LTS: Đây là bài viết của Linh Mục Brian Van Hose, một linh mục Dòng Tên, hiện đang phục vụ tại tiểu bang Texas. Đây là bài viết đầu tiên của Ngài cho tờ báo Adoremus, đây là tờ báo bằng tiếng Anh chuyên viết về những vấn đề có liên quan đến phụng vụ, nhằm mục đích giữ gìn và bảo tồn truyền thống của Hội Thánh. Rất nhiều bài viết hay và có giá trị của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị, của các Đức Hồng Y thuộc Tòa Thánh, và của các Đức Giám Mục, linh mục, giới tu sĩ nam nữ và giáo dân được đăng tải trên tờ báo hằng tháng này, đặc biệt là Phần Chuyên Về Phép Thánh Thể và Kiến Trúc của Hội Thánh. Người dịch đã có dịp giới thiệu qua một số bài viết trích từ Adoremus. Quý vị có thể tìm ra phiên bản tiếng Anh của bài dịch này tại trang web: http://www.adoremus.org. Bài dịch được chia ra làm Hai Phần.

Bánh Theo Truyền Thống La Tinh Xưa Cổ (Host According To Latin Church)

Rất nhiều người Công Giáo thắc mắc về đâu là những điều kiện ràng buộc của Hội Thánh về bánh sử dụng trong Thánh Lễ. Một số thì cho rằng bánh được làm tại nhà, vì lẽ, nó là một dấu chỉ về một “của ăn thật sự” (real food) để cùng đem ra chia sẽ cho cộng đoàn, trong khi những người khác thì nghĩ rằng bánh truyền thống (traditional host) là cách diễn đạt trọn vẹn nhất về ý nghĩa duy nhất của Bánh Hằng Sống. Một khía cạnh khác cần phải được xem xét tới đó là bánh như là bánh thánh thể hay “của ăn theo nghi lễ” (ritual food).

Hội Thánh có những luật lệ rõ ràng có liên quan tới “chất liệu” (matter) hay sự cấu tạo nên bánh được dùng trong Thánh Lễ. Giáo Luật thì dứt khoát về vấn đề này, và trong chỉ thị mới nhất về phụng vụ, có tên là Phép Bí Tích Cứu Chuộc (Redemptionis Sacramentum), cũng đã tái khẳng định lại điều đó. Và sau đây là những đoạn có liên quan, được trích từ sách Chỉ Dẫn Tổng Quát về Lễ Nghi Rôma (viết tắt theo tên tiếng Anh là GIRM hay Institutio Generalis Missalis Romani).

GIRM 320: Bánh để cử hành trong Phép Thánh Thể phải được làm từ cây lúa mì mà thôi, vừa mới được nướng (baked) xong, và phải theo đúng với truyền thống của Giáo Hội La Tinh cổ xưa, tức phải là bánh không men.

GIRM 321: Ý nghĩa của dấu chỉ đòi hỏi rằng chất liệu dùng trong việc cử hành Phép Thánh Thể phải thật sự có hình dạng như là của ăn. Chính vì thế, điều bắt buộc là bánh Thánh Thể, mặc dù là bánh không men và được nung, nướng theo hình dạng truyền thống, phải được làm ra theo một cách nào đó để vị linh mục chủ tế trong Thánh Lễ cùng với cộng đoàn có thể thực hiện việc bẻ bánh ra thành những phần nhỏ để trao phát cho ít nhất một vài các tín hữu. Tuy nhiên, những bánh thánh nhỏ, bằng mọi cách, sẽ không bao giờ bị loại bỏ ra sau khi mọi người đã được rước lễ xong hoặc là được dùng cho các nhu cầu về mục vụ khác. Cử chỉ bẻ nhỏ bánh ra hay bẻ bánh, xuất phát từ Phép Thánh Thể có từ thời của các tông đồ, nhằm rõ ràng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dấu chỉ về sự hiệp kết mọi người lại cùng với nhau trong một bánh, và đó cũng là dấu chỉ của lòng bác ái qua việc một bánh được phân phát cho mọi anh, chị em.

Những ai thích bánh được làm tại nhà theo đúng Lễ Nghi Rôma thì biện luận rằng biểu trưng này mới đúng là “trọn vẹn hơn, giàu ý nghĩa hơn, và phong phú hơn,” thì đó chính là một ý tưởng mong muốn, nhưng không phải là điểm duy nhất để xem xét. Đối với các phép bí tích và Phép Thánh Thể, chúng ta ngày nay có khuynh hướng muốn có nhiều dầu (oil), nhiều rượu, nhiều nước, nhiều lửa và nhiều động tác, cử chỉ hơn là trước việc cải cách về các nghi lễ của Công Đồng Chung Vaticăn II. Nguyên tắc “biểu lộ phong phú hơn” đã được ngăn cấm. Thế còn bánh thì sao, phải chăng đây là một câu hỏi phức tạp hơn?

Phong trào về “Những Thánh Lể với Bánh Diệu Kỳ” (Wonder Bread Masses) trong những năm của thập niên 70 (vẫn thường hay gọi là “Những Thánh Lễ tại bàn uống cà phê”) thì nài nĩ về việc dùng bánh thường, tức bánh mì ăn mỗi ngày, như là mọi gia đình đều biết tới, hay nói khác đi loại bánh mà bạn có thể mua được ở tiệm rau quả. Loại bánh mì này thường bao gồm cả bánh ngô (tortillas), bánh mì ổ dẹp (pita bread), và bánh mì theo kiểu nông phu của Pháp Quốc. Bất cứ những gì được sử dụng tại buổi cắm trại, cũng đều có thể được dùng trong Thánh Lễ. Thì đây đúng là một giải pháp mang tính “nội trợ” (domestic) thực dụng so với một giải pháp mang tính về “nghi lễ” (ritual). Ý tưởng về “Phép Thánh Thể như là một bữa ăn của cộng đoàn” đưa một số người đến ngay với Thần Học Cải Cách (theology of the Reformation).

Trong chuyến đi gần đây đến Denver, tôi mới biết rằng Phương Cải Cách Giảng Dạy Mới (Neocatechumeal Way) tự nung (nướng) bánh của riêng họ để dùng trong Thánh Lễ, chính vì vậy vấn đề này có vẽ như đang hiện hành một cách vững chắc tại một số nơi trong Giáo Hội, so với những điều mà chúng ta vừa đề cập ở trên vào những năm của thập niên 70. Tuy nhiên, nói một cách tổng quát thì hôm nay, những nhóm này “đã không còn nung/nướng bánh cho riêng họ” như là đã xảy ra vào những năm của thập niên 70 nữa. Chúng ta đã thâu thập được nhiều dữ kiện và đã kinh qua với những vấn nạn này rồi, kể từ thời gian đó, và nó đã dạy cho chúng ta biết được rất nhiều điều.

Vào thời gian đó, khoảng chừng 30 năm về trước, đã có một sự thối mục trong việc thờ kính và việc lỗ mãng coi thường các khía cạnh thiêng liêng của Phụng Vụ tại rất nhiều nhà thờ ở Hoa Kỳ và Tây Âu. Thì đó chính là sự đầu hàng cho chủ nghĩa thế tục, vốn xem ngẫu tượng hơn cả tính hiện đại (vốn gần như bị sụp đổ như là một lực lượng ngoài Giáo Hội). Đối với rất nhiều người Công Giáo, những ý thức hệ xa lạ, chẳng hạn như thuyết nam nữ bình quyền, vốn hời hợt xem Thiên Chúa chỉ là giả hiệu, thì lại có sức thu hút mãnh liệt hơn là những gì mà Giáo Hội được thành lập nên bởi Chúa Giêsu Kitô, đã giảng dạy. Những ai chống đối lại những khuynh hướng này (bao gồm cả Đức Giáo Hoàng) thì lại bị tấn công và lăng mạ (vilify) trên các phương tiện truyền thông và báo chí. Những người Công Giáo nào mà chưa từng chứng kiến những ngày đen tối như vậy, hay bất kỳ ai để cho những chú ý của mình bị lôi cuốn bởi những điều quan tâm khác, sẽ không bào giờ nhận thức được là làm thế nào mà Đức Giáo Hoàng và đức tin của Giáo Hội Công Giáo lại bị xem là thù nghịch và ác độc quá như vậy. Có lẽ, cách tốt nhất là cần phải nhanh chóng quên đi những thời kỳ đen tối đó. Thế nhưng, dư chấn (after-shocks) của nó vẫn còn âm vang mãi trong chúng ta và những ý tưởng tai hại, vốn một thời chỉ có trong tiểu thuyết hay thí nghiệm, thì nay đã và đang thể chế hóa và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.

Còn những ai thích bánh làm theo đúng truyền thống La Tinh xưa cổ thì cho rằng sự tinh khiết của “chất liệu” (matter) của bánh được bảo đảm (vì lẽ chỉ có bột mì và nước được sử dụng để làm ra bánh), và những miếng nhỏ vụn thì rất ít và do đó dễ quản lý. Thì những bánh này (ngay cả từ “host” (bánh) chính là một phần thánh thiêng của di sản Công Giáo -chúng ta không bao giờ dùng từ “wafer” (bánh mỏng/xốp)) thu hút được sự tưởng tượng của người Công Giáo, vốn đã được minh chứng bằng một giai đoạn lịch sử lâu đời về việc miêu tả bánh trong nghệ thuật, trong văn chương, và bánh được liên kết với những phép lạ về Phép Thánh Thể trong lịch sử. Suốt và sau thời kỳ Cải Cách, đã có những vị tử đạo vì Phép Thánh Thể, những người đã chết vì Bánh Thiêng (Sacred Host)! Việc tiếp nối với lịch sử trong quá khứ là nhằm nói lên được chúng ta là ai, và xuất phát từ đâu.

Thực Hành và Tín Lý Là Điều Không Thể Tách Rời Được (Practice and Doctrine Inseparable)

Hơn nữa, lòng mộ đạo của mọi tín hữu thường được gắn liền với hình dạng (shape) và bề mặt (texture) của bánh truyền thống (traditional host), đặc biệt là khi bánh được cung kính bên ngoài phạm vi của thánh lễ. Một số người nghĩ rằng “bánh lớn/dày” (chunk bread) (vốn gần như không thể nào được rước bằng lưỡi) thì không phải thật sự là Bánh Thánh Thể. Quan điểm đó có thể là sai lầm, trừ khi chất liệu được sử dụng để làm bánh là đúng với quy luật. Nhưng vẫn thường khi công thức làm bánh Thánh Thể “tại nhà” chứa đựng nhiều thành phần khác làm ảnh hưởng đến tính xác thực của Phép Bí Tích.

Có một sự thay đổi về lòng mộ đạo, cụ thể là về khía cạnh tâm lý của lòng mộ đạo, có nghĩa là có một sự thay đổi nhỏ trong niềm tin. Thì điểm này không nên bị xem nhẹ hay coi thường. Việc thực hành và tín lý không thể dễ dàng bị tách rời như là những người chủ trương về cải cách phụng vụ đã từng nghĩ. Ngày nay có nhiều sự hiểu lầm hơn là vào thời kỳ tôi được sinh ra và lớn lên vào những năm của thập niên 50, đặc biệt là trong những vấn đề có tính kiên định trong Giáo Hội. Tôi nghĩ là mọi người có thể hiểu được thuyết duy thực về bánh Thánh Thể (sacramental realism) và sự hóa thể (transubstantiation) (tức bánh và rượu trong Thánh Lể sẽ được hóa thành Mình và Máu Chúa Kitô mặc dầu bề ngoài vẫn không thay đổi - Người Dịch). Họ rất nhạy cảm về đức tin để biết được đâu là đúng, vì họ lãnh hội được qua Phụng Vụ. “Truyền thống xưa cổ” đã được thể hiện quá rõ ràng trong học thuyết rồi. Hiến Pháp của Công Đồng Chung Vaticăn II về Phụng Vụ đã nêu ra rằng “chỉ có những gì phải thay đổi” thì mới có thể thay đổi mà thôi.

Và theo lịch sử, thì “nghi lễ mới” rõ ràng là vẫn chưa có sức thuyết phục. Giáo Hội trong thời kỳ từ năm 1969- khi sự cải cách về Lễ Misa được chấp thuận - khó mà có thể tồn tại trên màn hình của lịch sử. Chúng ta đã có thể rao truyền học thuyết về Phép Thánh Thể trong quá khứ bởi vì chúng ta tin vào học thuyết ấy, và các nghi lễ phần nào đó đã được truyền đạt qua những gì chúng ta học biết được trong Giáo Lý. Những gì mà người Công Giáo thời nay tin - nếu như bạn thực hiện cuộc phỏng vấn những giáo dân trung bình ở Hoa Kỳ, thì vẫn còn mơ hồ hay tương phản.

Suy cho cùng thì, tất cả đều là học thuyết về tín lý. Thậm chí ngay cả khi chúng ta đang nói về một biểu trưng (trong trường hợp này là bánh được dùng trong Thánh Lễ), thì không chóng thì chày chúng ta đang bước vào lãnh vực của học thuyết và những quan điểm của học thuyết. “Ý nghĩa” của vấn đề không thể nào có thể được tránh khỏi. Đức tin và luân lý có tầm quan trọng tối cao. Những gì chúng ta thật sự tin thì đó chính là nền tảng. Cuối cùng, thì hoặc là chúng ta có một cái nhìn đúng đắn về bánh Thánh, hoặc là không.

(Còn tiếp. ....)