CHÚA HÀI ÐỒNG ÐẾN VỚI TRẺ EM

Mầu nhiệm Giáng Sinh bắt nguồn từ Máng Cỏ Hang Đá Be Lem. Nơi Chúa Hài Đồng sinh ra. Chính Trẻ Giêsu là người loan báo Ơn Cứu Chuộc. Mà người đầu tiên đón nhận Tin Mừng và lãnh ơn Cứu Độ chính là trẻ em. Tiếng hát đón chào tung hô ‘‘Vinh danh Thiên Chúa trên trới, bình an dưới thế cho người thiện tâm’’ vang lên trong cảnh nghèo nàn đơn sơ của đêm đông, mở đầu nguồn vui cho nhân loại.

Chúa Hài Đồng đến với trẻ em

Trước hết Đức Mẹ đi thăm bà Elisabeth. Cuộc thăm viếng này là niềm vui hai bà mẹ và hai bào thai. Bào Thai Trẻ Giêsu và Gioan Tiền Hô (x. Lc 1, 39-56).

Tin Chúa Hài Đồng sinh ra, trước tiên được loan báo cho trẻ em mục đồng. Những trẻ em chăn chiên đơn sơ nơi đồng hoang vắng này vui mừng vì thấy Chúa Cứu Thế. Họ hớn hở đến và tình nguyện ở lại sưởi ấm cho Trẻ Giêsu (x. Lc 2, 1-20). Nhiều trẻ em cùng tuổi với Chúa Hài Đồng bị vua Herode giết oan (Mt 2, 16).

Trẻ Giêsu gương mẫu

Trẻ Giêsu lớn lên càng khôn ngoan và thánh thiện. Sống qua thời gian trẻ nhỏ, trong gia đình, tuân theo luật như bao trẻ em của các gia đình khác, như phải khai sinh, bị cắt bì (Lc 2, 21), dâng hiến trong đền thờ (Lc 2, 22-24). Cả gia đình trốn qua Ai Cập, vất vả nhiều ngày tháng (Mt 2,14). Trẻ Giêsu sống ẩn dật tại Nazareth (x. Lc 2, 39-40; 51-52). Năm Chúa lên 12 tuổi, gia đình đi dự lễ Vượt Qua như bao gia đình. Cậu bé Giêsu say mê ngồi nghe, đặt câu hỏi với các thầy thông thái, ngồi giữa hội đường Do Thái. Sau ba ngày bị lạc, cha mẹ mớI tìm thấy con (x. Lc 2, 41-50)

Chúa quí mến và muốn mọi người sống như trẻ em

Khi đi rao giảng, Chúa thích trẻ em lắm. Trẻ em là đề tài hấp dẫn để Chúa cắt nghĩa Giáo lý và về cứu cánh hạnh phúc của con người. Có lần, các môn đệ sua đuổi trẻ em khi người ta dẫn chúng đến với Chúa Giêsu. Chúa nói ‘‘Cứ để trẻ em đến với Ta. Vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng’’. Rồi Chúa đặt tay và chúc lành cho các em (x. Mt 19, 13-15).

Lần khác, các môn đệ thắc mắc về chỗ cao thấp trên Nước Trời, Chúa đặt trẻ em giữa các Ông mà nói : Thầy bảo thật. Nếu anh em không quay trở lại mà nên như trẻ em, thì chằng được vào Nước Trời’’. Chúa bênh vực trẻ em, và trách mắng, thậm chí lên tiếng kết án những ai làm gương xấu cho trẻ em. Nhất là đừng coi thường trẻ em’’ (x. Mt 18, 1-10, Lc 18, 15-17).

Sau khi biết Chúa chữa nhiều người khỏi bệnh, trẻ em vui vẻ hò hét ‘‘hoan hô con vua Đavít’’, các kinh sư tỏ vẻ khó chịu, Chúa nói cứ để trẻ em cất tiếng ngượi khen’’ (x. Mt 21,12-16).

Tuần lễ Lá, bao nhiêu trẻ em Do Thái đón Chúa. Nhìn thấy chúng, Chúa như quên đi những ngày tử nạn và gian nan sắp tới. Chúa đánh giá cao tinh thần của trẻ em. Khi nhận 2 con cá và 5 cái bánh từ các em đem đến. Nhờ các em mà đám đông được ăn no nê (x. Mc 6,35-44). Chúa thương trẻ em chết sớm, để lại đau thương cho gia đình và người thân quen. Nên Chúa chữa bé gái con thủ lãnh (Mt, 9, 23-24). Chúa chữa con gái bà góa (Mt 15,21-28)

Nhiều người có tâm hồn trẻ thơ

Nhiều Vị Thánh đã đáp lại lời mời gọi của Chúa, sống đơn sơ, không những yêu trẻ thơ, mà còn dẫn trẻ em về với Chúa. Chính bản thân các Ngài nêu gương đạo đức cho các em và đã có đệ tử thánh thiện. Dưới đây là một hai Vị.

Thánh Don Bosco (1815-1885) sinh ra trong gia đình nông dân ờ Murialdo, gần Turin, Ý. Từ nhỏ vừa phụ cha mẹ công việc đồng áng vửa học thêm. Sau khi thụ phong linh mục (1841), Cha hiến thân phục vụ trẻ em ở xóm nghèo. Trường học lưu xá đầu tiên Cha mở ở Turin, thâu nhận trẻ em cho học nghề. Sau này Cha mới mở them cô nhi viên.

Năm 1859, Cha lập Dòng Phançois Salésien, tức dòng Nam Salésien. Và Năm 1872, cùng với bà Marie Dominique Mazzarello lập dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, quen gọi Dòng Nữ Salésienne. Năm1958, ĐGH Pio XII đặt Ngài làm quan thầy những người học nghề. (Điển Ngữ Các Thánh, tr; 107)

Bà Margaret Occhienna là mẹ Thánh Don Bosco đã là người tích cực giúp con mình đào tạo thế hệ trẻ. Bà thành hôn với Francis Louis Bosco năm 1815, và có 3 con trai. Jean Bosco mồ côi cha từ 2 tuổi. Jean chỉ còn nhớ ngày đó mẹ đã nói : Con không còn cha nữa, Jean à. Thế là mẹ khóc và Jean khóc theo. Bà ở vậy nuôi ba đứa con và bà mẹ chồng tật nguyền. Bà không biết đọc biết viết. Nhưng đã dạy con nhiều về Kinh Thánh. Tối tối, bà hay dẫn con ra nhìn trời và nói : Các con hãy nhìn sao trên trời tuyệt đẹp. Chính Thiên Chúa đã tạo dựng nên. Nếu các vì sao đẹp như thế thì Thiên Chúa còn tuyệt vời biết bao.

Tuy nghèo, nhưng trong nhà bà vẫn dành một phòng cho người nghèo khi cần trú ngụ. Khi Jean từ giã mẹ đi tu, bà đã nói với con : Thấy con mặc tu phục, mẹ tràn đầy niềm vui. Nhưng con hãy nhớ : thà con làm một người nghèo còn hơn làm một linh mục bê bối. Khi thánh nhân thụ phong linh mục, bà nhắc con : Từ bây giờ, chỉ có một điều đáng quan tâm là cứu rỗi các linh hồn. Về mẹ, con đừng bận tâm lo lắng chi cả. Trên ngôi mộ của bà Margaret có ghi câu : Don Bosco đã bước đi trên con đường thánh thiện từ lúc còn ngồi trên đầu gối mẹ. Bà là vị giáo dục thánh thiện của con yêu quí mình và là người cộng tác đầu tiên đích thực nhất của ‘‘người cha của hàng vạn trẻ thơ’’. (GXVN. số 44. 5-1988, tr. 26)

Được biết, về cuối đời, thân mẫu Thánh Don Bosco là người đã sống bên cạnh con, như quản gia, lo cơm nước cho trẻ em mồ côi trong trường học mà thánh nhân đào tạo, giáo dục. Quanh năm, người ta chỉ thấy bà cụ mặc chiếc áo ngoài cũ rích, bạc phếch, đã phai mầu không còn biết mầu nguyên thủy gì. Thấy vậy, Thánh Don Bosco hỏi mẹ giá chiếc áo mới bao nhiêu, định đưa cho mẹ để mua áo khác. Bà nói khoảng 20 đồng. Cha liền trao cho mẹ 20 đồng. Vài tuần sau, cha hỏi mẹ sao chưa mua áo. Bà cười nhìn con. Rồi Don Bosco lại đặt vào tay mẹ 20 đồng khác, và xin mẹ mua áo mới. Một tháng sau, vẫn thấy bà chưa có áo mới, bèn hỏi mẹ. Bà già vẫn cười, không nói gì. Cha lại bỏ vào túi áo bà 20 đồng nữa. Tất cả 60 đồng.

Bà vẫn không chịu mua áo để mặc. Bà đã bỏ số tiền này vào để nuôi trẻ mồ côi. Một ngày phí tổn cả 100 đồng. Cha không có của gì riêng, toàn là do người ta cho tặng mỗi ngày. Bà già thấy thiếu trước, hụt sau, nên không nỡ mặc đồ mới, miễn lành sạch là được, dùng tiền của con cho, để phụ vào cơm nước cho trẻ nghèo, thất học. Don Bosco thấy mẹ tần tiện ăn mặc, mà thương. (NKĐP. số 447, 30-8-1917, tr. 538)

Thánh trẻ Dominique Xavio (1842-1857), là học trò của Thánh Don Bosco, qua đời năm 15 tuổi. Và được ĐGH Pio XII phong thánh năm 1954. Đường thánh thiện của vị thánh trẻ này không xa lạ : vui vẻ hòa nhã và giúp đỡ mọi người, trong lớp chăm chỉ học hành, về nhà vâng lời cha mẹ giúp việc nhà và chuyên tâm cầu nguyện. Quyết tâm trở nên người lương thiện. Tất cả làm việc, học hành, cầu nguyện trong tình yêu Thiên Chúa. Savio coi‘‘mình như tấm vải mới, mà Thiên Chúa là thợ may’’. Như thế đủ nên thánh. (Le Livre des Merveilles, Mame Plon, tr. 890)

Chị Marthe Robin (1902-1981). Từ 9 tuổi, Marthe say mê Thánh Thể như Thánh Têrêsa. Marthe thường theo các chị đi nhà thờ. Và thích ngồi trong góc kẹt nhà thờ cầu kinh một mình. Lời kinh của Robin đơn sơ, nhiệt tình : Xin cho con dễ dạy và ngoan như Thiên Thần. Xin Chúa Thánh Thể cắt nghĩa cho con hiểu biết về Chúa Kitô theo tuổi của con. Cho con ham học hỏi và thực hành Lời Chúa.

Lúc đầu, trước khi lập các trung tâm Bác Ái, Chị đã tập trung trẻ em lại chăm sóc và giáo dục. Những ngày nằm trong phòng, nghe trẻ em nô đùa bên ngoài. Chị miên man nghĩ đến ‘‘trẻ em là vườn xuân là hạnh phúc của gia đình’’. Khách đến thăm Chị đông nhất là trẻ em. Chị thường nói : Trẻ em được rửa tội là những trẻ gần Chúa nhất. Chúng là kho tàng của Chúa. Phải chứng tỏ cho chúng biết, chúng được Thiên Chúa yêu thương. Lời cầu nguyện của trẻ em có sức mạnh phi thường và liên kết mọi người đến với Chúa.

Năm 1934, Cha Finet và một số giáo dân mở lớp học đầu tiên, được có 7 em. Sau tăng lên 18, rồi được 60. Đa số các em là nạn nhân tệ nạn xã hội, bị bỏ rơi. Về sau, từ ngôi trường nhỏ bé này, lập thêm một trường riêng cho nữ sinh, một trường cho nam sinh. Rồi mở thêm trường chuyên về nông nghiệp tại Mandailles. Số học sinh lên cả ngàn, từ vùng lân cận. Từ những trường trẻ em này, chị Marthe khuyến khích và đề nghị cha mở thêm các trung tâm khác cho những người muốn đến tĩnh tâm, cho các cô gái giang hồ giải nghệ. Năm 1936, một trung tâm đầu tiên cho người lớn được thành lập. Lúc đầu tên của trung tâm gọi là trung tâm Ánh Sáng (foyer de Lumière) hay Trung tâm Bác Ái và Tình Thương (foyer de Charité et d’Amour). Và tên trung tâm Bác Ái được giữ cho tới ngày nay.

Từ 1930, Chị được diễm phúc Chúa cho in Năm Dấu Thánh. Kéo dài trong suốt 51 năm (1930-1981), Chị không ăn uống, chỉ chịu Mình Thánh Chúa, mà vẫn sống. Hồ sơ phong thánh đã đệ trình Bộ Phong Thánh (1996)

Còn nhiều vị Thánh Trẻ, như Phanxicô và Giacinta Fatima, Marie Goretti... là những người có quá khứ đẹp của tuổi thơ và đã nên thánh. Các Ngài đều là những tấm gương sáng chói cho tuổi trẻ và cả phụ huynh, cố gắng vươn lên để lãnh phần thưởng Nước Trời.(Giaoxuvnparis.org)