Sự sống của mổi nhân vị là một lời ngơi khen Thiên Chúa


VATICAN (Zenit. org). - Đây là một bản dịch bài phát biểu của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết hôm nay, mà ngài dành để suy tư về Thánh vịnh 66(67). * * *

1. Tiếng nói của tác giả Thánh vịnh xưa vừa được nghe, ông cất lên một thánh vịnh vui mừng để tạ ơn Chúa. Đây là một văn bản ngắn va hấp dẫn, nhưng mở một chân trời rộng, cho tới chỗ ôm đòm tất cả các dân trên địa cầu.

Sự khai mạc mang tính phổ biến có lẽ phản chiếu tinh thần ngôn sứ của thời kỳ tiếp sau cuộc lưu đày Babylon, khi có hy vọng dầu những người nước ngoài cũng được đưa tới Chúa trong núi thánh của Người hầu được tràn đầy vui mừng. Những hy lễ và những tế phẩm đốt cháy xông mùi thơm, bởi vì đền thờ Chúa đã trở thanh một "nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc" (Isaiah 56:7).

Cũng trong Thánh vịnh chúng ta , 66(67), ca đoàn phổ quát các nước được mời kết hợp mình với lời ngợi khen dân Israel cất lên trong đền thờ Zion. Trên thực tế, điệp ca này được lập lại hai lần: "Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Chúa; ước gì chư dân cảm tạ ngài "(cc. 4, 6).

2. Thậm chí những người không thuộc cộng đồng Chúa tuyển chọn, được Chúa mời gọi: thật vậy, họ được kêu mời hiểu biết "đường lối" mạc khải cho dân Israel. "Đường lối" là chương trình cứu rỗi của Chúa, vương quốc ánh sáng và hòa bình, dân ngoại cũng được bao hàm trong sự thực hiện vương quốc đó, vì được mời nghe tiếng đấng Yahweh (x. c. 3). Hậu quả của sự nghe vâng phục này là sự kính sợ Chúa trong "toàn cõi đất" (c. 8), một kiểu nói không gợi lên sự sợ nhưng đúng hơn sự cung kính thờ phượng đối với mầu nhiệm siêu việt và vinh quang của Chúa.

3. Lúc khởi đầu và kết thúc Thánh vịnh, có một ước muốn tái diễn được Chúa chúc phúc: "Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con...Chúa Trời, Chúa chúng ta, đã ban phúc lộc. Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta" (c. 2, 7-8).

Trong những lời này, dễ mà nghe tiếng vọng của kinh chúc lành tư tế danh tiếng mà ông Moses, nhân danh Chúa, đã dạy cho ông Aaron và con cháu ông thuộc chi tộc tư tế: "Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!" (Dân số 6: 24-26).

Đúng, theo tác giả Thánh vịnh, lời chúc phúc này trên dân Israel sẽ như hạt giống ân sủng và cứu độ, sẽ được trồng trong đất toàn thế giới và lịch sử, sẳn sàng đâm chồi và thành một cây xanh tươi.

Chúng ta nghĩ tới lời hứa Chúa nói với ông Abraham trong ngày tuyển chọn ông: "Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng và ngươi sẽ là một mối phúc lành... Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc " (St 12: 2-3).

4. Trong truyền thống kinh thánh, một trong những hiệu quả phúc lành của Chúa mà người ta nghiệm thấy, đó là ân ban sự sống, sự phì nhiêu và sự sinh hoa trái.

Trong Thánh vịnh chúng ta có một sự đối chiếu minh nhiên về thực tại cụ thể này, quí báu cho sự sống: "Đất đã sinh ra mùa màng hoa trái" (c. 7). Sự kiện này đã dẫn các học giả tới chỗ liên hệ Thánh vịnh với nghi thức tạ ơn vì được mùa dồi dào, dấu chỉ sự chiếu cố của Chúa và là bằng chứng cho các dân tộc khác biết Chúa ở gần dân Israel

Cũng câu đó lôi kéo sự chú ý của các Giáo phụ, các ngài bước sang từ chân trời nông nghiệp qua bình diện biểu trưng. Như vậy, ông Origen áp dụng câu này cho Đức Trtinh Nữ Maria và cho Thánh Thể, nghĩa là, cho Chúa Kitô Đấng đến từ đóa hoa Trinh Nữ và trở nên trái có thể ăn được. Trong viễn ảnh này, , "đất là Đức Maria chí thánh, Bà đến từ đất chúng ta, từ hạt giống chúng ta, từ đất bùn này, từ đất sét này, của ông Adam. "Đất này đã sinh hoa trái của nó: Điều nó mất trong vườn địa đàng, nó đã gặp lại trong người Con. "Đất đã sinh hoa trái của nó: Trước hết nó sinh một đóa hoa... rồi nhờ đoá hoa này nó sinh ra trái, đến nỗi chung ta cò thể ăn trái đó, chúng ta có thể ăn thịt trái đó. Anh cò muốn biết trái đó là gì không? Đó là người Trinh của Trinh Nữ, là Đức Chúa của tớ nữ, là Chúa của con người, là Con của bà Mẹ, là trái của đất ("Omelie sul libro del Salmi"[ 74 Homelies on the Book of the Psalms] Milan, 1993, p. 14)

5. Chúng ta kết thức với lời thánh Augustine trong tập chú giải của ngài về Thánh vịnh. Ngài đồng hóa trái sinh ra trên mặt đất với những tin tức là ân sủng đã được sinh ra trong con người khi Chúa Kitô đến, những tin tức của sự cải thiện và một trái của sự ngơi khen Chúa.

Trên thực tế, "mặt đất đầy những gai, " ngài giải thích, Nhưng "tay của người nhổ nó đã đến gần, tiếng nói của vẻ uy nghi Người và của lòng từ bi Người đã đến gần, và mặt đất bắt đầu ca tụng. Bây giờ đất sinh ra trái của nó. " Dĩ nhiên, nó không thể sinh trái, " nếu nó không được tưới trước" nhờ mưa, "nếu lòng thương xót Chúa không đến trước từ nơi cao. "Bây giờ chúng ta thấy một trái chín trong Giáo hội nhờ lời giảng dạy của các tông đồ: " Bấy giờ cho mưa rơi xuống từ những đám mây của mình, tức là từ các tông đồ loan báo chân lý, " mặt đất đã sinh trái’ dồi dào hơn, và mùa màng này bây giờ tràn đầy toàn thể thế giới" ("Esposizioni sui Salmi" [Expositions on the Psams] II, Rome, 1970, p. 551).

[Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha tóm bài phát biểu bằng tiếng Anh:]

Anh chị em thân mến,

Thánh vịnh 66 tuy là một thánh thi ngắn nhưng hấp dẫn để ngợi khen Chúa. Thánh vịnh được hát ngợi khen Chúa nhân danh mọi người trên mặt đất, là những người được kêu mời loan báo các đường lối của Chúa, đường lối cừu độ, ánh sáng và hòa bình. Thánh vịnh kêu xin lòng thương xót Chúa và xin Người chúc phúc dân Người, ngõ hầu họ có thể sinh ra trái và tới phiên mình trở thành một nguồn mạch chúc lành cho những kẻ khác. Chúa Giêsu là phúc lành cuối cùng Chúa ban cho dân Người. Chính nhờ Chúa Kitô mà toàn thế giới nhận lãnh lời hứa cứu chuộc, ân ban sự sống đời đời.

Tôi gởi lời chào riêng biệt tới lớp phó tế của Học viện Giáo hoàng Bắc Mỹ: các bạn thân mến, hãy giữ sự sống các bạn luôn tập trung vào Chúa Giêsu Kitô để nhiệm vụ các bạn trong Giáo hội luôn luôn phản ảnh sự hy sinh-chính mình của Người để cứu chuộc thế giới. Tôi câu xin niềm vui và sự bình an trong Đấng Cứu thế Phục sinh, xuống trên những khách tham quan nói tiếng Anh hiện diện hôm nay, cách riêng những người đến từ England, Scotland, Ireland, Norway, Malta, Phippines, Japan, Trinidad và Tobago, Australia và Hiệp chúng quốc Mỹ châu.