CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG (A) : EM-MA-NU-EN : MỘT TIN MỪNG VĨ ĐẠI

Dẫn nhập đầu lễ :

Anh chị em thân mến,

Chúng ta đã tiến bước trên lộ trình “Mùa Vọng” được 3 tuần, hôm nay, Phụng vụ Chúa Nhật IV Mùa Vọng dẫn chúng ta đến cận kề mầu nhiệm Nhập Thể - Giáng Sinh. Sứ điệp Lời Chúa được công bố hôm nay có thể được tóm gọn trong mấy chữ : Em-Ma-nu-en, Thiên chúa ở cùng chúng ta. (BĐ 1, Sứ Ngôn I-sa-ia). Đó chính là một tin Mừng vĩ đại. Và để Tin Mừng đó trở thành hiện thực, Thiên Chúa mời gọi sự cọng tác của con người, đặc biệt những người công chính khiêm hạ, khó nghèo như Đức Maria, thánh Giuse… (Bài TM theo thánh Matthêô), Và Tin Mừng đó còn phải được tiếp tục loan báo trong thế giới hôm nay qua Giáo Hội và mỗi người chúng ta (BĐ 2, Thứ Rôma)

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành Thánh lễ.

Giảng Lời Chúa :

Kính thưa ông bà và anh chị em,

"Trên từng cây số" của chiều dài lịch sử cứu rỗi mà Kinh thánh Cựu-Tân- ước trình bày, chúng ta luôn tìm gặp hai mẫu người, hai hình ảnh đối ngược nhau, tương phản nhau :

Trước hết là một vài gương mặt điễn hình của cựu ước :

* Mô-sê, một người bị săn đuổi, lang thang chăn cừu trong hoang địa xứ Ma-đi-an, đối mặt với một Pha-ra-ô, vị hoàng đế Ai Cập uy quyền lẫm liệt. (Xh 12, 29-32).

* Đa-vít, "người mục tử có gương mặt đẹp", chỉ với chiếc ná và vài viên đá cuội, đã hạ gục tên dũng sĩ Go-li-át to lớn và được trang bị "đến tận răng". (1Sm 17, 32-51).

* Ê-li-a, vị ngôn sứ một đời cô độc, không lùi bước trước một hoàng hậu I-dê-ven và vua A-kháp trong cuộc chiến bảo vệ niềm tin. (1V 19, 1-8).

* Giu-đi-tha, người goá phụ "liểu yếu đào tơ", vì sự sống còn của dân Chúa, đã chém đầu viên đại tướng Ho-lô-phec-nê oai hùng bách chiến bách thắng. (Gđt 13, 1-10).

* Ét-te, Móoc-đô-khai, những người mang thân phận lưu đầy và bị án tử, với niềm tin yêu phó thác đã chiến thắng tên đại thần ác độc Ha-man. (Et 5-7).

Và hôm nay, để dẫn chúng ta vào mầu nhiệm vĩ đại của ơn cứu độ, mầu nhiệm “Con Chúa Giáng Trần”, Lời Chúa lại một lần nữa trình bày với chúng ta những con người giản đơn, nhỏ bé, khiêm hạ được gọi mời để cọng tác với Thiên Chúa trong chương trình tình yêu vĩ đại của Ngài, chương trình cứu độ. Nói cách khác : để có “Thiên chúa ở cùng chúng ta”, thì cần phải có những con người “ở cùng Thiên Chúa”, nghĩa là những con người sẵn sàng trãi rộng cõi lòng để đón nhận ý định nhiệm mầu và yêu thương của Thiên Chúa.

- I-sa-ia, vị ngôn sứ xuất hiện khoảng 600 năm trước Chúa Kitô đã mạnh dạn loan báo “ngày xuất hiện của một Đấng Em-ma-nu-en và người cọng tác đó lại là một trinh nữ : “Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu : Nầy đây người trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en”

- Trong khi đó, trích đoạn Tin mừng Matthêô tường thuật cho chúng ta “cuộc mặc khải cho Thánh Giuse để Ngài đón nhận Đức Đức Maria làm vợ” : Phải chăng Maria, Giuse đó là những “đại diện cho giai đoạn của “thời gian viên mãn”, “thời của thực hiện dứt khoát, thời của Giao Uớc Mới, thời của Đấng Em-ma-nu-en : Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Như vậy chúng ta có thể nói được rằng : Trọng tâm của sứ điệp phụng vụ hôm nay đó là nhắc lại cho chúng ta chân lý nền tảng nầy : Thiên Chúa đang hiện diện, đang hoạt động trong trần gian nầy, đang thực hiện “giao ước mà Ngài đã ký kết vì yêu thương”; và Ngài thực hiện qua những biến cố, con người, dụng cụ bé nhỏ khiêm hạ. Và chúng ta chỉ có thể cảm nhận, đón lấy hoạt động đó, hồng ân đó, giao ước đó khi hoán cải trở nên bé nhỏ khiêm hạ, hoán cải nên giống Đức Maria, nên giống Thánh Giuse như những mô hình gương mẫu.

1. Sự hiện diện của Thiên Chúa : đáp số của mọi bài toán nhân sinh

Từ ngay những trang đầu của Thánh Kinh, mặc khải của Thiên Chúa đã chỉ cho thấy rằng : Cái thảm trạng to lớn nhất, kinh khủng nhất của vũ trụ, của thế giới, của loài người là “vắng bóng Thiên Chúa”. Sách Sáng thế đã ngụ ngôn rằng : Sau khi Tổ Tông con người chối từ Thiên Chúa, thì từ độ ấy, không còn nữa những buổi chiều nắng nhạt thả bộ hàn huyên với Gia-vê Thiên Chúa trong thân mật ngọt ngào, cánh cửa địa đàng khép lại, con người lũi thũi cô độc dắt nhau “cày sâu cuốc bẫm” trên những luống đất góc gai. Rồi sau đó là anh Cain giết em ruột Abel, là sa đọa và lụt đại hồng thủy, là tháp Baben chia rẽ và kiêu ngạo…Tiếp theo những trang Thánh Kinh mang dáng đứng huyền thoại và cổ tích đó, Cựu ước lại tiếp nối những trang dài kinh nghiệm lịch sử của dân được chọn, Ít-ra-en : khi nào dân chọn Chúa, tin Chúa, có Chúa ở giữa dân, thì lập tức còn an vui sung túc; trái lại khi dân khước từ, chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa để chạy theo những thần tượng ngoại lai ảo ảnh, thì rơi vào những nỗi khốn cùng : nô lệ, lưu đầy, tai ương, hoạn nạn. Nhưng điều mà Lời Chúa khẳng định cách rõ nét nhất đó là : mỗi khi con người sám hối ăn năn, quay đầu trở lại, tìm đến với Thiên Chúa…lập tức Chúa lại xuất hiện, lại trở về cư ngụ giữa dân để gia ân giáng phúc. Đúng như lời Chúa nói với Mai-sen trong hoang mạc Ma-di-an : “Ta đã thấy nổi khổ của Dân Ta” (Xh 3,5). Kinh nghiệm của 40 năm hành trình về đất hứa là “kinh nghiệm xương máu” của chọn lựa nầy, của đức tin vào sự hiện diện nầy : Quả thật, Thiên Chúa của Ít-ra-en là Thiên Chúa sẵn sàng đồng hành hôm sớm như áng mây, như cột lửa dẫn đường, là Thiên Chúa chịu thương chịu khó cư ngụ trong lều tạm, là Thiên Chúa hiện diện nơi “hòm bia giao ước” luôn đi sát và hiện diện cùng dân. Cũng chính với niềm tin vào sự hiện diện oai hùng và thân thương đó mà, khi Đa-Vít, Vị Vua anh minh của thời định cư Đất Hứa, sau khi an định cõi bờ, đã long trọng cung nghinh Hòm Bia Giao ước về đặt tai trung tâm thủ đô Giê-ru-sa-lem để dân sớm hôm phụng thờ và lễ bái.

Tuy nhiên, những gì đã được loan báo trong Cựu ước chỉ là bóng hình và chuẩn bị. Sự hiện diên đích thực của Thiên Chúa phải đợi cho đến biến cố mà chúng ta sắp sửa cử hành và hôm nay được nhắc tới : Biến cố Ngôi Lời Nhập Thể. Vâng, Thiên Chúa không còn hiện hữu một cách tượng trưng qua áng mây cột lửa, qua hai Bia đá ghi Mười điều Răn, hay là qua “ngọn gió hiu hiu trên đĩnh Ho-reb …Đã đến thời viên mãn. “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta”, đã được cưu mang từ cung lòng một trinh nữ. Đức Mẹ Maria chính là “Hòm Bia Giao ước mới” cưu mang Cọn Thiên Chúa làm người. Quả thật, bài Tin mừng Matthêô hôm nay, mô tả “cuộc thị kiến của giuse về sự mang thai lạ lùng của Đức Maria là một bản tuyên cáo hùng hồn của Thiên Chúa về lòng yêu thương miên viễn của Ngài; đồng thời cũng nói lên thái độ ngoan ngùy của những tâm hồn công chính khát mong ơn cứu độ : Thế là từ đây Giao ước đã trở thành hiện thực. Tất cả mọi sự đời nầy cho dù quan trọng đến mấy, cũng phải nhường bước cho ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa, cho Tin Mừng vĩ đại Con Chúa Giáng Trần. Giuse không còn phải trốn chạy, trăn trở trước một Maria đồng trinh mà bụng mang dạ chữa; nhưng kể từ đây hân hoan đón nhận Tin Mừng để cùng nhau sát cánh cọng tác để Tin Mừng sớm được vang xa và trở thành hiện thực.

Quả thật Đấng Em-ma-nu-en trong cung lòng Trinh Nữ Maria đã làm cho tất cả những ước mơ, hy vọng cua con người từ đây được đáp ứng : Sự hiện diện của Ngôi Lời Thiên Chúa đã chuyển từ không tới có, từ mất lại được : Có ơn cứu độ, có sự tha thứ, có hồng ân tái tạo, có ánh sáng và chân lý dẫn đưa ta vào hạnh phúc vĩnh hằng. Linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã diễn tả tư tưởng của Thánh Gioan về sự hiện diện của Ngôi Lời bằng những câu thơ đẹp :

Lời hằng sống từ muôn ngàn thế kỷ

Đã vang lên khắp trời đất núi sông

Không có Lời, muôn vật chỉ là không

Không chi hết, toàn mênh mông trống rỗng…

Lời ban xuống trần gian như ngọn lửa

Quét sương mù cho rạng nước non xanh,

Thiêu cây hoang cỏ dại cho đất lành

Tỏa ánh sang soi đường người muôn thuở…

(Trích đoạn mở đầu trong tác phẩm “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG” của Nguyễn Xuân Văn)


2. Khiêm hạ, khó nghèo : Cách Thiên Chúa chọn để ở cùng cbúng ta

Nếu đã có một thời Thiên Chúa “Hiển Linh” một cách oai phong lẫm lẫm như cuộc hiển linh thời Xuất hành trên núi thánh Si-nai, bên biển Đỏ với khói bốc lửa dậy, sấm vang gió nổi. Thì cũng có những cuộc hiển linh nhỏ nhẹ giản đơn, như cuộc hiển linh cho E-li-a trên núi Horeb : “Một trận cuồng phong thổi mạnh làm tung cả núi, làm tan tành đá tảng trước Gia-Vê. Nhưng Giavê không ơ trong cuồng phong. Và sau trận cuồng phong thì có động đất. Nhưng Gia-vê không có trong cơn động đất. Sau động đất là lửa. Nhưng Gia-vê không có trong lửa. Và sau đó là một tiếng thì thào êm nhẹ. Vừa nghe thấy tiếng, Ê-li-a lấy tấm khăn trùm mặt ra đứng nơi cửa động….và Gia-vê phán với ông ấy” (2 V 19,11-14). Đó chính là cung cách hiện diện của Thiên Chúa trong Thời Tân Ước, một sự hiện diện mà ngay giây phút bước vào đời Ngôi Hai đã cương quyết chọn lựa : không phải hiện diện oai nghiêm rườm rà của nnững cuộc tế lễ toàn thiêu, tạ tội nơi cung thánh, mà là hiện diện bằng chính một cuộc đời, một thân xác : “Cha đã làm cho con một thân xác, thì nầy con xin đến để thực thi ý Cha” (Bđ 2). Thân xác đó, cuộc đời đó đã chấp nhận hiện diện trong cung lòng của một thôn nữ, hiện diện trong một ngôi làng bé nhỏ Bê-lem, hiện diện trong thân phận của một em bé vô gia cư khi phải sinh ra trong hang súc vật, hiện diện trong thân phận của một chàng thợ mộc nghèo làng Na-da-rét, hiện diện trong giấc ngủ mê mệt trên chiếc thuyền đánh cá ở Ga-li-lê, hiện diện trong nổi khổ nhục đau thương trước tòa án Phi-la-tô, hiện diện trần trụi, máu me giữa hai tên trộm cướp…và ngày nay tiếp tục hiện diện trong tấm bánh đơn trên bàn thờ, trong nhà tạm, trong muôn cõi lòng khi chia sẻ chút máu thịt của Ngài.

Để được gọi là “ánh sáng muôn dân”, “men trong bột”, Hội Thánh hôm nay không còn lựa chọn nào khác ngoài con đường Thầy Chí Thánh đã đi. Con đường nối liên Máng Cỏ với Đồi Sọ, con đường hẹp của Nước Trời, con đường Tám Mối phúc thật. Đó cũng chính là con đường được Đức Maria can đảm bước lên khi dõng dạc thưa hai tiếng “Xin Vâng” với sứ thần Ga-bri-en để rồi sau đó lặn lội theo Con lên “đĩnh đồi thánh giá.”

Kết : Như vậy, sống sứ điệp Mùa Vọng hôm nay để chuẩn bị cho ngày Đại lễ sắp tới chính là sống “sự hiện diện đích thực của Thiên Chúa”, đón nhận sự hiện diện của Thiên Chúa vào tâm hồn và cuộc sống, và từ đó biểu lộ sự “có mặt của Thiên Chúa” nơi chính cuộc sống và cách ứng xử của đời mình như Đức Trinh Nữ Maria đã đón nhận, đã sống và chia sẻ sự hiện diện đó cho anh chị em mình; như Thánh Cả Giuse đã sống sự hiện đó khi âm thầm lao động trong xưởng thợ ở Na-da-rét để dùng mồ hôi đổi lấy bát cơm nuôi sông gia đình Thánh Gia. Đó chính là một cuộc sống thường xuyên trở lại với con đường Tám Mối phúc thật, là không ngừng biết quỳ xuống để rửa chân cho anh chị em, là nhẫn nại để “70 lần 7” khoan dung tha thứ, là mau mắn lên đường để “viếng thăm và chia sẻ niềm vui nỗi sầu cho những người chung quanh đang cần an ủi. Để sống được như thế chắc chắn chúng ta chỉ biết cầu nguyện, như lời cầu nguyện sau đây của Mẹ Tê-rê-xa Cal-cutta :

Lạy Chúa Giê-su của con,

xin hãy giúp con biểu lộ được

sự hiện diện của Chúa khắp nơi con đi qua.

Xin hãy xâm chiếm hồn con và cả đời con

bằng Tinh Thần của Chúa.

Hãy thẩm thấu vào toàn thân con

và chiêm hữu nó cho thật trọn vẹn

đến nổi cả cuộc đời con

chỉ còn là một sự toả sáng của Chúa.

Xuyên qua con xin hãy làm cho

Ánh sáng của Chúa được lan tỏa

và hãy hết sức ở trong con

đến nổi mọi người con gặp gỡ

đều có thể cảm thấy

sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn con.

Họ cứ ngước mắt lên đi

họ chẳng còn thấy con đâu,

mà thấy Chúa, chính Chúa, Chúa Giê-su của con….