THẦN HỌC XÁC THÂN

của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ


CHƯƠNG MỘT (bài số 2)

Ngay từ những dòng chữ đầu tiên, người ta đã nhận ra rằng phương cách tiếp cận thần học của ĐGH Gioan Phaolô II thật khác biệt với phương cách của hai nhân vật tiêu biểu của truyền thống thần học Công Giáo: Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinô. Thánh Augustinô đại diện cho khuynh hướng đầu tiên của phương Tây trong việc hình thành một lối trình bầy đức tin thống nhất bằng việc sử dụng một hệ thống triết học riêng biệt. Khi ứng dụng tư tưởng triết học Platô vào các dữ kiện của Mạc Khải, Augưstinô đã thành lập được một tổng hợp đức tin Công Giáo, vốn đã trở thành lề lối giảng dậy đức tin khởi sự từ khi Augustinô qua đời vào năm 430 cho đến thế kỷ thứ 13.

Vào khoảng thế kỷ 13, các hình thái tư tưởng và văn hóa đã đổi thay. Bản dịch các tác phẩm của Aristotle trong tiếng Ả Rập, vốn còn xa lạ với phương Tây thời Trung Cổ, được chuyển sang La ngữ tại Tây Ban Nha, đã nằm trong tay các học giả Tây Phương. Sau đó còn có bản dịch trực tiếp từ Hy ngữ qua La ngữ nhờ các bang thập tự quân được thành lập tại Thánh Địa. Các bản dịch này không chỉ cung cấp các bản văn chính xác hơn của các tác phẩm đã được biết đến, mà còn đem trình làng cả các tác phẩm chưa hề được biết đến, ít là với phương Tây thời Trung Cổ. Cùng với các yếu tố khác, các tác phẩm của Aristotle đã làm thay đổi thế giới hàn lâm thời thế kỷ 12. Hệ thống của Augustinô không còn chuyển tải đức tin bằng các hạn từ dễ hiểu nữa. Cần phải có một tổng hợp mới, một lề lối mới. Thánh Tôma đã làm điều Thánh Augustinô đã làm, tuy nhiên, ngài dùng triết học Aristotle thay cho triết học Platô. Thế là phát sinh hình thái thứ hai chuyển tải đức tin tại phương Tây.

Mặc dù đâm rễ sâu trong cả hai truyền thống Augustinô và Tôma, điều hiển nhiên là THXT của ĐGH Gioan Phaolo II đã làm một “khúc quanh” mới mẻ và bất ngờ. Cùng với các tác phẩm khác, THXT của ĐGH Gioan Phaolô II đã khai mở một tổng hợp mới, một đường lối mới chuyên chở đức tin đến cho thế giới hiện đại. Lối tiếp cận mới này thật cần thiết bởi vì con người của thế kỷ 20 và 21 không còn suy tưởng và hành động theo các phạm trù của Augustinô hoặc Tôma nữa.

Cả Augustinô lẫn Tôma đều sống và giảng dậy trong một nền văn hóa có thể được mô tả là khách quan, diễn dịch và dựa trên nguyên tắc. Thế giới hiện đại tiên quyết lại là chủ quan, qui nạp, và dựa trên kinh nghiệm.

Khách quan có nghĩa là nếu điều gì là thật, là đúng, thì nó đúng là như thế, bất kể tôi có biết thế hay không. Lấy thí dụ về người mù và cái cây: Cái cây vẫn có đó bất chấp việc người mù không nhìn thấy nó. Sự hiện hữu của cái cây không tùy thuộc vào việc người mù có thấy nó hay không. Thực tại khách quan thì hiện hữu độc lập với nhận thức con người. Cái nhìn chủ quan về thực tại thì cho rằng chỉ cái gì mà tôi nhận thức là thật thì mới đúng là thật. Nói chung, cái nhìn chủ quan về thực tại thì không áp dụng cho trường hợp cái cây hoặc các đối tượng vật lý. Tuy nhiên nó áp dụng cho các thực tại phi-vật lý, tỉ như, các chân lý về sự hiện hữu của Thiên Chúa, các chân lý về luân lý. Cái nhìn chủ quan về thực tại có thể được minh họa trong câu nói này: “Điều đó có thể đúng với bạn, nhưng với tôi thì không!” Nói khác đi, một điều gọi là đúng khi do chính tôi tin hoặc chấp nhận hay nhận thức là như thế. Trong thời Trung Cổ, nói như trên thì hoàn toàn vô nghĩa. Quả thế, đối với não trạng Trung Cổ, các chân lý đức tin, bao gồm chân lý tín lý và luân lý, thì đều xác thực hơn là các đối tượng vật lý. Thời Trung Cổ người ta khách quan, còn chúng ta bây giờ thì chủ quan.

Thế giới Trung Cổ thì hay diễn dịch, bởi nó là hệ luận của cái nhìn khách quan về thực tại. Tri thức xuất phát từ các nguyên tắc qua tiến trình diễn dịch, thường được minh họa bằng tam đoạn luận. Bắt đầu bằng một tiền đề đã được thừa nhận, tỉ như “Thiên Chúa là đấng thiêng liêng”, một trung đề được thêm vào, tỉ như, “Đấng thiêng liêng không có thân xác,” ta đi đến kết luận: “Thiên Chúa không có thân xác.” Trong khi đó, chúng ta xác định một điều là đúng qua thực nghiệm, qua kinh nghiệm của chính mình hoặc qua đa số. Phương pháp đạt đến chân lý hoặc tri thức như thế gọi là qui nạp; nó khác với phương pháp diễn dịch.

Điều khác biệt thứ ba-nhãn quan dựa trên nguyên tắc hay dựa trên kinh nghiệm-đuợc bao hàm trong hai khác biệt vừa nói. Thế giới Trung Cổ được đặt trên nền tảng các chân lý được thừa nhận mà từ đó các kết luận được rút ra, nghĩa là dưạ trên nguyên tắc. Thời đại chúng ta thì thủ đắc tri thức từ kinh nghiệm cá nhân.

Vì suy tưởng chủ quan, qui nạp, và dựa trên kinh nghiệm, nên người thời đại không được chuẩn bị để nghe hoặc hiểu các chân lý và các việc thực hành cùa đúc tin được giảng dậy trong một cơ cấu hoặc khung cảnh khách quan, diễn dịch và dựa trên nguyên tắc. Ngay cả từ vựng và ngôn ngữ dùng trong hai hệ thống của Augustinô và Tôma cũng rất xa lạ với đôi tai của người thời đại. Muốn cho Mạc Khải của Chúa Kitô đuợc người thời đại thâu nhận và thấu hiểu, tất nhiên cần diễn đạt bằng chính ngôn ngữ và hình thái suy tưởng của họ. Nói tóm lại, cần có một trang phục chủ quan, qui nạp, và dựa trên kinh nghiệm. Cũng cần dùng các từ ngữ thân quen của nền văn hóa mới. Cái khó là làm sao lấy các “viên ngọc” của đức tin--tức Mạc Khải của Chúa Kitô-và trình bầy bằng một phương thức mới, với một hệ thống triết học mới mà không làm thay đổi chính nội dung các “viên ngọc” ấy. Phải cần một thần đồng khác, một Thánh Augustinô khác, một Thánh Tôma khác, có khả năng làm cho thời đại chúng ta điều mà hai vị đã làm cho thời đại của các ngài.

Gioan Phaolô II chính là một Thánh Augustinô khác, một Thánh Tôma khác. Ngài đang đúc nặn các “viên ngọc” của đức tin trong một khuôn mẫu mới, và mặc cho nó một trang phục mới, khiến nó có thể dược người thời đại thấu hiểu. Giáo Hội cần chuyển tải nội dung Mạc Khải một cách khả tri đến cho con người mọi thời đại. Đó chính là điều Thánh Tôma đã làm cho thế kỷ 13-và thực sự vẫn có nhiều người muốn tiếp tục sử dụng các giải thích truyền thống, nghĩa là lối tổng hợp của Thánh Augustinô-và cũng là điều Gioan Phaolô II đang làm cho thế hệ chúng ta. Hẳn nhiên, sử dụng các tổng hợp của Tôma hoặc Augustinô chẳng những không thiệt hại gì, mà xét ra vẫn cần phải dược giảng dậy cho mọi thế hệ thần học gia. Tuy nhiên, xét như một lề lối chuyển tải đức tin đến cho con người thế kỷ 21, thì dường như tổng hợp mới mà ĐGH Gioan Phaolô II đề xướng xem ra hữu hiệu hơn. Nhiều người sẽ bảo rằng Gioan Phaolô II chính là người theo môn

phái Tôma. Điều đó thật hiển nhiên. Thánh Tôma đã là người theo môn phái Augustinô. Mỗi tổng hợp mới đều xây trên những tổng hợp đã có từ trước. Cho dù Gioan Phaolô II có là môn sinh Tôma chăng nữa, điều hiển nhiên là ngài đang xây dựng một tổng hợp mới vốn sẽ là một trong những viên đá gốc của Giáo Hội thế kỳ 21 và kế tiếp nữa. Tổng

hợp Augustinô đã là đường lối Giáo Hội suy tưởng về Mạc Khải trong suốt 800 năm!

Còn tổng hợp của Tôma thì đã ngự trị trong vòng 700 năm qua. Cứ đà này, tổng hợp của

Gioan Phaolô II sẽ tồn tại với chúng ta hằng thế kỷ nữa.

Cách tiếp cận của ĐGH Gioan Phaolô II không hề làm đức tin thay đổi. Cứ tưởng tượng nội dung đức tin, hoặc Mạc Khải của Chúa Kitô như một viên kim cương thật lớn được đặt trên kệ giữa thanh thiên bạch nhật trong một viện bảo tàng, ta sẽ dễ hiểu điều ĐGH đang làm. Viên kim cương có thể được nhìn từ bất cứ một điểm nào trên cái chu vi 365 độ. Cách nhìn của một quan sát viên là chính cái triết lý của người ấy. Thánh Augustinô đã nhìn viên ngọc từ quan điểm triết học Platô. Trong khi đó, thánh Tôma lại nhìn dưới một quan điểm khác là nền triêt học Aristotle. Gioan Phaolo II laí đổi qua một vị trí khác. Điều đáng nhớ là cả ba đều đang nhìn vào cùng một viên ngọc. Vả lại, một quan sát viên có thể chỉ cho người kia thấy cái khía cạnh người ấy không nhìn thấy. Nói khác đi, thánh Tôma nhìn cùng một sự vật như thánh Augustinô hoặc ĐGH, nhưng ngài mô tả nó một cách khác. Do đó, có thể “chuyển dịch” sự mô tả cùng một góc cạnh của viên kim cương từ Augustinô qua Tôma, qua Gioan Phaolô II, rồi từ Tôma qua Augustinô và Gioan Phaolô II, và từ Gioan Phaolô II qua Tôma và Augustinô. Lúc nào cũng chỉ cùng là một viên kim cương đó mà thôi.

Khúc “quanh” mới trong nền THXT của Gioan Phaolô chính là việc áp dụng một tổng hợp thần học mới vào các vấn đề dục tính, hôn nhân, và dời sống gia dình. Bằng cách sử dụng hiện tượng luận, vốn là một phong trào triết học, Gioan Phaolô đã có thể trình bầy nội dung Mạc Khải của Chúa Kitô một cách chủ quan, qui nạp, và dựa trên kinh nghiệm mà không hề làm thiệt hại gì đến chính nội dung ấy.

Trong cuốn ‘Chứng Nhân Hi Vọng’ (CNHV), khi trưng dẫn Angelo Scola, Weigel viết rằng “một cách tiềm ẩn, tất cả mọi chủ đề thần học như-Thiên Chúa, Chúa Kitô, Chúa Ba Ngôi, ân sủng, Giáo Hội, bí tích--đều đuợc nhìn trong một luồng sáng mới nếu các thần học gia nghiên cứu sâu xa chủ thuyết nhân vị (danh xưng tổng hợp mới mà ĐGH đề xướng) được bao hàm trong nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô (CNHV, trang 343). Nhận xét này thật chính xác, vì hai lý do.

Trước hết, tổng hợp mới của ĐGH thật rõ ràng đậm nét trong nền THXT. Ta có thể nghiên cứu và học hỏi từ cách sử dụng nó trong các diễn từ này. Khi đã nghiên cứu học hỏi rồi, ta sẽ nhận ra nó trong các tác phẩm khác của ĐGH. Tác phẩm nguyên thủy này có thể được khai triển và đào sâu thêm. (Cần lưu ý là: người phát minh một tổng hợp mới thì công bố tàc phẩm nguyên thủy, nhưng hàng thế kỷ sau, người ta còn tiếp tục “đào bới” để tìm ra thêm những nét phong phú và chiều sâu thâm thúy của tổng hợp ấy. Thánh Augustinô đã dùng triết học Platô để khai triển tổng hợp của ngài, nhưng tổng hợp ấy đã được nghiên cứu và triển khai thêm suốt tám thế kỷ. Cũng vậy, Thánh Tôma là người phát minh ra phương thức hòa hợp triết học Aristotle với nội dung Mạc Khải, nhưng viêc nghiên cứu và triển khai công trình của ngài vẫn tiếp diễn cho đến hôm nay). Hẳn nhiên, nếu tổng hợp mới của Gioan Phaolô II được nghiên cứu qua nền THXT, và rồi được nhìn nhận và áp dụng trong các lãnh vực khác, thì “một cách tiềm ẩn, tất cà mọi chủ đề thần học…đều được nhìn trong một luồng sáng mới.”

Thứ đến, nhận xét của Weigel còn chính xác ở chỗ mọi lãnh vực của Mạc Khải thì đều

ảnh hưởng đến các lãnh vực khác. Ta hiểu mầu nhiệm Chúa Kitô, cả Nhập Thể lẫn Cứu Độ, như thế nào thì ta cũng sẽ hiểu mầu nhiệm Giáo Hội, ân sủng, và bí tích y như thế. Cách ta hiểu về mầu nhiệm loài người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa thì cũng ảnh hưởng đến ý niệm của ta về Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh nhập thể. Mạc Khải là một toàn thể thống nhất, là chính Chúa Kitô. Ngài không thể bị chia cắt. Một lối tiếp cận mới trong một lãnh vực sẽ ảnh hưởng đến các lãnh vực khác. Do đó, hiển nhiên là hoa trái mà lối tiếp cận mới của ĐGH Gioan Phaolô II mang lại trong lãnh vực dục tính, hôn nhân, và đời sống gia đình--vốn là kết qủa của THXT--sẽ ảnh hưởng đến mọi chủ đề trong thần học, và “tất cả mọi chủ đề thần học…đều được nhìn trong một luồng sáng mới.” Nhận xét của Weigel chính xàc bởi vì phương pháp của tổng hợp mới có thể nghiên cứu được từ THXT, và bởi vì hoa trái sản sinh từ THXT sẽ gây ảnh hưởng trên các lãnh vực thần học khác.

(Còn tiếp)