PHƯƠNG ÁN TRUYỀN GIÁO CỦA THÁNH GIÁM MỤC TÊPHANÔ THÉODORE CUÉNOT THỂ

Giáo Hội VN không sợ dư luận mang tiếng ‘‘rước cố tây về’’, núp dưới hình thức giảng đạo để cai trị VN, đã làm mất đi vẻ đẹp gia phong thuần túy dân tộc chúng ta. Trái lại, GHVN rất vui mừng mến phục và biết ơn về sự đóng góp của các linh mục Thừa Sai người Pháp trong việc truyền bá đức tin tại VN. Chính các Ngài đã đặt nền móng xây nhà cho GHVN. Để chứng minh, xin chọn một trong 10 Thánh Tử Đạo Thừa Sai người Pháp, có phương hướng truyền giáo trổi vượt. Đó là Thánh Giám Mục Têphanô Théodore Cuénot Thể.

I. Thánh giám mục Têphanô Théodore Cuénot Thể

Thánh Têphanô Théodore Cuénot Thể sinh ngày 8-2-1802, tại Bélieu, miền núi Doub, thuộc giáo phận Besançon, Pháp. Ông bà thân sinh đạo đức nhưng nghèo. Théodore thông minh, cương trực và chăm chỉ. Từ nhỏ cậu đã nếm đủ mùi khổ cực. Cuénot tỏ ý muốn đi tu làm linh mục. Cha mẹ phải đóng gạo ở nhà xứ để cậu học tiếng Latinh. Cuénot học nửa chừng, phải bỏ, vì cha mẹ không đủ khả năng đóng góp. Nhờ có quyên giúp trong xứ, cậu tiếp tục cho hết tiểu chủng viện ở Besançon. Khi được nhận vào đại chủng viện, không có tiền may áo dòng cho con, thân mẫu đã lấy áo cưới của bà may áo cho con. Ở đại chủng viện, Cuénot bị hiểu lầm, anh em chê cười và bị kỷ luật, phải rời chủng viện. Nhưng chí tu cương quyết, Théodore xin gia nhập dòng Retraite và thụ phong linh mục ngày 24-9-1825. Hai năm sau, đến ngày 23-6-1827, phải tranh đấu nhiều, Cha mới được gia nhập vào hội Thừa Sai Paris.

Ước mơ truyền giáo thành sự thật. Ngày 27-1-1828, cha rời Paris. Hơn một năm sau, ngày 31-5-1829, Cha tới Kẻ Vĩnh, giáo phận Đàng Ngoài. Sau đó, ngày 24-7, Cha vào Nam, và được cử đến chủng viện Lái Thiêu vừa học tiếng Việt vừa dạy học. Cha bắt đầu được gọi bằng tên VN là Thể. Trải qua bước đầu bốn năm, đầy cam go khổ cực, Cha đã kể về thân phận thời gian ở VN : « Ban ngày người ta khiêng tôi trên một chiếc võng, có phủ chiếc chiếu. Tôi bị coi như món hàng quốc cấm. » Ngài đã thoáng thấy những hình khổ sẵn sàng chờ đón và ao ước phúc tử đạo, khi viết thư về cho gia đình : « Nếu cha mẹ được tin con chết vì Đạo, cha mẹ hãy vui mừng, coi đó là ơn cao trọng. » Trong thư khác gửi cho thân mẫu, Ngài viết : « Hãy cầu nguyện cho con và đừng bao giờ cầu nguyện cho con khỏi tù tội, nhưng hãy cầu nguyện cho con khi chịu đau khổ con được cứu rỗi và cứu rỗi nhiều người cùng với con. » Nghĩ tới diễm phúc tử đạo, Ngài viết nửa đùa nửa thật : « Thánh Phêrô được lệnh mở cửa Thiên Đàng tức khắc, cho những ai đến gõ cửa Thiên Đàng tay cầm đầu của mình.» Năm 1832, vua Minh Mạng ra lệnh cấm đạo, không ai dám chứa các Thừa Sai. Nên Đức Cha Jean Louis Taberd Từ quyết định đưa các thừa sai trốn chạy qua Thái Lan. Cha Thể đem được 15 chủng sinh đi theo. Lúc đó, ở VN chỉ còn hai thừa sai và 10 linh mục VN. Tại đây, Cha Thể được chọn làm giám mục phó. Đức Cha Taberd đã phong chức cho ngài, ngày 3-5-1835, tại chủng viện Penang. Với lòng khiêm tốn, ĐC đón nhận chức giám mục với tâm tình :« Sự lựa chọn này làm tôi bỡ ngỡ. Nhưng việc đã lỡ rồi. Chỉ còn có Đấng Toàn Năng có thể làm cho các hòn đá này trở thành con cháu Abraham, Đấng sẽ cứu vãn được mọi sự. »Sốt ruột, và mong trở về với nhiệm vụ chủ chăn. Ngày 21-6-1835, Đức Cha quyết định trở về Đàng Trong ngay, cùng về có hai cha VN. Trụ sở tòa giám mục Ngài đặt tại Gò Thị, Bình Định. Công việc đầu tiên của ĐC là mở cửa lại chủng viện và Dòng Mến Thánh Giá. Đón nhận chủng sinh và nữ tu. Ngày 31-7-1840, ĐC Taberd qua đời tại Calcutta, Ấn Độ. ĐC Thể chính thức coi sóc giáo phận. ĐC Từ đã nói về người kế vị mình như sau :« Cha Têphanô Thể là người đã nỗ lực đem kẻ ngoại trở lại đạo và đã thành công rực rỡ. » ĐC Thể đã đặt cử Cha Dominique Lefèvre Ngãi làm giám mục phụ tá. Công việc đầu đáng kể là Đức Cha đã mở công đồng Gò Thị, để đưa ra phương án đào tạo linh mục VN. Vì tình hình khó khăn, mỗi Thừa Sai nhận nuôi 6, 7 em tại nhà xứ, sau gửi qua Penang. Học xong sẽ về VN chịu chức linh mục và làm việc. ĐC thường nói : Bằng mọi cách phải lo cho họ. Như tôi, một thừa sai chết, người ta có thể gửi người khác thay thế, chậm lắm là một năm. Một linh mục, một chủng sinh VN nằm xuống, phải mất hai ba chục năm mới có một người thay thế. Hàng năm, tổ chức cấm phòng cho hàng giáo sỹ. Dịp để các linh mục ôn học về tín lý và luân lý. Đối với giáo dân, ngài chủ trương : Phương pháp tốt nhất để giáo dân có đức tin vững chắc là đào tạo họ thành tông đồ truyền giáo’’. Nhờ những gương sáng này, có thêm nhiều tân tòng và việc tổ chức giáo lý tân tòng dễ dàng. Nhiều người tự bỏ tiền ra nhận nuôi trẻ em của những gia đình túng thiếu. Với điều kiện cho các em nhập Đạo. Đối với những giáo dân lỡ dại ‘‘chối đạo’’, ĐC khuyên bảo để sám hối, và sẵn sàng tha thứ và xin họ gia nhập công tác tông đồ và giúp tân tòng. Công việc truyền giáo cho người Thượng, ĐC quan tâm hơn nữa, theo dõi và tạo điều kiện họ có thời giờ học kinh bổn. (đọc ở phần II-3)

Năm 1844, ĐC đã xin Tòa Thánh chia địa phận Đàng Trong thành hai : Đông (Qui nhơn) và Tây (Sàigòn). Năm 1850, lại chia thêm Nam Vang và Huế. Từ đây ĐC coi sóc địa phận Qui Nhơn.

Từ 1861, vua Tự Đức ra chiếu chỉ ‘‘phân sáp’’. Tình hình điêu đứng. ĐC khuyên các Thừa Sai di chuyển vào Sàigòn. Chính ngài ở lại. Ngài nói : « Dù chỉ còn một thừa sai, chẳng làm gì được, ngoài việc đọc kinh phụng vụ, thì nguyên việc có mặt của vị đó đủ nâng đỡ niềm tin và sinh hoạt của tín hữu. » Từ tháng 10-1861, ĐC phải chạy trốn trong nhà giáo dân. Ngày 24-10-1861, đang khi trốn trong nhà bà Madalena Huỳnh Thị Lựu thì ĐC bị bắt, bị nhốt vào cũi giải lên tỉnh. Bà Lựu, hai chú giúp lễ và hai người khác cũng bị bắt và cùng bị xử vào tháng 12. Ngày đêm, ĐC bị nhốt luôn trong cũi. Sau ba tuần, Ngài bị bệnh kiết lỵ, kiệt sức và qua đời ngày 14-11-1861. Lúc đầu, bản án của Ngài là chém đầu, và bêu đầu giữa chợ. Nhưng ngài đã chết, nên đem chôn. Sau bản án sửa lại là quăng xác xuống sông. Nên xác Ngài bị quật lên và liệng xuống sông. Giáo Hội đã tuyên kính Ngài như Vị Tử Đạo, là Chân Phước (2-5-1909) và Hiển Thánh (19-6-1988).

II. Phương Án Truyền giáo

Phương án truyền giáo của Đức Cha Thể rất thực tế và hữu hiệu, đã thực hiện trong 26 năm làm giám mục tại VN (1835-1861). Mặc dầu trong thời bách đạo, gặp nhiều khó khăn, phương án này đã đem lại kết quả rất tốt đẹp. Ngài đã tạo thành một xứ đạo sống động, sầm uất. Sau này, người ta thấy nhiều xứ đạo tại miền bắc còn áp dụng. Phương án này gồm 6 hình thức :

1. Cầu nguyện.

Cầu nguyện là nhu cầu quan trọng hàng đầu, đối chính bản thân và khi khời sự làm việc gì. Vì Ngài đã có kinh nghiệm nhiều trong thời gian khủng hoảng khi còn là chủng sinh. Cậu đã thức tỉnh, ‘‘chỗi dậy nhờ cầu nguyện và làm bất cứ việc gì Chúa soi sáng’’. Theo Ngài, cầu nguyện không phải lặp đi lặp lại đứt quãng nhưng là bắt liên lạc không ngừng với Thiên Chúa, một sự hiến dâng từng giây phút những đau khổ, những lo âu. Trong thời gian sống ở hầm trú, sức mạnh của lời cầu nguyện đã giúp Ngài điều hành giáo đoàn sống đức tin vững mạnh.

2. Lập đoàn giáo lý viên

Trong thời gian cấm đạo, linh mục và các thày giảng quá ít lại phải lẩn trốn. Thánh Têphanô Thể luôn sống trong hầm tối tăm, thiếu thốn, không thể trực tiếp truyền giáo bên ngoài. Nhờ soi sáng trong lúc cầu nguyện, năm 1841, ngài bắt đầu tổ chức nhóm giáo lý viên. Chọn trong những người tự nguyện. Chia làm ba nhóm, theo mức hiểu biết và tinh thần phục vụ khác nhau :

- Nhóm nòng cốt 21 người : gồm đàn ông trưởng thành. Có đức tin vững, được huấn luyện kỹ, có khả năng, khuyên và dạy giáo lý cho tân tòng, chuẩn bị rửa tội.

- Nhóm 35 người : gồm thanh niên khỏe mạnh, lanh lợi, ăn nói được, đi theo các thừa sai và linh mục VN. Họ có trình độ dạy giáo lý cho giáo dân dự lễ, xưng tội và các bí tích khác. Họ được đào tạo trở thành thày giảng. Mỗi linh mục có 4 hoặc 3 thày giảng cùng làm việc. Các đoàn nhỏ này sống lưu động bằng lều trại.

- Nhóm đông hơn tới 2000 người : gồm những người cha trong gia đình, ở trong thôn làng. Công việc của họ là giữ trật tự an ninh trong xứ đạo, hay họ lẻ, thăm bệnh nhân, mời linh mục đi xức dầu bệnh nhân, rửa tội trẻ em sơ sinh, làm chứng hôn nhân.

3. Tổ chức học và thi giáo lý

Ngoài lớp đặc biệt cho tân tòng, các giáo lý viên mở lớp dạy giáo lý cho giáo dân, lớp cho trẻ em, lớp cho thanh niên nam nữ, lớp cho người lớn tuổi. Phần đông mở ngay trong xóm và vào buổi tối, khuya tới 11, 12 giờ. Về giáo lý thì học theo kiểu học thuộc lòng bằng những hỏi đáp, ca vè vắn gọn, dễ nhớ dễ thuộc. Tất cả các kinh được chia theo lứa tuổi. Cuộc thì tổ chức vào buổi tối, sau mùa gặt. Sau khi cơm nước và xong việc, trong thôn xóm, người ta chong đèn lên học. Hầu hết các kinh cũng được người ta hát lên.

Nhộn nhịp và hào hứng nhất là thi giáo lý, cho thiếu nhi, thanh niên và cả người trưởng thành. Được tổ chức như sau. Mỗi lớp giáo lý cử một người dự thi. Ngày thi được thông báo cả tháng trước. Nơi thi là nhà thờ xứ, vào buổi chiều. Tới ngày thi, Cha xứ (có khi mời cả Đức Cha), ngồi chủ tọa trước bàn thờ. Những người thông suốt kinh bổn trong các hội đoàn xứ được mời làm giám khảo, ngồi bàn hai bên cạnh cha. Ứng thi, thường một nam một nữ ngồi đối diện, trên chiếu, giữa nhà thờ. Người xem ngồi chung quanh. Tuyệt đối yên lặng. Bắt đầu bằng hồi trống và kinh Chúa Thánh Thần. Các câu hỏi được rút thăm trong một ống bằng sứ. Các ứng thi được suy nghĩ một hai phút sau khi câu hỏi được đọc lên. Bên này hỏi, bên kia thưa, luân phiên. Một viên chức cầm trống nhỏ để bắt lỗi, khi ứng thi trả lời. Khi ứng thi nào ngập ngừng nghi là lỗi, thì có một tiếng trống đánh lên. Ứng viên ngưng đọc, chờ ban giám khảo, quyết định cho là đúng hay sai. Sau đó lại tiếp tục. Tất cả có ba câu hỏi. Ai thuộc làu làu, không vấp câu nào, xếp hạng nhất. Ngừng một lần tức một lỗi, được hạng hai. Hai lỗi, hạng hai. Ba lỗi, thứ ba. Bốn lỗi bị loại. Tùy theo có bao nhiêu đôi dự thi. Sẽ chọn những người hạng nhất, thi lại với nhau. Và cuối cùng chọn lại ba người : nhất nhì ba. Phần thưởng là bánh trái, hay bông hoa tượng trưng. Nhưng danh dự và tiếng khen là qúi nhất. Điểm chú ý là giáo lý viên của người dự thi không được phép có mắt trong cuộc thi, phải ở phía sau bàn thờ, tránh nhắc bài cho học trò mình. Đức Cha đã chủ khảo cuộc thi cho các em thiếu nhi. Một em mới 10 tuổi được chấm hạng nhất. Để chấm dứt buổi thi, ba người được thưởng tiến lên bàn thờ Đức Mẹ hát bài tạ ơn. Cuộc thi kết thúc bằng thánh lễ. Và nếu có bữa cơm chung nho nhỏ, thì vui hơn.

4. Tổ chức cấm phòng.

Tổ chức cấm phòng không riêng cho những người đạo cũ, mà cả cho người lương hay những người thiện chí chưa có quan niệm rõ rệt về giáo lý. Thời gian cấm phòng kéo dài tới 40 ngày. Họ được tập trung một nơi để học giáo lý, nghe sách đạo, và ăn cơm chung.

Nếu ai bằng lòng học giáo lý tân tòng sẽ được mời về họp trong các họ đạo trong vùng. Từng nhóm 10, 15, hay 30 tùy theo có giáo lý viên. Nữ dạy cho nữ, nam cho nam. Mỗi ngày hai hay ba lần. Ngoài giáo lý còn có bài cắt nghĩa để họ khỏi mê tín và dị đoan. Trong giờ cơm chung họ phải nghe đọc sách đạo. Các buổi cấm phòng thường do các giáo lý viên tổ chức. Vì các linh mục phải lo mục vụ bên ngoài.

5. Dịch vụ tương trợ

Sau khi các tân tòng được rửa tội, phải tránh việc để cho các tân tòng trở về sống chung lại với người ngoại và gia đình họ. Để tránh quấy rày và ảnh huởng mê tín dị đoan. Nên Đức Cha đã dựng những lều trại, ở trong khu người công giáo. Cần độ 7 hay 8 quan Pháp đủ để nuôi một gia đình mới này. Sau đó mới tìm đất mới, rồi đem những gia đình hỗn hợp đạo mới cũ đến lập nghiệp. Không lấy làm lạ, khi các Thừa Sai mới đến VN, đã lập những làng toàn công giáo.

Đức Cha còn xin viện trợ để chuộc trẻ em bị bán cho người khác, hay những trẻ mồ côi. Mở cô nhi viện để chăm sóc và nuôi các em. Cứ hai Dì Phước và hai em lớn có đạo, điều hành một viện, với khoảng 30 em, tuổi cỡ từ 7 cho đến 20. Đa số là con gái. Các em do cha mẹ cho, hay đi lượm về. Nếu không đủ nhà, thì cho ở tạm nhà giáo lý viên, chờ cất nhà mới. ĐC vừa trốn chạy, vừa thực hiện cứu trợ và định cư. Công việc thật khó khăn và tốn kém.

5. Giáo dục giới trẻ

Đức Cha rất chú trọng tới việc tập trung vào một nơi những thanh thiếu niên nghèo để giáo dục, đào tạo và dạy chữ nghĩa cho họ nên người hữu ích. Giáo trình, theo chương trình đơn giản và mau chóng. Mục đích để có người có khả năng thay thế các Thày Giảng bị bắt hay chết trong giai đoạn cấm đạo. Nhưng kế hoạch phải bỏ dở. Vì cha mẹ họ quá nghèo, lại sợ con bị bắt và liên lụy, nên đành để con dốt nát. Số người trẻ thiện chí quá ít. Để cứu vãn tình thế, phải nhờ các thày dạy riêng và bắt các thanh niên tự học. Thật quá tốn kém. Trong 15 xứ đạo mà không tìm được lấy một vài thày giáo có đạo giỏi tốt lành, có uy tín. Trong khi đó, thày giáo người lương thì không thiếu. Sách vở viết toàn là mê tín và dâm đãng. Nên phải mở trường đào tạo thày dạy trước. Phải trả tiền cho mỗi giáo sư là 150 quan, mỗi năm. Và mỗi đầu người học trò tốn kém 60 quan. Như vậy một năm phải có cả 1000 quan, cho một lớp độ 14 người, khóa trình kéo dài ba năm. Mỗi tỉnh chỉ có một trường. Các giáo sư dạy luân phiên, hết trường này qua trường khác. Đặc biệt, Đức Cha chọn những ứng viên suất sắc gửi qua đại chủng viện, bên Penang để chịu chức linh mục. Tới năm 1861, Ngài đã gửi đi được 23 học sinh ưu tú.

III. Mở đường truyền Giáo : Đến tây nguyên Kontum

Công trình nổi bật nhất trong đời Vị ‘‘Thừa Sai Tân Tòng ’’ này là việc mở đường truyền giáo đến tây nguyên Kontum.

Công cuộc loan báo Tin Mừng cho Tây Nguyên đã manh nha từ 1672. Linh mục Giuse Trang một trong hai Linh mục đầu tiên của Đàng Trong được chỉ định phục địa sở Nước Mặn tỉnh Bình Định. Tiếc là cha qua đời sớm vì sốt rét. Sau đó, từ năm 1680, ba Linh mục Thừa Sai Paris là Courtaulin (?), Casimir Siméon Vacher (Talencieux, 1861-1888) và Pierre Le Noir (Calais, 1638-1685) tìm đường lên Tây Nguyên qua Quảng Ngãi, nhưng đều thất bại...

Phải đợi 150 năm sau, thánh Giám mục Étienne Théodore Cuénot Thể (Besançon 1802-1861) mới xúc tiến mộng ước đem Tin Mừng đến vùng sông Lớn bên Lào. Dù đã 20 lần thất bại, Đức Cha vẫn kiên trì. Khi vua Tự Đức lên ngôi, cuộc bách đạo gay gắt và đẵm máu. Đức cha cử thày sáu Phanxicô Nguyễn Văn Do, sau 9 năm học từ Pénang về, mở đường cho công việc khó khăn nguy hiểm này, bằng khẩu lệnh đơn giản : ‘‘Thày cứ xẻ rừng mà đi, khi nào gặp con sông lớn thì dừng lại lập làng và rao giảng Tin Mừng’’. Thày Sáu Do bắt đầu bằng 6 tháng làm công cho một thương gia, gánh hàng theo chủ đi đó đây, để dò đường đi và học tiếng dân cư trong vùng. Sau thày lập một đoàn buôn riêng. Hai chuyến đầu thất bại. Trên đường đi gặp buôn làng người dân tộc, nguy hiểm rình rập. Nhưng Chúa quan phòng đã dọn lòng cho những bô lão trong làng nâng đỡ, mua lương thực, che dấu khỏi bị quan quân lùng bắt.

Năm 1850, thầy Thám là em ruột thày Do hướng dẫn nhóm thứ hai, gồm hai Thừa Sai và 15 giáo dân, đi theo lối cũ của thày Do lên Tây Nguyên. Những giáo điểm đầu tiên mọc lên. Các Thừa Sai đã sáng tạo ra chữ sắc tộc Bahnar, Sedang và Jarai. Sau khi lãnh chức linh mục, Cha Do bắt đầu làm việc tại Plei Rơhai, tức Gò Mít, nay là Tân Hương, thị xã Kontum. Các vị Thừa Sai chia nhau trách nhiệm một nơi. Trong khi đó ở miền đồng bằng cơn bắt đạo dữ dội.

Ngày 12-11-1998, giáo phận Kontum tổ chức đại lễ mừng kỷ niệm 150 năm đón nhận Tin Mừng tại Tây Nguyên (1848-1998). Năm toàn xá kỷ niệm bắt đầu từ 01-01-1998.

Cảm thông khi nhìn vào tấm gương sáng ngời và lòng nhiệt thành của Thánh Giám Mục Thừa Sai Tông đồ truyền giáo. Chính máu các Ngài đổ ra, làm trổ sinh bao hoa trái thiêng liêng cho GH VN. Chúng ta vừa cảm tạ Thiên Chúa vừa cảm thấy hổ then vì được nhiều thuận lợi mà không giữ đạo và không giữ được tinh thần truyền giáo bằng thế hệ cha ông. Nhưng không vì thế mà bi quan hay thất vọng. Vẫn còn thời gian với thiện chí, các Thánh Tử Đạo VN, đặc biệt 10 vị Thánh Thừa Sai, Paris. Những người đã từng sống với chúng ta, nên hiểu thấu tâm trạng và khát vọng của tín hữu VN hơn ai hết sẽ cầu thay nguyện giúp và phù hộ cho Giáo Hội VN. (giaoxuvnparis.org)

Tài Liệu viết bài

- Gm. Phêrô Nguyễn Soạn, Tông đồ theo gương Thánh Têphanô. Bản Tin Hiệp Thông, Hội Đồng Giám Mục VN, số 12. Tháng 5-2002, ttr. 17-20.- Trần Anh Dũng, Hội Đồng GM VN. 1980-2000. tr. 382.

- Thiên Hùng Sử. 117 Hiển Thánh Tử Đạo VN, ttr. 423-429.

- Mục Vụ Thụy sỹ. Số 173, 12-1998, tr. 38- 41.