CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG A
TIN TƯỞNG VÀO LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG
(Mt 1, 18-24)
Thưa quý vị,
Bài đọc thứ nhất tuần này xem ra gây xáo trộn trong cộng đoàn. Vì nếu chúng ta đứng vào địa vị người nghe từ các hàng ghế, chúng ta sẽ nhìn ra khó khăn. Bản văn ngắn ngủi, vào đề đột ngột và hình như lạc lõng. Thiên Chúa nói với ông Achaz: “Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi một dấu, dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh.” Achaz là ai vậy? Tại sao tiên tri Isaia xúi ông xin Đức Chúa một dấu lạ? Dấu lạ đó để xác nhận điều chi? Tại sao dấu lạ càng ngoạn mục càng tốt? Trên trời xanh hay dưới âm phủ! Chắc chắn giáo dân sẽ bắt chước ông Achaz trả lời: “Chúng tôi là ai mà dám thử thách Đức Chúa, chúng tôi phải sống bằng đức tin chứ. Trong Phúc âm Chúa Giêsu đã khiển trách Phariseô và Saduceô xin dấu lạ chứng minh Ngài là người của Thiên Chúa đó sao (Mt 16,1)? Cho nên bản văn cần vài lời dẫn nhập.
Achaz là vua nước Giuđa vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên. Lúc ấy Assyria làm bá chủ miền Trung Đông. Hai nước chư hầu Syria (Đa mát) và Israel (Samaria)) âm mưu nổi loạn chống lại Assyria. Họ muốn lôi kéo thêm đồng minh là nước Giuđa. Nhưng Achaz không đồng ý. Để trừng phạt vua Giuđa chẳng về phe với mình. Hai nước kéo quân sang vây Giêrusalem, thủ đô của Giuđa. Vua Achaz sợ hãi, một mặt cho củng cố hào lũy quanh Giêrusalem, mặt khác cứu viện vua Assyria. Giữa lúc ấy thì Đức Chúa truyền tiên tri Isaia đón gặp vua ở cuối kinh dẫn nước của hồ trên, phía đường tới cánh đồng Thợ Nện Rạ (Is 7,1). Đức Chúa can thiệp hai lần. Lần thứ nhất phán thế này: “Chuyện đó sẽ không xảy ra, sẽ không có... Sáu mươi năm nữa Đa-mát sẽ tan tành, không còn là một dân”. Lần thứ hai là bài đọc hôm nay.
Nhà tiên tri muốn vua Achaz tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa hơn là cầu cứu ngoại bang. Vua Achaz từ chối lời đề nghị của tiên tri Isaia, lấy cớ không dám thử thách Đức Chúa. Nhưng thực tế ông ngạo mạn không tin. Ông đã lập một bàn thờ ngẫu tượng ở Giêrusalem và tế lễ chính con trai mình (2V). Tuy nhiên vị tiên tri vẫn loan báo cho ông một dấu: “Này đây người trinh nữ sẽ mang thai, hạ sinh con trai và đặt tên là Emmanuel”, Lời sấm bảo đảm Đức Chúa luôn hiện diện giữa dân Ngài, không bao giờ bỏ rơi họ, mặc dù Achaz không tin. Ngài sẽ can thiệp để Giuđa được tự do, tự chủ, kiểu như Ngài từng làm để dân tộc thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập và cuộc lưu đầy Babylon. Trước thính giả đương thời, lời sấm không đi xa như chúng ta hiểu ngày nay. Nó chỉ nói về người vợ trẻ của Achaz đang mang thai tên là Abya và đứa con của nàng sau này sinh ra, tức Ezechias. Từ 'trinh nữ' (Alma) ở đây nói về tuổi trẻ của Abya và tên Emmanuel có nghĩa thuộc dòng dõi vua Đa-vít, vì Thiên Chúa đã hứa như vậy (Tv 88,5). Thế thì làm sao lời sấm là một dấu chỉ?
Trước hết Ezechias chưa sinh ra, nhưng tiên tri đã loan báo nó là một đứa con trai, tức là ở trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Ngài biết nó và dẫn dắt dòng lịch sử Do thái bằng những sự hạ sinh theo chương trình Ngài dự tính. Chính Thiên Chúa tiếp tục điều khiển các thế hệ loài người, kể cả dòng giống vương giả Đa-vit.
Thứ hai: Danh xưng Emmanuel có ý nghĩa biểu tượng: Thiên-Chúa-ở-cùng- chúng-ta tức dân tộc Do thái để giải cứu họ khỏi khó khăn hiện tại, khỏi yếu kém về tôn giáo và chính trị. Cũng như tên Giavê nghĩa là “ta đây” để hoạt động hữu hiệu giữa tuyển dân, thì danh xưng Emmanuel có nghĩa là Đức Chúa Trời ngự giữa họ bằng những can thiệp có hiệu quả theo quan phòng của Ngài. Mặc dù thực tế Ezechias không phải là ông vua thiên sai. Trách nhiệm thiên sai quá lớn, quá nặng nề đối với ông. Tuy ông không thể biểu tượng trọn vẹn ý nghĩa, thì ít ra ông ở trong dòng chảy lịch sử thiên sai. Ông là một nhân vật báo trước Đấng Cứu Thế. Cũng vậy bà Abya không phải là nữ đồng trinh sinh con, nhưng bà sinh Ezechias theo ý định của Đức Chúa Trời, nên bà là hình bóng rất bất toàn của trinh nữ Maria. Bản 70 đã theo truyền thống thiên sai mà dịch từ Alma (tuổi trẻ) tiếng Do thái cổ, thành Paethenos (trinh nữ) tiếng Hy lạp tân thời. Ngày nay chúng ta vẫn theo ý tưởng linh hứng đó mà hiểu về Đức Maria.
Dù rằng Isaia không có ý định tuyên sấm dấu chỉ của mình cho tương lai quá xa đến thời Chúa Giêsu, xa như vậy làm sao là dấu chỉ cho Achaz được? Nhưng các tín hữu tiên khởi đã nhìn ra sự ứng nghiệm của nó nơi Đấng Cứu Thế.
Trong Tin mừng hôm nay, thánh sử Matthêu đã ghi lại niềm tin đó và nhắc nhở chúng ta Đức Giêsu chính là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Ngài là bảo chứng bằng xác thịt, Thiên Chúa chẳng hề lãng quên nhân loại, Đức Chúa Trời hằng ở với chúng ta luôn mãi, quá khứ, hiện tại, tương lai và muôn đời. Phần chúng ta phải đặt tin tưởng căn bản nhất vào Chúa Giêsu. Đừng bắt chước Achaz giả hình đạo đức, không dám thử thách Đức Chúa, nhưng thực tế phản bội Ngài, đặt trông cậy vào ngoại bang, tiền bạc, chức quyền, danh vọng, địa vị, tâng bấc, tình cảm. Thiên Chúa phải là trung tâm điểm của cuộc sống mỗi người. Nhất là trong Mùa Vọng này chúng ta luôn được Hội thánh kêu gọi thống hối, bỏ đàng gian tà, cải thiện đời sống., lấy Chúa và thánh ý Ngài làm nguồn mạch hướng dẫn cuộc đời mình.
Thánh Matthêu khởi đầu và kết thúc Tin mừng của ông với cụm từ “Chúa-ở -cùng-chúng-ta”. (Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Một tư tưởng mang nhiều hy vọng và an ủi. Phúc âm hôm nay nhắc độc giả: Chúa Giêsu chính là Đấng làm tròn lời tiên tri Isaia và phụng vụ tuần IV Mùa Vọng chuyển chú ý tín hữu từ Gioan tiền hô sang sự kiện Đức Mẹ mang thai “bởi phép Chúa Thánh Thần”. Đây là sự chuyển hướng quan trọng. Đức Maria đã đính hôn với Giuse thuộc dòng tộc Đa-vít. Trong thời đó việc đính hôn này tương đương với chứng chỉ kết hôn, tuy là thời kỳ chuyển tiếp (thường là 1 năm). Đức Maria chưa về nhà thánh Giuse nhưng đã bắt đầu cuộc sống hôn nhân. Người Phương tây gọi là fiancée (đã đính hôn). Việc hôn nhân không cấm, nhưng bị coi là bất bình thường. Vì thế các cô gái bình thường vẫn còn đồng trinh. Trường hợp Đức Mẹ thì Ngài đã thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần. Đây quả là vấn đề khó khăn. Vì theo tục lệ, tiến trình từ hôn không dễ, nó tương đương với thủ tục ly dị. Tất cả gánh nặng đè lên vai thánh Giuse.
Trong Tin mừng hôm nay, tên Maria chỉ được nhắc thoáng qua, còn thánh Giuse giữ vai chính trong câu chuyện. Toàn thể 4 Tin mừng không nói gì nhiều về thánh nhân. Nhưng Phúc âm thánh Matthêu lại ghi rõ ràng gia phả của thánh Giuse, ngược lên đến tổ phụ Abraham, thông qua vua Đa-vít. Như vậy, việc thụ thai của Chúa Giêsu được xét theo quan điểm của thánh Giuse chứ không theo phía Đức Mẹ như thánh sử Luca. Điều này có dụng ý nêu rõ tính pháp lý của Chúa Giêsu thuộc dòng tộc Đa-vít. Nhưng vấn đề không phải dễ dàng như chúng ta suy nghĩ ngày nay. Ngược lại, rất khó khăn đối với các tín hữu tiên khởi.
Một mặt họ phải tin thật vào sự sinh nở đồng trinh nơi Đức Mẹ, nghĩa là Chúa Giêsu không có cha trần thế. Mặt khác, Ngài phải hoàn toàn là con “vua Đa-vít”, thì mới ứng nghiệm lời tiên tri của ngôn sứ Isaia và truyền thống thiên sai. Vấn đề xem ra bế tắc. Tuy nhiên, bằng cách đưa thánh Giuse vào trung tâm của việc sinh hạ Chúa Giêsu, cộng đồng thánh Matthêu đã cống hiến một giải pháp sáng suốt và hợp lý. Trước hết, việc thánh Giuse không tố cáo và từ bỏ Đức Maria, ngược lại, đã đưa vợ về nhà mình, chứng tỏ thánh nhân công khai chấp nhận chức vụ làm cha đứa trẻ, một cách chính thức theo luật pháp. Lúc ấy, Chúa Giêsu hoàn toàn thuộc dòng dõi Đa-vít trước mặt xã hội. Giấc mộng của thánh Giuse là hợp lý theo chương trình của Thiên Chúa và ngoài dự tính của hai người hứa hôn. Đúng là một mầu nhiệm, loài người không thể lường hết. Thứ hai, thánh Giuse với tư cách là người cha, đứng đầu trong gia đình, đặt tên cho con trẻ. Như vậy, Chúa Giêsu được quyền thừa hưởng gia sản của tổ tiên mình, kể cả tước hiệu Emmanuel. Ngài đúng thật là con vua Đa-vít, không thể phủ nhận. Thánh sử Luca cũng đi đến kết luận tương tự khi mô tả thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ ở Nazaret, và Đức Kitô hạ sinh tại Bêlem, quê hương của Đa-vít. Do đó, thánh Giuse là người cha trinh khiết của Đức Kitô như Đức Maria là người Mẹ đồng trinh. Cả hai chu toàn hoàn hảo mục tiêu Thiên Chúa trao cho. Yếu tố hôn nhân đồng trinh là điều căn bản Thiên Chúa quan phòng để hoàn tất chương trình của Đức Chúa Trời mà các nhà thần học gọi là nhiệm cục cứu độ.
Thiên Chúa thường vượt qua ý định của loài người để mang hạnh phúc đến cho nhân loại. Ngài vượt qua tiến trình bình thường của thánh Giuse và Đức Maria để đổ ân phúc tràn đầy cho loài người. Lúc đầu thánh Giuse không hề hiểu biết gì về điều đó. Ngài đã phải trải qua lo âu, thất vọng tột độ khi hay tin Đức Maria, người yêu của mình, đã mang thai. Thiên thần trong giấc mơ định mệnh của thánh nhân đã làm sáng tỏ mọi sự. Chúng ta cũng nên cầu xin cho mọi nguy nan của mình sớm được giải toả nhờ vào sự can thiệp của Thiên Chúa “Này con, đừng lo lắng chi, con nằm trong chương trình của Ta”. Chúng ta ước mong được nghe Thiên Chúa nói như vậy mỗi khi gặp lo âu, tăm tối. Trong cuộc sống con người chúng ta gặp đầy dẫy khó khăn. Có gia đình phải chăm nuôi hai ba đứa con tàn tật vì chất độc da cam, những đứa trẻ ngớ ngẩn, tính tình kỳ quặc, bất thường. Chăm sóc chúng còn khó khăn hơn các cha mẹ nuôi nấng những đứa con bình thường bội phần. Hoặc một vài người dự tính thay đổi nếp sống cho phù hợp với ý nguyện của mình, gạt sang một bên, nghề nghiệp, tương lai để dấn thân vào các chương trình từ thiện bác ái. Có những người vợ phải chịu đựng say sưa, khó nết của chồng con hoang đàng, bỏ học, đi bụi, xì ke, cờ bạc. Có những người cha đơn độc phải nuôi các con còn nhỏ dại. Một số gia đình đầu tắt mặt tối, ngày làm hai công việc thấp lương, để đủ tiền chi phí cho các con ăn học. Số người khác lại xung phong giúp đỡ kiều dân di cư, công nhân bất hợp pháp đang bị xua đuổi, chịu đựng những khinh bỉ, chê cười của hàng xóm láng giềng. Chúng ta chẳng có thiên thần chỉ bảo. Nhưng nhờ ánh sáng đức tin soi dẫn chúng ta lần mò từng bước khó khăn. Cuối cùng Thiên Chúa sẽ cứu vớt. Chúng ta không cô đơn trên cõi đời này. Mùa Vọng không chỉ là chu kỳ hàng năm, mà còn là bước tiến trong lòng thương xót của Thiên Chúa. Cuộc đời thánh Giuse là câu chuyện khích lệ mọi người tin tưởng vào lòng Chúa xót thương, dù có phải ngập chìm trong gian nan. Thiên Chúa vẫn ở bên chúng ta. Ngài không bỏ rơi một ai, nhưng cùng hoạt động với mọi người và niềm hy vọng lại được tăng cường.
Lạy Chúa, lúc này đang Mùa Vọng, xin ban cho chúng con lòng cậy trông nhìn qua những tối tăm của cuộc sống. Có những lúc chúng con rơi vào khủng hoảng tột độ như thánh Giuse, chẳng biết bám víu vào đâu. Xin cho chúng con đủ can đảm bước thêm một bước nữa trong lòng cậy trông, hy vọng tìm thấy bàn tay Chúa dẫn dắt. Xin cho thánh ý Chúa luôn vẹn toàn, ngay bây giờ, qua những cố gắng nhỏ bé của chúng con, mặc dù cuộc đời toàn tăm tối, lộn xộn, nguy nan. Xin cho chúng con theo gương thánh Giuse, bình thản, kiên cường, không nghi ngờ, phản bội bạn mình cho dù bị dồn vào đường cùng của lòng tín trung. Mọi sự xem ra tan nát, sụp đổ trước mặt thánh nhân. Nhưng cuối cùng Chúa kiến tạo mọi sự thật tốt đẹp cho Ngài và cho chúng con. Vì Chúa là Emmanuel. Amen
TIN TƯỞNG VÀO LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG
(Mt 1, 18-24)
Thưa quý vị,
Bài đọc thứ nhất tuần này xem ra gây xáo trộn trong cộng đoàn. Vì nếu chúng ta đứng vào địa vị người nghe từ các hàng ghế, chúng ta sẽ nhìn ra khó khăn. Bản văn ngắn ngủi, vào đề đột ngột và hình như lạc lõng. Thiên Chúa nói với ông Achaz: “Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi một dấu, dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh.” Achaz là ai vậy? Tại sao tiên tri Isaia xúi ông xin Đức Chúa một dấu lạ? Dấu lạ đó để xác nhận điều chi? Tại sao dấu lạ càng ngoạn mục càng tốt? Trên trời xanh hay dưới âm phủ! Chắc chắn giáo dân sẽ bắt chước ông Achaz trả lời: “Chúng tôi là ai mà dám thử thách Đức Chúa, chúng tôi phải sống bằng đức tin chứ. Trong Phúc âm Chúa Giêsu đã khiển trách Phariseô và Saduceô xin dấu lạ chứng minh Ngài là người của Thiên Chúa đó sao (Mt 16,1)? Cho nên bản văn cần vài lời dẫn nhập.
Achaz là vua nước Giuđa vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên. Lúc ấy Assyria làm bá chủ miền Trung Đông. Hai nước chư hầu Syria (Đa mát) và Israel (Samaria)) âm mưu nổi loạn chống lại Assyria. Họ muốn lôi kéo thêm đồng minh là nước Giuđa. Nhưng Achaz không đồng ý. Để trừng phạt vua Giuđa chẳng về phe với mình. Hai nước kéo quân sang vây Giêrusalem, thủ đô của Giuđa. Vua Achaz sợ hãi, một mặt cho củng cố hào lũy quanh Giêrusalem, mặt khác cứu viện vua Assyria. Giữa lúc ấy thì Đức Chúa truyền tiên tri Isaia đón gặp vua ở cuối kinh dẫn nước của hồ trên, phía đường tới cánh đồng Thợ Nện Rạ (Is 7,1). Đức Chúa can thiệp hai lần. Lần thứ nhất phán thế này: “Chuyện đó sẽ không xảy ra, sẽ không có... Sáu mươi năm nữa Đa-mát sẽ tan tành, không còn là một dân”. Lần thứ hai là bài đọc hôm nay.
Nhà tiên tri muốn vua Achaz tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa hơn là cầu cứu ngoại bang. Vua Achaz từ chối lời đề nghị của tiên tri Isaia, lấy cớ không dám thử thách Đức Chúa. Nhưng thực tế ông ngạo mạn không tin. Ông đã lập một bàn thờ ngẫu tượng ở Giêrusalem và tế lễ chính con trai mình (2V). Tuy nhiên vị tiên tri vẫn loan báo cho ông một dấu: “Này đây người trinh nữ sẽ mang thai, hạ sinh con trai và đặt tên là Emmanuel”, Lời sấm bảo đảm Đức Chúa luôn hiện diện giữa dân Ngài, không bao giờ bỏ rơi họ, mặc dù Achaz không tin. Ngài sẽ can thiệp để Giuđa được tự do, tự chủ, kiểu như Ngài từng làm để dân tộc thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập và cuộc lưu đầy Babylon. Trước thính giả đương thời, lời sấm không đi xa như chúng ta hiểu ngày nay. Nó chỉ nói về người vợ trẻ của Achaz đang mang thai tên là Abya và đứa con của nàng sau này sinh ra, tức Ezechias. Từ 'trinh nữ' (Alma) ở đây nói về tuổi trẻ của Abya và tên Emmanuel có nghĩa thuộc dòng dõi vua Đa-vít, vì Thiên Chúa đã hứa như vậy (Tv 88,5). Thế thì làm sao lời sấm là một dấu chỉ?
Trước hết Ezechias chưa sinh ra, nhưng tiên tri đã loan báo nó là một đứa con trai, tức là ở trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Ngài biết nó và dẫn dắt dòng lịch sử Do thái bằng những sự hạ sinh theo chương trình Ngài dự tính. Chính Thiên Chúa tiếp tục điều khiển các thế hệ loài người, kể cả dòng giống vương giả Đa-vit.
Thứ hai: Danh xưng Emmanuel có ý nghĩa biểu tượng: Thiên-Chúa-ở-cùng- chúng-ta tức dân tộc Do thái để giải cứu họ khỏi khó khăn hiện tại, khỏi yếu kém về tôn giáo và chính trị. Cũng như tên Giavê nghĩa là “ta đây” để hoạt động hữu hiệu giữa tuyển dân, thì danh xưng Emmanuel có nghĩa là Đức Chúa Trời ngự giữa họ bằng những can thiệp có hiệu quả theo quan phòng của Ngài. Mặc dù thực tế Ezechias không phải là ông vua thiên sai. Trách nhiệm thiên sai quá lớn, quá nặng nề đối với ông. Tuy ông không thể biểu tượng trọn vẹn ý nghĩa, thì ít ra ông ở trong dòng chảy lịch sử thiên sai. Ông là một nhân vật báo trước Đấng Cứu Thế. Cũng vậy bà Abya không phải là nữ đồng trinh sinh con, nhưng bà sinh Ezechias theo ý định của Đức Chúa Trời, nên bà là hình bóng rất bất toàn của trinh nữ Maria. Bản 70 đã theo truyền thống thiên sai mà dịch từ Alma (tuổi trẻ) tiếng Do thái cổ, thành Paethenos (trinh nữ) tiếng Hy lạp tân thời. Ngày nay chúng ta vẫn theo ý tưởng linh hứng đó mà hiểu về Đức Maria.
Dù rằng Isaia không có ý định tuyên sấm dấu chỉ của mình cho tương lai quá xa đến thời Chúa Giêsu, xa như vậy làm sao là dấu chỉ cho Achaz được? Nhưng các tín hữu tiên khởi đã nhìn ra sự ứng nghiệm của nó nơi Đấng Cứu Thế.
Trong Tin mừng hôm nay, thánh sử Matthêu đã ghi lại niềm tin đó và nhắc nhở chúng ta Đức Giêsu chính là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Ngài là bảo chứng bằng xác thịt, Thiên Chúa chẳng hề lãng quên nhân loại, Đức Chúa Trời hằng ở với chúng ta luôn mãi, quá khứ, hiện tại, tương lai và muôn đời. Phần chúng ta phải đặt tin tưởng căn bản nhất vào Chúa Giêsu. Đừng bắt chước Achaz giả hình đạo đức, không dám thử thách Đức Chúa, nhưng thực tế phản bội Ngài, đặt trông cậy vào ngoại bang, tiền bạc, chức quyền, danh vọng, địa vị, tâng bấc, tình cảm. Thiên Chúa phải là trung tâm điểm của cuộc sống mỗi người. Nhất là trong Mùa Vọng này chúng ta luôn được Hội thánh kêu gọi thống hối, bỏ đàng gian tà, cải thiện đời sống., lấy Chúa và thánh ý Ngài làm nguồn mạch hướng dẫn cuộc đời mình.
Thánh Matthêu khởi đầu và kết thúc Tin mừng của ông với cụm từ “Chúa-ở -cùng-chúng-ta”. (Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Một tư tưởng mang nhiều hy vọng và an ủi. Phúc âm hôm nay nhắc độc giả: Chúa Giêsu chính là Đấng làm tròn lời tiên tri Isaia và phụng vụ tuần IV Mùa Vọng chuyển chú ý tín hữu từ Gioan tiền hô sang sự kiện Đức Mẹ mang thai “bởi phép Chúa Thánh Thần”. Đây là sự chuyển hướng quan trọng. Đức Maria đã đính hôn với Giuse thuộc dòng tộc Đa-vít. Trong thời đó việc đính hôn này tương đương với chứng chỉ kết hôn, tuy là thời kỳ chuyển tiếp (thường là 1 năm). Đức Maria chưa về nhà thánh Giuse nhưng đã bắt đầu cuộc sống hôn nhân. Người Phương tây gọi là fiancée (đã đính hôn). Việc hôn nhân không cấm, nhưng bị coi là bất bình thường. Vì thế các cô gái bình thường vẫn còn đồng trinh. Trường hợp Đức Mẹ thì Ngài đã thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần. Đây quả là vấn đề khó khăn. Vì theo tục lệ, tiến trình từ hôn không dễ, nó tương đương với thủ tục ly dị. Tất cả gánh nặng đè lên vai thánh Giuse.
Trong Tin mừng hôm nay, tên Maria chỉ được nhắc thoáng qua, còn thánh Giuse giữ vai chính trong câu chuyện. Toàn thể 4 Tin mừng không nói gì nhiều về thánh nhân. Nhưng Phúc âm thánh Matthêu lại ghi rõ ràng gia phả của thánh Giuse, ngược lên đến tổ phụ Abraham, thông qua vua Đa-vít. Như vậy, việc thụ thai của Chúa Giêsu được xét theo quan điểm của thánh Giuse chứ không theo phía Đức Mẹ như thánh sử Luca. Điều này có dụng ý nêu rõ tính pháp lý của Chúa Giêsu thuộc dòng tộc Đa-vít. Nhưng vấn đề không phải dễ dàng như chúng ta suy nghĩ ngày nay. Ngược lại, rất khó khăn đối với các tín hữu tiên khởi.
Một mặt họ phải tin thật vào sự sinh nở đồng trinh nơi Đức Mẹ, nghĩa là Chúa Giêsu không có cha trần thế. Mặt khác, Ngài phải hoàn toàn là con “vua Đa-vít”, thì mới ứng nghiệm lời tiên tri của ngôn sứ Isaia và truyền thống thiên sai. Vấn đề xem ra bế tắc. Tuy nhiên, bằng cách đưa thánh Giuse vào trung tâm của việc sinh hạ Chúa Giêsu, cộng đồng thánh Matthêu đã cống hiến một giải pháp sáng suốt và hợp lý. Trước hết, việc thánh Giuse không tố cáo và từ bỏ Đức Maria, ngược lại, đã đưa vợ về nhà mình, chứng tỏ thánh nhân công khai chấp nhận chức vụ làm cha đứa trẻ, một cách chính thức theo luật pháp. Lúc ấy, Chúa Giêsu hoàn toàn thuộc dòng dõi Đa-vít trước mặt xã hội. Giấc mộng của thánh Giuse là hợp lý theo chương trình của Thiên Chúa và ngoài dự tính của hai người hứa hôn. Đúng là một mầu nhiệm, loài người không thể lường hết. Thứ hai, thánh Giuse với tư cách là người cha, đứng đầu trong gia đình, đặt tên cho con trẻ. Như vậy, Chúa Giêsu được quyền thừa hưởng gia sản của tổ tiên mình, kể cả tước hiệu Emmanuel. Ngài đúng thật là con vua Đa-vít, không thể phủ nhận. Thánh sử Luca cũng đi đến kết luận tương tự khi mô tả thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ ở Nazaret, và Đức Kitô hạ sinh tại Bêlem, quê hương của Đa-vít. Do đó, thánh Giuse là người cha trinh khiết của Đức Kitô như Đức Maria là người Mẹ đồng trinh. Cả hai chu toàn hoàn hảo mục tiêu Thiên Chúa trao cho. Yếu tố hôn nhân đồng trinh là điều căn bản Thiên Chúa quan phòng để hoàn tất chương trình của Đức Chúa Trời mà các nhà thần học gọi là nhiệm cục cứu độ.
Thiên Chúa thường vượt qua ý định của loài người để mang hạnh phúc đến cho nhân loại. Ngài vượt qua tiến trình bình thường của thánh Giuse và Đức Maria để đổ ân phúc tràn đầy cho loài người. Lúc đầu thánh Giuse không hề hiểu biết gì về điều đó. Ngài đã phải trải qua lo âu, thất vọng tột độ khi hay tin Đức Maria, người yêu của mình, đã mang thai. Thiên thần trong giấc mơ định mệnh của thánh nhân đã làm sáng tỏ mọi sự. Chúng ta cũng nên cầu xin cho mọi nguy nan của mình sớm được giải toả nhờ vào sự can thiệp của Thiên Chúa “Này con, đừng lo lắng chi, con nằm trong chương trình của Ta”. Chúng ta ước mong được nghe Thiên Chúa nói như vậy mỗi khi gặp lo âu, tăm tối. Trong cuộc sống con người chúng ta gặp đầy dẫy khó khăn. Có gia đình phải chăm nuôi hai ba đứa con tàn tật vì chất độc da cam, những đứa trẻ ngớ ngẩn, tính tình kỳ quặc, bất thường. Chăm sóc chúng còn khó khăn hơn các cha mẹ nuôi nấng những đứa con bình thường bội phần. Hoặc một vài người dự tính thay đổi nếp sống cho phù hợp với ý nguyện của mình, gạt sang một bên, nghề nghiệp, tương lai để dấn thân vào các chương trình từ thiện bác ái. Có những người vợ phải chịu đựng say sưa, khó nết của chồng con hoang đàng, bỏ học, đi bụi, xì ke, cờ bạc. Có những người cha đơn độc phải nuôi các con còn nhỏ dại. Một số gia đình đầu tắt mặt tối, ngày làm hai công việc thấp lương, để đủ tiền chi phí cho các con ăn học. Số người khác lại xung phong giúp đỡ kiều dân di cư, công nhân bất hợp pháp đang bị xua đuổi, chịu đựng những khinh bỉ, chê cười của hàng xóm láng giềng. Chúng ta chẳng có thiên thần chỉ bảo. Nhưng nhờ ánh sáng đức tin soi dẫn chúng ta lần mò từng bước khó khăn. Cuối cùng Thiên Chúa sẽ cứu vớt. Chúng ta không cô đơn trên cõi đời này. Mùa Vọng không chỉ là chu kỳ hàng năm, mà còn là bước tiến trong lòng thương xót của Thiên Chúa. Cuộc đời thánh Giuse là câu chuyện khích lệ mọi người tin tưởng vào lòng Chúa xót thương, dù có phải ngập chìm trong gian nan. Thiên Chúa vẫn ở bên chúng ta. Ngài không bỏ rơi một ai, nhưng cùng hoạt động với mọi người và niềm hy vọng lại được tăng cường.
Lạy Chúa, lúc này đang Mùa Vọng, xin ban cho chúng con lòng cậy trông nhìn qua những tối tăm của cuộc sống. Có những lúc chúng con rơi vào khủng hoảng tột độ như thánh Giuse, chẳng biết bám víu vào đâu. Xin cho chúng con đủ can đảm bước thêm một bước nữa trong lòng cậy trông, hy vọng tìm thấy bàn tay Chúa dẫn dắt. Xin cho thánh ý Chúa luôn vẹn toàn, ngay bây giờ, qua những cố gắng nhỏ bé của chúng con, mặc dù cuộc đời toàn tăm tối, lộn xộn, nguy nan. Xin cho chúng con theo gương thánh Giuse, bình thản, kiên cường, không nghi ngờ, phản bội bạn mình cho dù bị dồn vào đường cùng của lòng tín trung. Mọi sự xem ra tan nát, sụp đổ trước mặt thánh nhân. Nhưng cuối cùng Chúa kiến tạo mọi sự thật tốt đẹp cho Ngài và cho chúng con. Vì Chúa là Emmanuel. Amen
- ĐIỀU TỐT NHẤT ĐANG ĐẾN :
Trước khi chết, bà cụ cố gắng trối lại cho con cháu: Khi bà tắt thở, các con phải cho bà cầm chiếc nỉa (dĩa) bằng nhựa, rồi mới bỏ bà vào quan tài. Con cháu làm đúng như ý nguyện của bà. Những người đến viếng xác đều lấy làm lạ. Tại sao bà lại cầm chiếc nỉa? Người nhà giải thích: Thưa, đó là ý muốn của cụ chúng tôi. Chẳng là trước kia, khi còn sinh thời, cụ luôn phục vụ bữa ăn từ thiện trong nhà xứ. Mỗi tuần một lần, hơn 50 năm. Khi thực khách ăn xong món chính, cụ luôn xuất hiện, bảo mọi người sẵn sàng nỉa trên tay: Món ngon nhất sắp tới (the best is yet to come). Đúng vậy, đó là món tráng miệng do chính tay cụ làm. Mọi thực khách đều trầm trồ khen ngợi. Cụ rất hãnh diện mỗi khi phục vụ mọi người. Bây giờ qua đời, cụ muốn chuyển đổi ý nghĩa của thông điệp việc cụ làm: Cụ nhắc nhớ mọi người: Điều tốt nhất đang chờ đón chúng ta trên thiên đàng. (Pathways of trust, truyện số 50). Đêm Giáng sinh sắp tới, Thiên Chúa cũng nói với các tín hữu như vậy: “the best is yet to come”. Chúng ta hãy dọn lòng sẵn sàng chờ đón Chúa bằng hy sinh, hãm mình và cầu nguyện.