Giới thiệu một cách tổng quan chi tiết về Tòa Thánh (Phần I)

A. Lời Dẫn Nhập

Nhằm mục đích cung cấp kiến thức và mở rộng tầm hiểu biết của Quý vị độc giả VietCatholic về Tòa Thánh Phêrô (The See of Peter), sau khi thâu thập các tài liệu cần thiết cũng như việc rà xoát lại tất cả các trang web bằng tiếng Anh, và tiếng Pháp trên mạng lưới Internet, và qua các sách báo Công Giáo bằng tiếng Việt tại hải ngoại cũng như ở trong nước, nay tác giả xin được phép giới thiệu và trình bày một cách tổng quan, chi tiết và đầy đủ nhất từ trước tới giờ, qua 16 loạt bài viết, có liên quan đến Tòa của Thánh Phêrô theo các trình tự như sau:

Phần 1: Vị Giáo Hoàng Tối Cao (The Supreme Pontiff) với cần phần trình bày sau:

B. Giáo Hoàng Là Ai? (Who is Pope?), Lượt Qua Danh Sách Các Vị Giáo Hoàng Trong Lịch Sử, Các Vị Giáo Hoàng Tại Ngôi Lâu Nhất (Longest Reigning Popes), Các Vị Thánh và Chân Phước Giáo Hoàng (Saints & Blesseds); và Những Người Chống Đối Giáo Hoàng (Anti-Popes).

C. Các Loại Văn Kiện của Vị Giáo Hoàng (Categories of Douments).

D. Các Tước Vị của Giáo Hoàng (Papal Titles), Chìa Khóa của Phêrô (The Keys of Peter); và Huy Hiệu Giáo Hoàng (Papal Insignia).

E. Mũ Miện Ba Tầng của Giáo Hoàng (Papal Tiara); Các Bài Quốc Ca Giáo Hoàng (Papal Anthems); và Các Bài Hát Ca Tụng Giáo Hoàng (Hymns in honor of the Pope).

Phần 2: Hồng Y Đoàn (The College of Cardinals) với các phần trình bày sau:

F. Lịch Sử của Hồng Y Đoàn; Nghị Hội Tôn Giáo (Consistory); Cơ Mật Viện (Conclave); Các Thành Viên Của Đoàn (Members of College); Các vị Hồng Y Bầu Phiếu (Cardinal Electors); các vị Hồng Y Giám Mục (Cardinal Bishops); các vị Hồng Y Linh Mục (Cardinal Priests); các vị Hồng Y Trợ Tá (Cardinal Deacons); và các vị Hồng Y Thánh và Chân Phước.

Phần 3: Giáo Triều Rôma (The Roman Curia) với các phần trình bày sau:

G. Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh và Tòa Án (Secretariat of State & Tribunals);

H. Các Thánh Bộ của Giáo Triều (Congregations);

I. Các Hội Đồng Giáo Hoàng (Pontifical Councils);

J. Các Văn Phòng của Vaticăn (Vatican Offices);

K. Các Ủy Ban và Các Học Viện Trực Thuộc Tòa Thánh (Commissions & Committees, Institutions Connected with the Holy See);

L. Các Học Viện Giáo Hoàng (Pontifical Academies);

M. Đất Nước Vaticăn và Cách Thức Liên Lạc với Tòa Thánh (Vatican City State & Contacting a Roman Dicastery);

Phần 4: Việc Vắng Ngôi Giáo Hoàng (Papal Interregnum) với các phần trình bày sau:

N. Ai Được Giao Trông Nom Tòa Thánh (Whose In Charge?) và Sự Tập Hợp Giáo Đoàn (Congregations of the College).

O. Các Viên Chức Quan Trọng Đáng Kính (Notable Officials), Nhà Nguyện Giáo Hoàng (Pontifical Chapel); Nhà Nguyện Trong Dinh Thự Tông Đồ của Vaticăn (Sistine Chapel); và Các Sự Kiện về Cơ Mật Viện (Conclave Facts).

P. Lịch Sử của Luật Lệ Bầu Giáo Hoàng (History of Papal Electoral Law).

Q. Thời Kỳ Vắng Ngôi Giáo Hoàng

R. Lời Kết

Và sau đây là các phần trình bày chi tiết:

Phần 1: Vị Giáo Hoàng Tối Cao (The Supreme Pontiff):

B. Giáo Hoàng Là Ai? (Who is Pope?), Lượt Qua Danh Sách Các Vị Giáo Hoàng Trong Lịch Sử, Các Vị Giáo Hoàng Tại Ngôi Lâu Nhất (Longest Reigning Popes), Các Vị Thánh và Chân Phước Giáo Hoàng (Saints & Blesseds); và Những Người Chống Đối Giáo Hoàng (Anti-Popes):

Đức Giáo Hoàng là Ai? (Who is the Pope?)

Từ “pope” có nghĩa là “người cha.” Trong ngôn ngữ Hy Lạp cổ, thì đó là một từ của một người con dùng để diễn tả tình cảm dành cho một cha trong gia đình, nhưng sau này, nó được mượn từ tiếng La Tinh nhằm để ám chỉ đến sự tôn trọng, kính cẩn. Cả những người Công Giáo thuộc Đông Phương nói tiếng Hy Lạp và Tây Phương nói tiếng La Tinh đều dùng chữ đó dành cho các vị linh mục, Giám Mục và các Giáo Trưởng (patriarchs) như là những vị đứng đầu của các gia đình thiêng liêng.

Ngày hôm nay, các vị linh mục của các Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp, Nga Sô và Serbia (thuộc Nga Sô/Nam Tư củ) vẫn còn có thể gọi vị linh mục ở xứ đạo của họ là “pope.”

Tuy nhiên, dần dà, Đạo La Tinh Kitô Giáo đã bắt đầu giới hạn việc sử dụng của từ này. Vào đầu thế kỷ thứ ba, “papa” chính là một từ kính trọng để dành cho giới tu sĩ ở cấp bậc cao mà thôi. Vào thế kỷ thứ 5, nó được áp dụng chỉ cho vị Giám Mục của Rôma, mà không kèm theo một giới hạn nào cả. Tuy nhiên, sau thế kỷ thứ 8, chỉ có bên Phương Tây là dùng từ đó, và chỉ dành cho vị Giám Mục của Rôma mà thôi. Thực ra, vị Giáo Hoàng có đầu óc cải cách lớn là Đức Cố Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), đã chính thức giới hạn việc sử dụng của từ “papa,” để chỉ dành riêng cho vị Giám Mục của Rôma mà thôi.

Khi Công Đồng Florence xác nhận vào 1439, định rõ đó như là một vấn đề của đức tin bởi Công Đồng Vaticăn I vào năm 1870, và sau này được chuẩn phê, xác nhận bởi Công Đồng Vaticăn II vào năm 1964, rằng Chúa Giêsu Kitô đã trao ban vị trí đứng đầu Giáo Hội chỉ cho Phêrô mà thôi. Trong việc long trọng định rõ lại vai trò đứng đầu của Phêrô, Công Đồng Vaticăn I đã trích dẫn ra ba đoạn văn cổ điển từ Sách Tân Ước, để đính kèm, gồm:

Tin Mừng theo Thánh Gioan, chương 1, câu 42: “Ông đưa Simôn đến với Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn Simôn mà nói: “Ngươi là Simôn, con của Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha - nghĩa là: Đá.””

Và chương 21, câu 15: “Khi họ đã lót lòng rồi, Đức Giêsu nói với Simôn Phêrô: “Simôn, con của Gioan, ngươi có mến Ta hơn các kẻ này không?” Simôn thưa với Ngài: “Vâng, lạy Chúa, Ngài biết con yêu mến Ngài!” Đức Giêsu nói với ông: “Hãy chăn giữ chiên của Ta!””

Và trên tất cả vẫn là Tin Mừng theo Thánh Máthêu, chương 16, câu 18: “Và Ta, Ta bảo ngươi: “Ngươi là Đá và trên Đá ấy, Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta, và quyền môn âm phủ sẽ không thắng nổi.

Công Đồng hiểu rất rõ về những đoạn Kinh Thánh này, cùng với đoạn Kinh Thánh trích trong Sách Luca, chương 22, câu 32: “Nhưng Ta đã cầu xin cho ngươi, ngõ hầu lòng tin của ngươi khỏi bị tiêu diệt. Phần ngươi, một khi đã trở lại, ngươi hãy củng cố anh em ngươi,” để tuyên bố rằng chính Chúa Kitô là Người đã chọn Thánh Phêrô như là vị hoàng tử của các tông đồ và là người đứng đầu của một Giáo Hội hữu hình, có toàn quyền xét xử để truyền lại một cách liên tục đến cho những vị kế thừa chức vị Giáo Hoàng của Ngài, cùng với thẩm quyền tuyệt đối để công bố về các vấn đề có liên quan đến đức tin hay luân lý.

Tầm quan trọng của Phêrô trong Giáo Hội cũng đã được xác nhận qua rất nhiều lần khi đề cập tới các tông đồ trong Sách Tân Ước và quyền hành rõ ràng của Phêrô trong những trường hợp đó.

Tại Công Đồng Jerusalem (Acts 15), chính Phêrô là Người đã quyết định dùng từ “papal” hay “pope” khi xưng mình với những người cải đạo, vốn không phải là người Do Thái, và tuyên bố rằng sự chọn lựa đó, là do từ một chính sách kiên định (a matter of firm policy) mà ra. Đúng vậy, chính qua Phêrô mà Thiên Chúa đã mạc khải cho biết là cần phải rao giảng Phúc Âm hóa cho những người Do Thái, dẫu rằng chính Phaolô mới là vị Tông Đồ nhiệt thành nhất của họ (tức những người Do Thái).

Lượt Qua Danh Sách Các Vị Giáo Hoàng Theo Niên Đại (Popes-Chronological List)

Các Vị Giáo Hoàng Thuộc Thời Đại Thánh Kinh (Bibilical Era) (từ năm 30 đến năm 100 sau Công Nguyên):

Việc kế thừa ngôi tòa của vị Giám Mục Rôma đã được ghi nhận lại bởi các sử gia của Giáo Hội từ những thời kỳ đầu, vào thời của Kinh Thánh, vốn gần với cái chết của Thánh Gioan vào khoảng năm 100 sau Công Nguyên. Thì trong thời kỳ này, có 5 vị Thánh Giáo Hoàng đầu tiên như sau:

1. Thánh Phêrô (từ năm 32 đến 67).

2. Thánh Linus (từ năm 67 đến 76).

3. Thánh Anacletus/Cletus (từ năm 76 đến 88).

4. Thánh Clêment Đệ Nhất (từ năm 88 đến 97).

5. Thánh Evaristus (từ năm 97 đến 105).

Các Vị Giáo Hoàng Thuộc Thời Đại Các Cha Giáo Lý (Patristic Era) (từ năm 100 đến 600):

Đây chính là thời đại của các Cha, những người tổ phụ rất thông thái và thánh thiện, đã trình bày những giảng dạy của Đạo Kitô Giáo và việc diễn dịch Thánh Kinh, cho toàn thể Giáo Hội. Thời đại này được kết thúc với vị Cố Giáo Hoàng Thánh Gregory Đệ Nhất ở Tây Phương (vào năm 600); và vị Thánh Giáo Hoàng Gioan Damascence tại Đông Phương (vào năm 787).

Có tất cả là 59 vị Giáo Hoàng trong thời đại này, từ vị Giáo Hoàng thứ 6 đến vị Giáo Hoàng thứ 64.

Các Vị Giáo Hoàng Thuộc Thời Đại Trung Cổ (Medieval Era) (từ năm 600 đến 1548):

Đây là giai đoạn từ thời đại Các Cha Giáo Lý mãi cho đến thời kỳ Cải Cách Tin Lành Giáo và thời kỳ Chống Lại Cải Cách của Công Giáo (Catholic Counter-Reformation).

Trong thời đại này có tất cả là 165 vị Giáo Hoàng, từ vị Giáo Hoàng thứ 65 đến vị Giáo Hoàng thứ 219.

Các Vị Giáo Hoàng Thuộc Thời Đại Của Đại Công Đồng Trent (Tridentine Era) (từ năm 1548 đến 1958):

Đây là thời kỳ của việc củng cố lại và đem ra thi hành các học thuyết, vốn được bắt đầu bằng Đại Công Đồng Trent (từ 1548 đến 1570).

Trong thời đại này có tất cả là 41 vị Giáo Hoàng, từ vị Giáo Hoàng thứ 220 đến vị Giáo Hoàng thứ 260.

Các Vị Giáo Hoàng Thuộc Thời Đại Của Công Đồng Vatican II (Vatican II Era) (từ năm 1958 đến nay):

Trong thời kỳ này, có 4 vị Giáo Hoàng, từ vị Giáo Hoàng thứ 261 đến vị Giáo Hoàng thứ 264 là Đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị.

4 vị Giáo Hoàng đó là:

Chân Phước Cố Giáo Hoàng Gioan 23 (từ năm 1958 đến 1963).

Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục (từ năm 1963 đến 1978).

Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhất (từ năm 1978 đến 1978). Đúng trọn 1 năm.

Đức Đương Kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị (từ năm 1978 cho đến nay).

Những Vị Giáo Hoàng Tại Ngôi Lâu Nhất (Longest Reigning Popes):

Những vị Giáo Hoàng tại ngôi lâu nhất được liệt kê theo thứ tự như sau:

1. Thánh Phêrô (từ năm 30 cho đến năm 64/67 sau Công Nguyên): tức 34 hoặc 37 năm. Ngài sống tại Rôma là 25 năm.

2. Đức Cố Giáo Hoàng Pius IX (từ năm 1846 đến năm 1878): tức 31 năm, 7 tháng.

3. Đức Đương Kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị (từ năm 1978 mãi đến nay): tức đã vượt qua Đức Cố Giáo Hoàng Leo XIII là 9,570 ngày vào đúng ngày

hôm nay, thứ Ba, ngày 28 tháng 12 năm 2004.

4. Đức Cố Giáo Hoàng Leo XIII (từ năm 1878 đến năm 1903): tức 25 năm, 5 tháng (tức 9,280 ngày).

5. Đức Cố Giáo Hoàng Pius VI (từ năm 1775 đến năm 1799): tức 24 năm, 6 tháng.

6. Đức Cố Giáo Hoàng Adrian I (từ năm 772 đến năm 795): tức 23 năm, 10 tháng.

7. Đức Cố Giáo Hoàng Piô VII (từ năm 1800 đến năm 1823): tức 23 năm, 5 tháng.

8. Đức Cố Giáo Hoàng Alexander III (từ năm 1159 đến năm 1181): tức 21 năm, 11 tháng, và 23 ngày.

9. Đức Cố Giáo Hoàng Thánh Sylvester I (từ năm 314 đến năm 335): tức 21 năm, 11 tháng.

10. Đức Cố Giáo Hoàng Thánh Leo I (từ năm 440 đến năm 461): tức 21 năm, 1 tháng.

Những Vị Thánh và Chân Phước Giáo Hoàng (Saints and Blesseds):

Qua dòng lịch sử, hầu hết các vị Giáo Hoàng đều là những người rất thánh thiện. Nói đúng ra, trong tổng số 264 vị Giáo Hoàng tính cho đến thời của Đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, thì đã có 81 vị Giáo Hoàng là Thánh và 9 vị Chân Phước Giáo Hoàng.

Trong số này, có 41 vị Giáo Hoàng đầu tiên được trở nên Thánh.

Trong số 32 vị Giáo Hoàng đầu tiên, những vị đã cai quản Giáo Hội suốt thời kỳ bách hại tại La Mã (vốn chấm dứt vào năm 312), thì đã có tới 28 vị đã tử đạo.

Nếu phân ra theo từng thời đại thì có: 5 vị Thánh Giáo Hoàng trong Thời Đại Thánh Kinh; 51 vị Thánh Giáo Hoàng trong Thời Đại Các Cha Giáo Lý; 23 vị Thánh và 5 vị Chân Phước Giáo Hoàng trong Thời Đại Trung Cổ; 2 vị Thánh và 3 Chân Phước Giáo Hoàng trong Thời Đại của Đại Công Đồng Trent; và 1 vị Chân Phước Giáo Hoàng trong Thời Đại của Vaticăn II là Chân Phước Cố Giáo Hoàng Gioan 23.

Những Người Chống Đối Lại Đức Giáo Hoàng (Anti-Popes):

Sự hiện diện của những người chống đối lại Đức Giáo Hoàng chính là một trong những hiện tượng lạ kỳ nhất trong lịch sử của Giáo Hội. Vị đầu tiên trong số 37 người chống đối lại Đức Giáo Hoàng, là người được chọn làm Giáo Hoàng nhưng vì việc bầu không hợp lệ vào lúc đó chính là vị Thánh Hippolytus, người đã bất đồng với Đức Giáo Hoàng vào một ngày, nhưng về sau lại hòa giải và đã chết vì đức tin. Hầu hết những người chống đối lại Đức Giáo Hoàng đều là những vị Hồng Y có mưu đồ, các vị Hoàng Tử trần tục, đời thường hay tầng lớp quý tộc La Mã. Các vị Hoàng Tử trần tục và tầng lớp quý tộc La Mã thời đó, chống đối lại các vị Giáo Hoàng, chủ yếu là vì họ có đời sống xa đọa về luân lý, cũng như đức tin.

(Còn tiếp. ....)