Nhưng hạt giống ấy, sau một thời gian chôn vùi, đã đâm chồi nẩy lộc: các hội dòng theo tinh thần của ngài mọc lên khắp nơi. Ngài xin một người, Chúa cho hằng trăm, hàng ngàn Tiểu Đệ, Tiểu Muội có mặt khắp năm châu.
4.- LỬA THỬ VÀNG
"Giữ vững tinh thần, mặc dù cảm thấy rã rời, nguội lạnh: mây mù sẽ qua đi, không che mãi được mặt trời. Chỉ đợi mây mù bay qua thôi."
Khi Đức Cha J. Hervas đến nhận một giáo phận trong đó giáo sĩ rời rạc, giáo dân khô khan, ngài cầu nguyện, nghiên cứu, đối thoại và cuối cùng đi đến một phương thức thánh hóa giáo dân, đào tạo cán bộ tông đồ trong giáo phận: đó là "Học Hội Kitô hữu" (Cursillos de Cristiandad). Tuy nhiên, một số người hiểu lầm, ra sức chống đối kịch liệt và đã làm đơn kiện đến Tòa Thánh cùng bày tỏ thái độ bất hợp tác.
Ngài đã bị thuyên chuyển sang một giáo phận nhỏ nhất nước Tây-Ban-Nha. Vị giám mục kế vị ngài tại giáo phận cũ lại ra một thư luân lưu, kết án "Học Hội Kitô hữu" là một tổ chức lạc đạo, sai lầm về tín lý lẫn luân lý.
Đức Cha Hervas vẫn kiên trì bền chí. Dần dần nhiều người cảm phục, kể cả hàng giáo phẩm và giáo sĩ. Phong Trào "Học Hội Kitô hữu" hiện bành trướng khắp nơi và được các Đức Thánh Cha chúc lành, khuyến khích.
5.- ĐỨC CHA FRANCOIS PALLU
"Con run sợ, vấp ngã, khó khăn, hiểu lầm, công kích, sỉ nhục, tử hình... Con quên Phúc Âm sao? Chúa Giêsu đã chịu tất cả. Cứ theo Ngài, con sẽ phục sinh."
Vào thế kỷ XVII, Tòa Thánh đã phong chức hai vị giám mục làm Đại diện Tông tòa đầu tiên:
Đức Cha Lambert de la Motte phụ trách Đàng Trong kiêm Kampuchia, Lào, Thái-Lan.
Đức Cha Francois Pallu phụ trách Đàng Ngoài kiêm Trung Quốc, Triều Tiên. Đó là một khu vực rộng lớn, không thể tưởng tượng! Dưới quyền Đức Cha F. Pallu chỉ có ít vị thừa sai. Không có một linh mục người Việt nào. Xứ sở lại đang ở trong tình trạng cấm cách khốc liệt.
Ngày 3-1-1662, Đức Cha giả từ gia đình và từ Pháp, dùng tàu buồm vượt Địa Trung Hải rồi men theo đường bộ qua hết các nước Trung Đông, vịnh Ba-Tư, An-Độ, mới đến Thái-Lan.
Năm 1670, trên đường đến Bắc Việt, khi đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bị bão đánh giạt vào Phi-Luật-Tân. Ngài bị người Tây-Ban-Nha bắt. Sau ba tháng, lại bị đày vòng qua Thái-Bình-Dương, vượt cả Đại-Tây-Dương, đến Tây-Ban-Nha. Tuy gian khổ, nhưng tim ngài vẫn luôn chói sáng mọt niềm hy vọng: "Tôi phải mang Phúc Âm đến tận Trung Quốc"ỉ>.
Vừa được trả tự do, ngài tìm hết mọi cách để đến Bắc Kinh. Cuối cùng, thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như người tôi trung của Chúa hằng mong ước. Ngài đã nói một câu đáng ghi nhớ: "Tôi tự cho mình là hạnh phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một chiếc cầu tới Bắc Việt và tới Trung Quốc".
(ĐỌC SÁCH "NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH TRÊN ĐƯỜNG HY VỌNG" CỦA ĐỨC CỐ HỒNG Y NGUYỄN-VĂN-THUẬN. CHƯƠNG I I I. "BỀN CHÍ" ) HÙNG-TÂN