CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG A
TIN VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐẤNG CỨU THẾ
(Mt 11, 2-11)
Thưa quí vị,
Chúa nhật 3 Mùa Vọng được gọi là Chúa Nhật mầu hồng hay Chúa nhật “mừng vui lên”. Vấn đề liên hệ là hiện tại và tương lai. Trong hiện tại, khi phải chịu đau khổ để sống hoặc để vượt qua khó khăn, thì người ta nhìn vào tương lai, với hy vọng sẽ có ngày chấm dứt. Không hy vọng, tinh thần chúng ta héo khô và giơ cả hai tay lên cao than trời hoặc đầu hàng số phận mà nguyền rủa mình chết đi cho sớm. Jean de la Fontaine đã cụ thể hoá tình trạng này trong bài thơ người lượm củi: “Lão tiều nhặt củi cành một bó, củi đã nhiều niên tuế lại cao... Hỡi ông thần chết đâu nào? Bắt tôi đi, khỏi lao đao chốn này...”
Hôm nay, chúng ta cũng được nghe tiếng kêu than thảm sầu trong bài đọc 1, trích sách tiên tri Isaia. Số phận dân tộc Do thái chịu cảnh lầm than nô lệ Babylone. Nhưng tiên tri cũng nhìn vào tương lai mà hy vọng. Con đường từ Assyria về Palestine qua sa mạc nóng cháy, người bình thường phải cực nhọc lắm mới vượt được. Nhưng tiên tri đã trông thấy ngày trở về đầy hoan hỷ, nên hạ bút: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông. Hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ và hân hoan múa nhảy reo hò”. Ngay cả thiên nhiên cũng được vui lây: “Sa mạc được tặng ban ánh huy hoàng của núi Li-băng, vẻ huy hoàng của núi Các -men và đồng bằng Saron.” Sự thực không phải như vậy, dân tộc đang chịu cảnh lưu đầy, tối tăm, không tương lai, không lối thoát. Họ không có khả năng tự cứu, mọi sự trông chờ vào bàn tay Thiên Chúa. Ngài trung tín với Giao ước đã ký kết cùng các tổ phụ nhất định sẽ can thiệp và họ sẽ được giải cứu. Đó là lời hứa của Isaia. Một Tin Mừng cho tương lai, chứ không phải lúc này. Những hình ảnh lạc quan vị tiên tri nêu trên, tượng trưng cho việc Thiên Chúa thay đổi hoàn cảnh và dân tộc sẽ bật lên tiếng reo hò.
Xét theo tình thế hiện thời, thì lời hứa xem ra xa vời, không thực hiện được. Và nếu có đi nữa thì cuộc trở về rất khó khăn, phải băng qua sa mạc khô cằn với bao nhiêu hiểm nguy trước mắt. Đói khát, bệnh tật và chết chóc là không thể tránh khỏi. Nó sẽ là cuộc xuất hành đầy gian khổ giống như cuộc xuất hành Ai Cập. Cuộc hành trình qua hoang địa với những kẻ thù hung hãn, thiên nhiên nghiệt ngã. Tuyển dân không có hy vọng sống sót. Nhưng qua miệng tiên tri, Thiên Chúa hứa hoang địa sẽ nở hoa cho họ. Đúng là điều kỳ diệu, gần như nói ngoa. Tuy nhiên, nói ngoa không phải là phong cách của Thượng đế, cho nên lời sấm hoàn toàn là sự thật. Nó sẽ được ứng nghiệm khi đến thời gian viên mãn. Vị tiên tri yên ủi và khích lệ tuyển dân đang nhát đảm hãy đặt hy vọng vào Thiên Chúa tín trung. Thực tế, ông khuyên bảo họ trông chờ Chúa đến: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi, sắp đến ngày báo phúc, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em”.
Khi việc đó xảy ra, cả vũ trụ sẽ được biến đổi nhờ ân huệ của tuyển dân. Bởi lẽ mọi tạo vật đều do bàn tay Thiên Chúa sáng tạo. Chúng sẽ được chia sẻ hành động giải phóng của Ngài. Do tội lỗi nhân loại, hiện thời chúng đang rên xiết, quằn quại. Tội tham lam, bất cẩn, khai thác vô độ đang phá hoại thiên nhiên, làm môi trường trái đất tan hoang, không thích hợp cho sự sống nữa. Cho nên chúng ta chiêm ngắm cuộc xuất hành tưởng tượng của Isaia như điều nhắc nhớ: Thiên Chúa có ý định giải phóng loài người và vạn vật khỏi áp bức của sự dữ. Nếu lúc này thiên nhiên chịu đựng sự huỷ hoại và khai thác bừa bãi do lòng tham của con người, thì lời hứa của vị ngôn sứ cũng có hiệu quả trên vũ trụ. Như thế cả hai, thiên nhiên và con người, đều được hưởng lợi ích từ việc Chúa ngự đến. Mùa Vọng chính là mùa chúng ta chờ đợi hạnh phúc đến. Chúng ta phải tỉnh thức suy tư về những hồng ân ấy. Ăn ở tiết kiệm, khai thác chừng mực tài nguyên của trái đất, bảo vệ môi trường sống là cách thức tốt nhất chúng ta trông đợi Chúa. Thiên nhiên được phục hồi, môi trường được an toàn sẽ góp phần lớn lao vào tinh thần hoan hỷ khi Chúa đến: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy. Vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông”. Viễn cảnh này sẽ chẳng thể có, nếu loài người cứ tiếp tục tàn phá thiên nhiên, phí phạm tài nguyên và nhất là vẫn xa rời Thiên Chúa. Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu lời sấm trên về sự thay đổi thiêng liêng trong các linh hồn. Hoang địa trổ bông, người đau ốm được chữa lành, và một số hình ảnh khác vị tiên tri liệt kê (người mù xem thấy, kẻ điếc nghe được, kẻ què được đi, người câm nói được...) mô tả sự thay đổi nội tâm mà Thiên Chúa thực hiên nơi nhân loại, kể cả dân tộc Israel. Chúa Giêsu đã áp dụng lời sấm vào chính sứ vụ của mình và khẳng định hy vọng của chúng ta được nên trọn nơi bản thân Ngài. Ngài nói với môn đệ ông Gioan: “Hãy về nói với ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe...” các dấu Ngài đã làm, đúng như Isaia mơ thấy hàng sáu thế kỷ trước. Như vậy, sự giải phóng không những về vật chất mà cả về chính trị, kinh tế, thiêng liêng nữa. Hãy rao giảng tin mừng cho họ, và trong Chúa Giêsu, tương lai Isaia hy vọng đã trở thành hiện thực rõ ràng.
Tuy nhiên, xin đừng vội nhận định mọi sự đã hoàn thành. Thiên Chúa còn phải thu xếp mọi loài mọi vật vào thứ tự khuôn phép như Ngài đã định. Tội lỗi vẫn hoành hành, làm hư hỏng công trình của Ngài ngay từ đầu tạo dựng. Hiện thời thế giới vẫn là một khối bòng bong, lùng nhùng đam mê, nết xấu. Giấc mơ của Isaia vẫn cần được triển khai. Điều này phải có sự cộng tác của các tín hữu. Tin Mừng hôm nay kể: Chúa Giêsu nói với môn sinh ông Gioan: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe”. Hiện thời ông Gioan đang ở trong tù, chẳng thể tự thân mục kích những việc Chúa làm giữa dân chúng. Ông chỉ có thể nghe nói mà thôi. Thời ấy, ở xứ Palestine, tù nhân không hoàn toàn cách ly khỏi thế giới bên ngoài. Như vậy, “Lời” phải được gởi vào tù cho Gioan. Chắc chắn ông chẳng bao giờ được thả ra còn sống như dân Israel được sống trở về từ cuộc lưu đầy. Cho nên, lời của Chúa Giêsu phải được các nhân chứng chân thật mang đến cho ông. Việc này nhắc nhớ bổn phận chúng ta đối với những người, vì lý do nào đó, không được trực tiếp đón nhận lời Chúa. Ví dụ: những người thuộc tôn giáo khác, các kẻ không tin, các tội nhân... Chúng ta phải trung thực mang lời Chúa đến cho họ, bằng cuộc sống chứng tá và lời nói chân thật, không bẻ cong, không thêm bớt xuyên tạc. Có lẽ chúng ta là phương tiện duy nhất họ được tiếp xúc với Chúa Giêsu. Nếu chúng ta không trung thành với Lời Chúa trong ngôn ngữ và việc làm thì quả là điều bất hạnh cho họ và thiệt hại nặng nề cho Hội thánh. Nhưng khốn khổ thay việc này xảy ra thường xuyên. Ít khi nếp sống của chúng ta am hợp với lời chúng ta rao giảng. Đi xe hơi, ở nhà lầu, sống nhung lụa mà lại hô hào khó nghèo, khiêm nhường giống như Chúa Giêsu! Đúng là chuyện ngược đời, tuy nhiên chúng ta không hề nhận ra cái chướng đó, vì quá quen với nếp sống như vậy. Nên cho là chuyện bình thường, không đáng quan tâm. Ông Mahatma Gandhi, vì thế, không bao giờ trở thành người Công giáo, mặc dầu ông rất am hiểu Kinh thánh và đọc sách “Gương Chúa Giêsu” hằng ngày. Biết bao trường hợp tương tự xảy ra trong Giáo hội địa phương và toàn cầu. Muốn truyền giáo hữu hiệu chúng ta chẳng có con đường nào khác ngoài trung thành với Lời Chúa trong ngôn ngữ và hành động như các môn sinh của Gioan tiền hô. Nếu muốn họ được tự do khỏi lầm lạc, đói khổ, áp bức, bất công, ngu dốt, cô đơn... thì chúng ta phải là những kẻ đem tin mừng đến cho họ bằng lời nói ngay thật và nếp sống trung thành, yêu thương: “Hãy đi và nói cho họ những điều mắt thấy tai nghe”. Bằng không thì lời rao giảng của chúng ta là nói dối. Trong cuộc sống chúng ta đã từng được nghe và xem thấy Chúa Giêsu. Vậy phải truyền lại thật trung thực cho kẻ khác, những người đang cần được nghe lời hy vọng, để có thể sống vui tươi hạnh phúc trong thử thách và gian truân trên cõi đời này.
Cụ thể hôm nay, điều gì là sự hiện diện sống động của Chúa Giêsu trên thế giới? Câu trả lời không khó. Chính là lời Thiên Chúa mà tổ tiên đức tin của chúng ta đã truyền lại. Họ giống như môn đệ của Gioan, trung thực và đáng tin cậy. Thêm vào đó là hàng xóm láng giềng đang hoạt động cứu giúp những nạn nhân nghèo đói của chiến tranh, hận thù, chia rẽ, cấm vận; của thiên tai lũ lụt; của bệnh tật xã hội, sida, aids, đĩ điếm, xì ke, gian lận...điều chúng ta chúng kiến lòng tốt của nhau, tức sự hiện diện chữa lành của Chúa Giêsu, phải được nhân rộng lên, ngõ hầu những kẻ bất hạnh được hưởng ân phúc của Chúa. Mặt khác, phải loại trừ những rào cản giả hình, gương mù gương xấu, khoe khoang tư lợi, hậu ý háo danh, để cho lời Chúa được tinh tuyền hữu hiệu.
Mối bận tâm lớn nhất của Gioan tiền hô là trình bày sự vĩ đại của Chúa Giêsu cho thế giới, trước mắt, cho các môn sinh của ông. Vì thế, ông đã sai họ đi tiếp xúc với Chúa và giới thiệu Chúa cho họ: Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian (Ga 1,35). Hai môn đệ của ông là Gioan và Andrê lập tức nhận ra sự thật, bỏ ông mà đi theo Chúa. Ông không ghen tỵ, trái lại tuyên bố với những người còn lại: “Ngài phải lớn lên và tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,30). Khi không thấy Chúa Giêsu tỏ hiện vinh quang như ông dự kiến, thì ông gởi lời thắc mắc đến hỏi Chúa. Thay vì trực tiếp trả lời, Chúa chỉ ra sự ứng nghiệm của sấm ngôn mà tiên tri Isaia loan báo trước cho tổ tiên dân Do thái. Lúc nghe các môn sinh kể lại, Gioan hài lòng và vui mừng. Ông lấy máu đào của mình mà minh chứng cho sự thật.
Vì thế, khi các môn đệ của Gioan đi khỏi, Chúa Giêsu hết lời ngợi khen ông, cất tiếng hỏi đám đông: “Anh em xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? " Thính giả lúc ấy hiểu ngay là Chúa ám chỉ đến tính cương trực đạo đức của ông Gioan. Họ không đến hoang địa để xem một người chao đảo trước quyền lực như cây sậy ngả nghiêng trước gió, mà một Gioan kiên định, vững vàng như bàn thạch, thà chịu mất đầu chứ không lùi bước trước tội loạn luân của Herode. Câu hỏi thứ hai là về nếp sống và sứ vụ của ông Gioan: “Thế thì anh em xem gì? Một người ăn mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ ăn mặc gấm vóc lụa là đang ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế... đây còn hơn cả một vị ngôn sứ”. Sự thực, tuần trước chúng ta đã biết Gioan ăn cào cào châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú. Nếp sống đạm bạc thường được mô tả nơi các ngôn sứ thời Cựu ước (2V 1,8). Đúng vậy, Gioan đã mặc hình dạng Êlia mới, đối diện với Chúa Giêsu, như tiên tri Malachia viết: “Này ta sai ngôn sứ Êlia đến với các ngươi trước khi ngày Thiên Chúa đến, ngày trọng đại và kinh hoàng (3,23)”. Chính Chúa Giêsu nhắc lại lời Kinh thánh này để nói về nhiệm vụ của Gioan. Ông rao giảng tính cấp bách của lòng thống hối chân thật để đón nhận Chúa Cứu Thế. Những ai không có lòng ăn năn thật sự thì chẳng thể nhận ra Ngài. Đây là sự cao cả của ơn gọi Gioan. Nhưng ơn gọi rao giảng Nước Trời còn cao trọng hơn, tức ơn gọi của các tín hữu ngày nay.
Chính Thiên Chúa sẽ cứu độ dân Người. Isaia loan báo như vậy. Và Gioan đã mường tượng ra ngày cứu độ thật rực rỡ huy hoàng. Đấng Cứu Thế sẽ mang lửa sinh diêm bởi trời mà phán xét thế gian. Nhưng thay vì vậy, ông chỉ được gặp Đức Kitô, người anh em họ của mình, khiêm nhu và hiền lành, rao giảng ơn tha thứ vô tận và lòng xót thương không bờ bến của Thiên Chúa cho những linh hồn mà ông gọi là “vỏ trấu”, sẽ bị lửa đời đời thiêu đốt. Bài học cho chúng ta là đừng chiếm lấy vai trò quan toà trước ngày cánh chung. Hiện thời hãy noi gương Chúa Cứu Thế mang hy vọng đến hang cùng ngõ hẻm của thế giới, rao giảng Đấng có quyền năng “cho kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ chết sống lại, người điếc nghe được”, nghĩa là hy vọng cho mọi người. Gioan tiền hô là gương mẫu sáng chói để chúng ta sống Mùa Vọng này: khắc khổ, chay tịnh, can đảm và đầy lòng mong đợi ơn Cứu Độ nhân loại. Có thể tâm trí chúng ta đầy tràn những chương trình riêng tư. Nhưng Thiên Chúa luôn luôn vượt xa hy vọng của chúng ta. Vậy xin đừng hạn chế quyền phép của Ngài. Hãy để Ngài làm Thượng đế và nhân loại sẽ rất ngạc nhiên chiêm ngắm điều bất ngờ của đêm Giáng Sinh. Amen.
TIN VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐẤNG CỨU THẾ
(Mt 11, 2-11)
Thưa quí vị,
Chúa nhật 3 Mùa Vọng được gọi là Chúa Nhật mầu hồng hay Chúa nhật “mừng vui lên”. Vấn đề liên hệ là hiện tại và tương lai. Trong hiện tại, khi phải chịu đau khổ để sống hoặc để vượt qua khó khăn, thì người ta nhìn vào tương lai, với hy vọng sẽ có ngày chấm dứt. Không hy vọng, tinh thần chúng ta héo khô và giơ cả hai tay lên cao than trời hoặc đầu hàng số phận mà nguyền rủa mình chết đi cho sớm. Jean de la Fontaine đã cụ thể hoá tình trạng này trong bài thơ người lượm củi: “Lão tiều nhặt củi cành một bó, củi đã nhiều niên tuế lại cao... Hỡi ông thần chết đâu nào? Bắt tôi đi, khỏi lao đao chốn này...”
Hôm nay, chúng ta cũng được nghe tiếng kêu than thảm sầu trong bài đọc 1, trích sách tiên tri Isaia. Số phận dân tộc Do thái chịu cảnh lầm than nô lệ Babylone. Nhưng tiên tri cũng nhìn vào tương lai mà hy vọng. Con đường từ Assyria về Palestine qua sa mạc nóng cháy, người bình thường phải cực nhọc lắm mới vượt được. Nhưng tiên tri đã trông thấy ngày trở về đầy hoan hỷ, nên hạ bút: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông. Hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ và hân hoan múa nhảy reo hò”. Ngay cả thiên nhiên cũng được vui lây: “Sa mạc được tặng ban ánh huy hoàng của núi Li-băng, vẻ huy hoàng của núi Các -men và đồng bằng Saron.” Sự thực không phải như vậy, dân tộc đang chịu cảnh lưu đầy, tối tăm, không tương lai, không lối thoát. Họ không có khả năng tự cứu, mọi sự trông chờ vào bàn tay Thiên Chúa. Ngài trung tín với Giao ước đã ký kết cùng các tổ phụ nhất định sẽ can thiệp và họ sẽ được giải cứu. Đó là lời hứa của Isaia. Một Tin Mừng cho tương lai, chứ không phải lúc này. Những hình ảnh lạc quan vị tiên tri nêu trên, tượng trưng cho việc Thiên Chúa thay đổi hoàn cảnh và dân tộc sẽ bật lên tiếng reo hò.
Xét theo tình thế hiện thời, thì lời hứa xem ra xa vời, không thực hiện được. Và nếu có đi nữa thì cuộc trở về rất khó khăn, phải băng qua sa mạc khô cằn với bao nhiêu hiểm nguy trước mắt. Đói khát, bệnh tật và chết chóc là không thể tránh khỏi. Nó sẽ là cuộc xuất hành đầy gian khổ giống như cuộc xuất hành Ai Cập. Cuộc hành trình qua hoang địa với những kẻ thù hung hãn, thiên nhiên nghiệt ngã. Tuyển dân không có hy vọng sống sót. Nhưng qua miệng tiên tri, Thiên Chúa hứa hoang địa sẽ nở hoa cho họ. Đúng là điều kỳ diệu, gần như nói ngoa. Tuy nhiên, nói ngoa không phải là phong cách của Thượng đế, cho nên lời sấm hoàn toàn là sự thật. Nó sẽ được ứng nghiệm khi đến thời gian viên mãn. Vị tiên tri yên ủi và khích lệ tuyển dân đang nhát đảm hãy đặt hy vọng vào Thiên Chúa tín trung. Thực tế, ông khuyên bảo họ trông chờ Chúa đến: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi, sắp đến ngày báo phúc, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em”.
Khi việc đó xảy ra, cả vũ trụ sẽ được biến đổi nhờ ân huệ của tuyển dân. Bởi lẽ mọi tạo vật đều do bàn tay Thiên Chúa sáng tạo. Chúng sẽ được chia sẻ hành động giải phóng của Ngài. Do tội lỗi nhân loại, hiện thời chúng đang rên xiết, quằn quại. Tội tham lam, bất cẩn, khai thác vô độ đang phá hoại thiên nhiên, làm môi trường trái đất tan hoang, không thích hợp cho sự sống nữa. Cho nên chúng ta chiêm ngắm cuộc xuất hành tưởng tượng của Isaia như điều nhắc nhớ: Thiên Chúa có ý định giải phóng loài người và vạn vật khỏi áp bức của sự dữ. Nếu lúc này thiên nhiên chịu đựng sự huỷ hoại và khai thác bừa bãi do lòng tham của con người, thì lời hứa của vị ngôn sứ cũng có hiệu quả trên vũ trụ. Như thế cả hai, thiên nhiên và con người, đều được hưởng lợi ích từ việc Chúa ngự đến. Mùa Vọng chính là mùa chúng ta chờ đợi hạnh phúc đến. Chúng ta phải tỉnh thức suy tư về những hồng ân ấy. Ăn ở tiết kiệm, khai thác chừng mực tài nguyên của trái đất, bảo vệ môi trường sống là cách thức tốt nhất chúng ta trông đợi Chúa. Thiên nhiên được phục hồi, môi trường được an toàn sẽ góp phần lớn lao vào tinh thần hoan hỷ khi Chúa đến: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy. Vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông”. Viễn cảnh này sẽ chẳng thể có, nếu loài người cứ tiếp tục tàn phá thiên nhiên, phí phạm tài nguyên và nhất là vẫn xa rời Thiên Chúa. Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu lời sấm trên về sự thay đổi thiêng liêng trong các linh hồn. Hoang địa trổ bông, người đau ốm được chữa lành, và một số hình ảnh khác vị tiên tri liệt kê (người mù xem thấy, kẻ điếc nghe được, kẻ què được đi, người câm nói được...) mô tả sự thay đổi nội tâm mà Thiên Chúa thực hiên nơi nhân loại, kể cả dân tộc Israel. Chúa Giêsu đã áp dụng lời sấm vào chính sứ vụ của mình và khẳng định hy vọng của chúng ta được nên trọn nơi bản thân Ngài. Ngài nói với môn đệ ông Gioan: “Hãy về nói với ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe...” các dấu Ngài đã làm, đúng như Isaia mơ thấy hàng sáu thế kỷ trước. Như vậy, sự giải phóng không những về vật chất mà cả về chính trị, kinh tế, thiêng liêng nữa. Hãy rao giảng tin mừng cho họ, và trong Chúa Giêsu, tương lai Isaia hy vọng đã trở thành hiện thực rõ ràng.
Tuy nhiên, xin đừng vội nhận định mọi sự đã hoàn thành. Thiên Chúa còn phải thu xếp mọi loài mọi vật vào thứ tự khuôn phép như Ngài đã định. Tội lỗi vẫn hoành hành, làm hư hỏng công trình của Ngài ngay từ đầu tạo dựng. Hiện thời thế giới vẫn là một khối bòng bong, lùng nhùng đam mê, nết xấu. Giấc mơ của Isaia vẫn cần được triển khai. Điều này phải có sự cộng tác của các tín hữu. Tin Mừng hôm nay kể: Chúa Giêsu nói với môn sinh ông Gioan: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe”. Hiện thời ông Gioan đang ở trong tù, chẳng thể tự thân mục kích những việc Chúa làm giữa dân chúng. Ông chỉ có thể nghe nói mà thôi. Thời ấy, ở xứ Palestine, tù nhân không hoàn toàn cách ly khỏi thế giới bên ngoài. Như vậy, “Lời” phải được gởi vào tù cho Gioan. Chắc chắn ông chẳng bao giờ được thả ra còn sống như dân Israel được sống trở về từ cuộc lưu đầy. Cho nên, lời của Chúa Giêsu phải được các nhân chứng chân thật mang đến cho ông. Việc này nhắc nhớ bổn phận chúng ta đối với những người, vì lý do nào đó, không được trực tiếp đón nhận lời Chúa. Ví dụ: những người thuộc tôn giáo khác, các kẻ không tin, các tội nhân... Chúng ta phải trung thực mang lời Chúa đến cho họ, bằng cuộc sống chứng tá và lời nói chân thật, không bẻ cong, không thêm bớt xuyên tạc. Có lẽ chúng ta là phương tiện duy nhất họ được tiếp xúc với Chúa Giêsu. Nếu chúng ta không trung thành với Lời Chúa trong ngôn ngữ và việc làm thì quả là điều bất hạnh cho họ và thiệt hại nặng nề cho Hội thánh. Nhưng khốn khổ thay việc này xảy ra thường xuyên. Ít khi nếp sống của chúng ta am hợp với lời chúng ta rao giảng. Đi xe hơi, ở nhà lầu, sống nhung lụa mà lại hô hào khó nghèo, khiêm nhường giống như Chúa Giêsu! Đúng là chuyện ngược đời, tuy nhiên chúng ta không hề nhận ra cái chướng đó, vì quá quen với nếp sống như vậy. Nên cho là chuyện bình thường, không đáng quan tâm. Ông Mahatma Gandhi, vì thế, không bao giờ trở thành người Công giáo, mặc dầu ông rất am hiểu Kinh thánh và đọc sách “Gương Chúa Giêsu” hằng ngày. Biết bao trường hợp tương tự xảy ra trong Giáo hội địa phương và toàn cầu. Muốn truyền giáo hữu hiệu chúng ta chẳng có con đường nào khác ngoài trung thành với Lời Chúa trong ngôn ngữ và hành động như các môn sinh của Gioan tiền hô. Nếu muốn họ được tự do khỏi lầm lạc, đói khổ, áp bức, bất công, ngu dốt, cô đơn... thì chúng ta phải là những kẻ đem tin mừng đến cho họ bằng lời nói ngay thật và nếp sống trung thành, yêu thương: “Hãy đi và nói cho họ những điều mắt thấy tai nghe”. Bằng không thì lời rao giảng của chúng ta là nói dối. Trong cuộc sống chúng ta đã từng được nghe và xem thấy Chúa Giêsu. Vậy phải truyền lại thật trung thực cho kẻ khác, những người đang cần được nghe lời hy vọng, để có thể sống vui tươi hạnh phúc trong thử thách và gian truân trên cõi đời này.
Cụ thể hôm nay, điều gì là sự hiện diện sống động của Chúa Giêsu trên thế giới? Câu trả lời không khó. Chính là lời Thiên Chúa mà tổ tiên đức tin của chúng ta đã truyền lại. Họ giống như môn đệ của Gioan, trung thực và đáng tin cậy. Thêm vào đó là hàng xóm láng giềng đang hoạt động cứu giúp những nạn nhân nghèo đói của chiến tranh, hận thù, chia rẽ, cấm vận; của thiên tai lũ lụt; của bệnh tật xã hội, sida, aids, đĩ điếm, xì ke, gian lận...điều chúng ta chúng kiến lòng tốt của nhau, tức sự hiện diện chữa lành của Chúa Giêsu, phải được nhân rộng lên, ngõ hầu những kẻ bất hạnh được hưởng ân phúc của Chúa. Mặt khác, phải loại trừ những rào cản giả hình, gương mù gương xấu, khoe khoang tư lợi, hậu ý háo danh, để cho lời Chúa được tinh tuyền hữu hiệu.
Mối bận tâm lớn nhất của Gioan tiền hô là trình bày sự vĩ đại của Chúa Giêsu cho thế giới, trước mắt, cho các môn sinh của ông. Vì thế, ông đã sai họ đi tiếp xúc với Chúa và giới thiệu Chúa cho họ: Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian (Ga 1,35). Hai môn đệ của ông là Gioan và Andrê lập tức nhận ra sự thật, bỏ ông mà đi theo Chúa. Ông không ghen tỵ, trái lại tuyên bố với những người còn lại: “Ngài phải lớn lên và tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,30). Khi không thấy Chúa Giêsu tỏ hiện vinh quang như ông dự kiến, thì ông gởi lời thắc mắc đến hỏi Chúa. Thay vì trực tiếp trả lời, Chúa chỉ ra sự ứng nghiệm của sấm ngôn mà tiên tri Isaia loan báo trước cho tổ tiên dân Do thái. Lúc nghe các môn sinh kể lại, Gioan hài lòng và vui mừng. Ông lấy máu đào của mình mà minh chứng cho sự thật.
Vì thế, khi các môn đệ của Gioan đi khỏi, Chúa Giêsu hết lời ngợi khen ông, cất tiếng hỏi đám đông: “Anh em xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? " Thính giả lúc ấy hiểu ngay là Chúa ám chỉ đến tính cương trực đạo đức của ông Gioan. Họ không đến hoang địa để xem một người chao đảo trước quyền lực như cây sậy ngả nghiêng trước gió, mà một Gioan kiên định, vững vàng như bàn thạch, thà chịu mất đầu chứ không lùi bước trước tội loạn luân của Herode. Câu hỏi thứ hai là về nếp sống và sứ vụ của ông Gioan: “Thế thì anh em xem gì? Một người ăn mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ ăn mặc gấm vóc lụa là đang ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế... đây còn hơn cả một vị ngôn sứ”. Sự thực, tuần trước chúng ta đã biết Gioan ăn cào cào châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú. Nếp sống đạm bạc thường được mô tả nơi các ngôn sứ thời Cựu ước (2V 1,8). Đúng vậy, Gioan đã mặc hình dạng Êlia mới, đối diện với Chúa Giêsu, như tiên tri Malachia viết: “Này ta sai ngôn sứ Êlia đến với các ngươi trước khi ngày Thiên Chúa đến, ngày trọng đại và kinh hoàng (3,23)”. Chính Chúa Giêsu nhắc lại lời Kinh thánh này để nói về nhiệm vụ của Gioan. Ông rao giảng tính cấp bách của lòng thống hối chân thật để đón nhận Chúa Cứu Thế. Những ai không có lòng ăn năn thật sự thì chẳng thể nhận ra Ngài. Đây là sự cao cả của ơn gọi Gioan. Nhưng ơn gọi rao giảng Nước Trời còn cao trọng hơn, tức ơn gọi của các tín hữu ngày nay.
Chính Thiên Chúa sẽ cứu độ dân Người. Isaia loan báo như vậy. Và Gioan đã mường tượng ra ngày cứu độ thật rực rỡ huy hoàng. Đấng Cứu Thế sẽ mang lửa sinh diêm bởi trời mà phán xét thế gian. Nhưng thay vì vậy, ông chỉ được gặp Đức Kitô, người anh em họ của mình, khiêm nhu và hiền lành, rao giảng ơn tha thứ vô tận và lòng xót thương không bờ bến của Thiên Chúa cho những linh hồn mà ông gọi là “vỏ trấu”, sẽ bị lửa đời đời thiêu đốt. Bài học cho chúng ta là đừng chiếm lấy vai trò quan toà trước ngày cánh chung. Hiện thời hãy noi gương Chúa Cứu Thế mang hy vọng đến hang cùng ngõ hẻm của thế giới, rao giảng Đấng có quyền năng “cho kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ chết sống lại, người điếc nghe được”, nghĩa là hy vọng cho mọi người. Gioan tiền hô là gương mẫu sáng chói để chúng ta sống Mùa Vọng này: khắc khổ, chay tịnh, can đảm và đầy lòng mong đợi ơn Cứu Độ nhân loại. Có thể tâm trí chúng ta đầy tràn những chương trình riêng tư. Nhưng Thiên Chúa luôn luôn vượt xa hy vọng của chúng ta. Vậy xin đừng hạn chế quyền phép của Ngài. Hãy để Ngài làm Thượng đế và nhân loại sẽ rất ngạc nhiên chiêm ngắm điều bất ngờ của đêm Giáng Sinh. Amen.