Ý NGHĨA NGÀY CHÚA NHẬT
Chúa nhật là ngày của Chúa, ngày mừng Đức Ki-tô phục sinh, ngày cử hành Thánh Thể, ngày nghỉ ngơi, ngày giải trí, ngày nếm cảm được hương vị của Thiên đàng.
Vì vậy, bài này có hai phần : một phần nghiên cứu và một phần thực hành. Phần nghiên cứu đề cập đến nguồn gốc ngày Chúa nhật trong Kinh thánh và mầu nhiệm ngày Chúa nhật trong tác phẩm của các giáo phụ. Phần thực hành bàn về việc chuẩn bị ngày Chúa nhật cũng như cách thế cử hành và sống ngày đó.
Nhưng trước khi đi thẳng vào bài, tưởng cũng nên nhắc lại giáo huấn của Công đồng Va-ti-ca-nô II về ngày Chúa nhật, trong Hiến chế Phụng vụ số 102 và 106, vì hai số này là căn bản cho những suy diễn của toàn bài.
Số 102 đưa ra định nghĩa về ngày Chúa nhật và trình bày năm phụng vụ như là một cuộc mừng kính mầu nhiệm cứu chuộc với những lời lẽ như sau :
“Mẹ chúng ta là Hội thánh thấy mình có bổn phận phải mừng kính công trình cứu chuộc của Bạn Trăm năm, bằng một cuộc tưởng nhớ thánh thiêng vào những ngày nhất định trong suốt cả năm. Mỗi tuần vào ngày gọi là ngày của Chúa, Hội thánh tưởng nhớ cuộc phục sinh của Chúa. Cuộc phục sinh này cũng là chính cuộc phục sinh Hội thánh cử hành long trọng mỗi năm một lần, cùng với cuộc thọ hình trong đại lễ Vượt Qua.”
Số 106 diễn tả chi tiết hơn các dạng khác nhau của ngày Chúa nhật. Ngày Chúa nhật cốt yếu là ngày họp nhau để mừng kính mầu nhiệm Đức Ki-tô sống lại mà ngọn nguồn có từ thời Tân Ước. Số này nói như sau :
“Hội thánh mừng kính mầu nhiệm phục sinh, dựa vào truyền thống của các Tông đồ có ngay từ chính ngày Đức Ki-tô phục sinh là ngày thứ tám được gọi chí lý là ngày của Chúa hay Chúa nhật.”
Bản văn này tuy rất ngắn gọn, nhưng cũng cho thấy một cách chính xác bản tính và danh xưng của ngày Chúa nhật : bản tính là ngày mừng kính mầu nhiệm phục sinh, và danh xưng là ngày của Chúa.
Phần kế tiếp của bản văn nói về luật buộc phải thánh hóa ngày Chúa nhật và trình bày nền tảng học thuyết của luật buộc này, căn cứ vào hiệu quả ân sủng ngày Chúa nhật mang lại cho những người biết thánh hóa ngày ấy. Đoạn này nói : “Quả vậy, ngày hôm đó, các tín hữu phải hội họp nhau để nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Thể, mà nhớ lại cuộc thọ hình, sự sống lại vinh hiển của Đức Ki-tô, và tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã “cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.” (1Pr 1,3)
Hai câu cuối cùng của số 106 cho thấy những hiệu quả về mặt mục vụ và phụng vụ, phát xuất từ bản tính ngày Chúa nhật là ngày mừng kính hàng tuần mầu nhiệm phục sinh. Hai câu đó viết rằng : “Ngày Chúa nhật là ngày lễ quan trọng bậc nhất, phải trình bày và ghi sâu vào tâm trí giáo dân cho họ sốt sắng tuân hành, ngõ hầu ngày ấy trở thành ngày vui và ngày nghỉ việc. Những ngày lễ khác, trừ khi là những lễ thực sự tối ưu quan trọng, không được lấn át ngày Chúa nhật, vì Chúa nhật là nền tảng cốt lõi của tất cả năm phụng vụ.”
Xem đây thì thấy tuy không coi nhẹ việc nghỉ ngày Chúa nhật, nhưng Công đồng cũng chỉ dành cho việc nghỉ ngơi ngày Chúa nhật một giá trị tương đối thôi, nghĩa là vì Chúa nhật là lễ trọng vào bậc nhất nên Chúa nhật là một ngày vui trước, rồi mới là một ngày nghỉ sau.
Bản văn Công đồng này đã thu tóm được ý nghĩa và mục đích của ngày Chúa nhật. Đó là kết quả của bao năm tìm tòi và thử nghiệm trong lãnh vực phụng vụ và mục vụ. Bây giờ xin đi vào chi tiết để tìm hiểu ngọn nguồn của ngày Chúa nhật trong Kinh thánh và trong tác phẩm của các giáo phụ.
A. PHẦN NGHIÊN CỨU
I. Nguồn gốc ngày Chúa nhật trong Kinh thánh
Theo tài liệu Công đồng mới trích dẫn ở trên, Hội thánh mừng kính mầu nhiệm phục sinh vào chính ngày Chúa Ki-tô sống lại. Về nguồn gốc lập ra ngày Chúa nhật thì các sử gia chấp nhận một cách dễ dàng, chỉ có mối tương quan giữa ngày Chúa nhật và ngày sa-bát là gây tranh cãi mà thôi.
1. Ngày thứ nhất trong tuần trở thành ngày của Chúa :
Lịch sử ngày Chúa nhật bắt đầu bằng cuộc sống lại của Đức Ki-tô vào ngày thứ ba sau khi Người chết, và ngày thứ nhất trong lễ Do thái. Chính Người đã ghi một dấu đặc biệt lên ngày thứ nhất sau ngày sa-bát, bằng cách chọn ngày đó để ra khỏi mồ. Các tác giả Tin Mừng đã tường thuật biến cố này thật là khúc chiết. Nhưng đây không phải là tường thuật một sự kiện lịch sử mà thôi, vì trong những bài tường thuật đó, đã thấy lộ ra những yếu tố đạo lý về việc mừng kính ngày Chúa nhật.
1.1 Ngày Phục Sinh
Sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Ki-tô đã sống lại và hiện ra với các người thân. Sau khi đã hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la, và mấy phụ nữ khác, rồi ông Phê-rô, chính ngày hôm đó Người lại hiện ra với hai người môn đệ trên đường Em-mau. Các ông này nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh chia cho các ông. Sau đó, Người hiện ra với các Tông đồ đang hội nhau ở nhà Tiệc ly. Người ăn với các ông và nói : “Như Chúa Cha đã sai Thầy thì bây giờ Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha.” (Ga 20,21-23).
Tất cả những sự việc trên diễn tả một cách đầy đủ ngày Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh. Đây là biến cố chính yếu của lịch sử cứu độ. Biến cố này ghi dấu đến muôn đời ngày thứ nhất trong tuần. Mầu nhiệm mà ngày nay chúng ta cử hành trong các ngày Chúa nhật đã có từ ngày Chúa phục sinh.
1,2 Tám ngày sau
Nhưng nếu chỉ có Chúa nhật thứ nhất này thì chưa có gì khiến người ta cử hành mỗi tuần một lần ngày ấy như một ngày lễ. Phải có một ngày khác nữa, đó là sau khi hoàn thành mầu nhiệm cứu chuộc vào một ngày lịch sử, Chúa Ki-tô đã phân biệt ngày này với sáu ngày khác. Người đã tách biệt, thánh hóa và làm cho ngày ấy thành ngày riêng của Người. Tám ngày sau, Người lại hiện ra với các môn đệ. Ngày Chúa nhật của chúng ta hiện nay đã bắt đầu từ ngày ấy, ngày kỷ niệm tám ngày sau khi Chúa Giê-su sống lại, ngày Chúa nhật của Tông đồ Tô-ma. Ngay từ tuần Bát nhật Phục sinh, ngày thứ nhất trong tuần đã được ấn định là ngày Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ. Không thấy nói Người hiện ra vào một ngày nào khác. Các cuộc gặp gỡ giữa Người với các môn đệ đều diễn ra vào ngày Chúa nhật. Đó là nguồn gốc các buổi gặp gỡ đầu tiên giữa các tín hữu.
Thánh Gio-an tường thuật giai đoạn này như sau :
“Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà đó, lần này có cả ông Tô-ma nữa. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói :“Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng tin nữa, nhưng hãy tin.” Ông
Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con !” Đức Giê-su bảo : “Vì thấy Thầy, nên anh mới tin. Phúc cho những người không thấy mà tin !”
(Ga 20,26-29)
Xưa nay đọc đoạn Tin Mừng vắn tắt này, thường người ta chỉ chú trọng tới cuộc hiện ra của Chúa Giê-su và sự cứng lòng tin của ông Tô-ma nhiều hơn là những gì khác. Điều này không sai. Nhưng ở đây còn hai yếu tố khác sẵn có để làm nền tảng cho giáo lý về ngày Chúa nhật : đó là các dấu đanh và sự cần thiết phải có lòng tin. Khi tỏ các dấu đanh cho ông Tô-ma là Chúa Giê-su muốn đặt thánh giá vào trung tâm các cuộc cử hành phục vụ, và khi đòi ông Tô-ma phải tin là Người muốn rằng khi cử hành phụng vụ, người ta phải tin và phải quy tụ các tín hữu lại với nhau.
1,3 Ngày thứ nhất, ngày lễ hàng tuần
Ngoài các sách Tin Mừng, sách Công vụ Tông đồ cũng cho ta thấy vị trí của ngày thứ nhất, đối với các tín hữu thuộc thế hệ đầu. Theo chương hai mươi thì ngày Chúa nhật đã có từ thời thánh Phao-lô, khi ngàii đi hết nơi này đến nơi khác để lập các giáo đoàn : “Ngày thứ nhất trong tuần, chúng tôi họp nhau làm lễ bẻ bánh. Ông Phao-lô thảo luận với các anh em, và vì hôm sau ông ra đi, nên ông đã kéo dài cuộc nói chuyện đến mãi nửa đêm.” (Cv 20,70) Thánh Phao-lô cũng xin tín hữu Cô-rin-tô quyên tiền vào ngày thứ nhất. Ngày Chúa nhật đã được đặt ra làm ngày nhất định để họp nhau. Đó là ngày Đấng phục sinh ngồi đồng bàn với các môn đệ. Chỉ cần các Ki-tô hữu họp nhau lại ngày hôm đó là Chúa Ki-tô có mặt một cách đặc biệt.
Trong các giáo đoàn do thánh Phao-lô thành lập, ngày Chúa nhật vẫn giữ tên Do thái là ngày hôm sau ngày sa-bát, hay ngày thứ nhất trong tuần. Chỉ trong sách Khải huyền mới thấy tên riêng là ngày của Chúa: “Tôi đã xuất thần vào ngày của Chúa và nghe đàng sau tôi có một tiếng lớn như thể tiếng kèn.” (Kh 1,10)
Ngày Chúa nhật đã được cử hành ngay từ thời đó như một ngày lễ hàng tuần để tôn kính Chúa Giê-su Ki-tô. Có lẽ khi dùng chữ ngày của Chúa, người ta muốn dùng kiểu nói đó để tôn kính Đức Ki-tô là Chúa, nghĩa là Chủ tể càn khôn, Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết. Trong sách Khải huyền thường hay thấy phảng phất biểu tượng phục sinh. Trong Tin Mừng theo thánh Gio-an, cũng thấy nói đến ngày Chúa nhật.
Ngày Phục sinh, ngày thứ nhất trong tuần đã khai mạc một chương trình cứu độ mới, một nền phụng vụ mới vượt lên trên các ngày lễ Do thái, một cách thờ phượng mới trong tinh thần và trong chân lý. Tất cả Tin Mừng theo thánh Gio-an đều xây dựng trên mầu nhiệm phục sinh. Đó là nhận xét của nhiều nhà chú giải Kinh thánh và sử học gần đây như Y.B.Trémel, M.E. Boismard, D.Mollat và A.Jaubert. Những nhận xét này củng cố thêm xác tín đã có từ lâu về nguồn gốc ngày Chúa nhật phát xuất từ thời các Tông đồ.
2. Ngày Chúa nhật đã thay thế ngày sa-bát thế nào ?
2.1 Nét độc đáo của ngày Chúa nhật
Một sự kiện rất đáng chú ý là ngày Chúa nhật đã được Hội thánh lập ra. Đôi khi có người lầm tưởng rằng đó là ngày sa-bát chuyển qua, nhưng không phải. Giữa ngày sa-bát và Chúa nhật có một liên hệ lịch sử, vì ngày Phục sinh diễn ra vào hôm sau ngày sa-bát. Còn về nội dung thì ngày Chúa nhật có một nội dung tôn giáo độc lập và đặc biệt, không phát xuất từ ngày sa-bát. Cho nên nền tảng của ngày Chúa nhật không phải là ngày sa-bát Do thái.
Có hai lý do minh chứng điều này :
2.2 Liên hệ giữa ngày sa-bát và Chúa nhật
Tuy Chúa nhật không thay thế cho ngày sa-bát và cũng không phải là ngày sa-bát kéo dài sang, nhưng giữa hai ngày đó vẫn có một vài liên hệ. Đó là sự liên hệ giữa việc thờ phượng và sự nghỉ ngơi, nhưng chỉ là liên hệ thực tế hơn là liên hệ cốt yếu.
Quả thật trong ngày sa-bát, người Do thái có đến hội đường để nghe sách luật và phải nghỉ việc hoàn toàn, cũng như người công giáo đi nhà thờ dự lễ và kiêng việc xác. Hiểu như thế thì có liên hệ, còn ngoài ra thì ít liên hệ và lại khác nhau nữa, như đã nói ở trên, vì Chúa nhật cốt yếu là ngày thờ phượng, còn nghỉ việc chỉ là phụ thuộc và tương đối. Đàng khác mãi đến thế kỷVI, Hội thánh mới buộc phải kiêng việc nặng nhọc ngày Chúa nhật và dần dần sau này mới coi việc nghỉ ngày Chúa nhật là một yếu tố gắn liền với ngày của Chúa.
II. Ngày Chúa nhật trong tác phẩm của các giáo phụ
Vấn đề này đã được một số tác giả nghiên cứu và trình bày như Đ.H.Y Daniélou trong hai tác phẩm : Le Jour du Seigneur và Bible et liturgie; cha J. Hild trong bài Dimanche et vie pascale; cha Gaillard trong bài Dimanche; cha B.Haring trong La Loi du Christ; cha Jounel trong cuốn L’Eglise en prière và cha Rouillard trong bài Les Pères : signification du Dimanche. Dưới đây là mấy nét chính của các giáo phụ về ngày Chúa nhật.
Đối với các tín hữu cũng như các giáo phụ trong mấy thế kỷ đầu, thì nét độc đáo của ngày Chúa nhật không phải vì ngày đó là ngày nghỉ. Mãi đến thời vua Công-tăng-ti-nô thế kỷ IV, việc nghỉ ngày Chúa nhật mới phổ cập. Ngoài ra, nét độc đáo cũng không phải vì ngày đó là ngày phải dự lễ cho bằng là một ngày có chứa đựng một mầu nhiệm mà không ngày nào khác trong tuần có được. Nghỉ hay không nghỉ, có lễ hay không lễ, ngày Chúa nhật vẫn là ngày của Chúa, ngày Chúa đã thánh hóa và hiến thánh một cách độc đáo nên đóng một vai trò đặc biệt trong diễn tiến lịch sử cứu độ. Khi cứu xét các liên quan giữa ngày Chúa nhật với Chúa Ki-tô, các giáo phụ thấy có ba yếu tố :
Cử hành, mừng kính ngày Chúa nhật đối với một người có đạo cũng như đối với cộng đồng Ki-tô hữu, trước hết có nghĩa là nhớ rằng Đức Ki-tô đã sống lại. Sự sống lại này là đối tượng và căn bản đức tin, là bảo đảm niềm hy vọng và ơn cứu độ cho họ ngay từ bây giờ và cả bên kia thế giới nữa.. Theo thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a thì ngày Chúa nhật là nguyên lý làm cho người Ki-tô hữu khác với người theo Do thái giáo, như lời thánh nhân viết : “Những ai trước kia sống theo trật tự của chế độ cũ thì bây giờ đạt được niềm hy vọng mới, không phải giữ ngày sa-bát nữa, nhưng sống theo ngày của Chúa, ngày mà cuộc đời của chúng ta bừng lên nhờ Người và nhờ cái chết của Người.” (Epitre aux Malésiens 9,1) Khi mừng kính ngày Đức Ki-tô sống lại là chúng ta nhớ đến cái chết của Người trên thánh giá, nhớ đến mầu nhiệm phục sinh bất khả phân ly giữa cái chết và sự sống lại của Người và nhớ đến mầu nhiệm cứu độ, nhờ công ơn Đức Ki-tô xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta. Tác giả Êu-dê-bi-ô thành A-lê-xan-ri-a hồi thế kỷ V có viết : “Ngày Chúa nhật là ngày tưởng niệm Đức Ki-tô, đó là một bản ghi nhớ đầy đủ về chương trình cứu độ. Ngoài việc tưởng niệm cuộc Phục sinh của Đức Ki-tô, ngày Chúa nhật còn là thời điểm phát sinh một cuộc tạo thành mới.. Thế giới này từ khởi thủy đã được dựng nên đẹp đẽ và có trật tự, nhưng tội lỗi đã làm cho vẩn đục và xáo trộn. Thế giới hư hỏng đó, trong buổi sáng Phục sinh, đã được tái tạo lại, nhờ cuộc chiến thắng tội lỗi và cái chết của Đức Ki-tô.” Cha Rouillard trong bài Les Pères : Signification du Dimanche cũng viết : “Mỗi Chúa nhật nhắc lại cho chúng ta cuộc tái tạo này, cuộc tái tạo sau biến cố Phục sinh. Không những nhắc lại mà còn tiếp tục và đổi mới trải qua thời gian. Bởi đó, ngày Chúa nhật biện minh cho danh hiệu là ngày thứ nhất và cho vị trí được đặt ở đầu tuần lễ. Khi mừng kính Đức Ki-tô phục sinh vào mỗi Chúa nhật, người Ki-tô hữu phải nhớ rằng mình cũng là người phục sinh và sống như người đã phục sinh : trong suốt cuộc đời, việc mừng kính ngày Chúa nhật giúp họ cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới được dựng nên theo hình ảnh Đức Ki-tô.”
2. Dấu hiệu về sự có mặt của Đức Ki-tô
Ngày Chúa nhật không phải chỉ đưa chúng ta trở về tưởng nhớ dĩ vãng mà thôi, nhưng còn tập hợp chúng ta lại chung quanh Đức Ki-tô hiện diện. Chúa nhật là ngày của Chúa, ngày Chúa hiện diện giữa con cái hội họp nhau lại nhân danh Người. Đó là ngày của cộng đoàn, ngày thực hiện và biểu dương sự hiệp nhất của Hội thánh là thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô. Trong sách Giảng huấn của các Tông đồ có lời quở trách sau đây : “Hãy truyền và thuyết phục dân phải trung thành với việc hội họp, để đừng ai làm cho Hội thánh bị thiếu hụt vì mình không đi, và đừng ai làm cho thân thể Đức Ki-tô phải bớt đi một thành phần. Anh em đừng tự khinh mình, đừng để cho Đấng Cứu chuộc chúng ta phải thiếu các thành phần, đừng xâu xé và phân tán thân thể Người.” (Didascalie des Apôtres, 13, Trad. F.Nau p. 116)
Ngày Chúa nhật, giáo dân quy tụ nhau tại nhà thờ, tập trung quanh bàn thánh, đó là hình ảnh về sự hiệp nhất của Hội thánh địa phương và qua Hội thánh địa phương, nhờ các cử chỉ tương thân tương ái mà sự hiệp nhất của Hội thánh phổ cập được biểu lộ. Vì vậy, thánh Giút-ti-nô mới viết : “Ngày hôm đó, ai dư giả và muốn thì cho tùy ý. Thu được cái gì thì nộp cho vị chủ tọa và vị này đem giúp những người mồ côi, nghèo khổ, ốm đau.” (Justin, Ière Aplologie, 67,6)
Khi hội họp nhau như thế, các Ki-tô hữu không nhằm gặp nhau cho bằng gặp nhau chung quanh Đức Ki-tô. Cuộc hội họp của họ chỉ có đầy đủ ý nghĩa khi có Chúa hiện diện với họ. Chúa hiện diện giữa họ trong thánh lễ, vì thánh lễ là dấu hiệu về sự hiện diện của Người. Chính nhờ thánh lễ mà Đức
Ki-tô gặp lại con cái mình, đưa họ dần dần tiến đến tình trạng phục sinh của Người và xây dựng Hội thánh. Ngày Chúa nhật là ngày tốt nhất để cử hành thánh lễ. Các Ki-tô hữu phải bỏ tất cả để tham dự thánh lễ. Về vấn đề này, sách Giảng huấn của các Tông đồ dạy rằng: “Anh em đừng để các công việc phần đời lên trên Lời Chúa, nhưng trong ngày của Chúa, hãy bỏ tất cả và chuyên cần đến nhà thờ, vì đó là nơi anh em dâng lời ngợi khen lên Thiên Chúa. Chẳng vậy thì những người không hội nhau vào ngày của Chúa, để nghe lời ban sự sống và nuôi dưỡng mình bằng của ăn thánh tồn tại muôn đời; sẽ lấy lẽ gì để bào chữa trước mặt Người ?” (Didascalie 13. p. 116)
Vì vậy, ngày của Chúa đối với các Giáo phụ cũng là ngày vui. Không vui làm sao được khi mừng Chúa sống lại và chính mình cũng đang tập sống như người đã phục sinh ? Niềm vui thoát ra từ các bài tường thuật Chúa hiện ra trong Tin Mừng cũng phải là niềm vui của chúng ta trong các ngày Chúa nhật. Tác giả Thư thánh Bác-na-ba Tông đồ vào khoảng năm 135 viết : “Chúng tôi vui vẻ sống ngày thứ tám này, ngày Đức Giê-su phục sinh và sau khi đã hiện ra thì lên trời.” (Hemmer : Epitre de Barnabé 15.9, p. 88) Theo cách Giảng huấn của các Tông đồ thì ai buồn phiền trong ngày đó là mắc tội Didascalie 31, p.117). Đầu thế kỷ V, Đức Giáo Hoàng I-no-xen-tê I cũng viết là mỗi Chúa nhật đều rực sáng lên niềm vui phục sinh. (Innocent Ier : Epist. 26,7; PL 20.555.556) Vì thế ngày hôm đó không nên làm các việc hy sinh hãm mình, kể cả xưng tội. Người ta đứng mà cầu nguyện. Giáo phụ Te-tu-li-a-nô đã nhắc lại điều này và thánh Phê-rô thành A-lê-xan-ri-a giải thích : “Chúng tôi mừng ngày Chúa nhật như một ngày vui vì Đấng đã sống lại ngày hôm đó; ngày hôm đó chúng tôi có thói quen không quỳ gối.”5 Còn thánh Ba-di-li-ô thì nói : “Vì chúng tôi sống lại với Đức Ki-tô và phải tìm kiếm những sự trên trời nên trong ngày phục sinh, chúng tôi nhớ lại ơn đã nhận được mà ở trong tư thế đứng.” (Pierre d’Alexandrie, Epistola canonica )
3. Hình ảnh thế giới tương lai
Ngày xưa Chúa đã sống lại và bây giờ hiện diện trong cộng đoàn đang tụ họp để hành lễ cũng là Đấng sẽ trở lại uy hùng rực rỡ để phán xét người sống và kẻ chết. Tín điều này làm cho ngày Chúa nhật có tính cánh chung. Cũng như tất cả các dấu hiệu bí tích khác, ngày Chúa nhật không những quay về dĩ vãng mà còn hướng về tương lai nữa. Mối tương quan giữa ngày Chúa nhật với tương lai đời đời mà ngày Chúa nhật loan báo và chuẩn bị, chiếm một chỗ quan trọng trong các lời giảng huấn của các Giáo phụ. Nhiều Giáo phụ nghĩ rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại trần gian để phán xét người sống và kẻ chết vào ngày Chúa nhật và “Nếu các Ki-tô hữu có họp nhau lại ngày hôm đó thì cũng là để chờ Chúa đến và nói với Người tha thiết hơn : Xin đến, lạy Chúa xin mau đến ! Với hy vọng thầm kín là sẽ được Chúa chấp nhận ngay chính ngày hôm đó.” (Bernard Haring : la loi du Christ p. 315-316)
Ngày Chúa nhật tượng trưng cho chúng ta vương quốc vô tận; sự nghỉ ngơi đời đời với Chúa, lời ca tụng không cùng bên cạnh Con Chiên với muôn ngàn thần thánh trên trời. Vì thế phải nhìn ngày đó như là hình ảnh của thế giới tương lai. Đó cũng là điều các giáo phụ muốn diễn tả, khi suy nghĩ về con số tám. Quả vậy, ngày Chúa nhật, nếu là ngày thứ nhất thì cũng là ngày thứ tám, như thánh Giút-ti-nô nói : “Ngày thứ nhất cũng gọi là ngày thứ tám, nếu tính ngày đó sau các ngày trong tuần lễ. Dù tính như vậy nhưng vẫn là ngày thứ nhất.” (Justin : Dialogue avec Tryphon 41,4) Đối với thánh nhân, ngày thứ tám lại còn chứa đựng một mầu nhiệm. Ban đầu người ta muốn lấy ngày Chúa nhật chọi lại với ngày sa-bát khi bảo rằng ngày thờ phượng của người Ki-tô hữu cứ lặp lại sau tám ngày chứ không phải sau bảy ngày. Con số tám tượng trưng cho sự viên mãn, cho thế giới tương lai vì trong đó có bao hàm sức năng động của ngày Chúa phục sinh. (Basile de Césarée : Traité du Saint Esprit 37) Thánh Ba-di-li-ô áp dụng tư tưởng trên cho ngày Chúa nhật mà bảo rằng : “Đó là ngày không cùng, không hề có buổi chiều cũng chẳng có ngày hôm sau, đó là thế kỷ bất hủ chẳng bao giờ tàn.” ((cf. M. MacMahon : Le huitième jour, Méditation patristique, dans Contacts, 13, 1963 p. 96-98)
Như vậy, ngày thứ tám, ngày Chúa nhật là hình ảnh và điềm tiên báo thế giới tương lai và sự sống đời đời; ngày tưởng niệm Đức Ki-tô sống lại đó cũng là một bảo đảm cho ngày Người trở lại, một bảo đảm cho chúng ta được tham dự đầy đủ vào mầu nhiệm phục sinh.
B. PHẦN THỰC HÀNH
Phần thực hành bàn về việc chuẩn bị ngày Chúa nhật cũng như cách thế cử hành và sống ngày đó có tính cá nhân nhiều hơn, và tùy theo kinh nghiệm, cách sắp xếp và tâm tính của mỗi người hơn là những gì khác. Vì thế không thể hệ thống hóa hay kiểu thức hóa như một bản mẫu hay một sơ đồ cho chúng ta rập khuôn được. Chỉ có một điều phải nói thôi là dù theo cách nào đi nữa thì chúng ta vẫn phải chuẩn bị, nếu muốn cho ngày Chúa nhật có ích cho cả linh mục lẫn giáo dân, và đạt được một hiệu năng nào đó về phương diện mục vụ. Thường giáo dân hay kêu linh mục làm lễ lâu, giảng dài, giảng lung tung người nghe không bắt được ý, đọc các lời nguyện và kinh nguyện Thánh Thể ào ào như máy, không có hồn, không có sức cảm hóa và lay động người ta. Về việc hát xướng thì các linh mục hay để cho ca đoàn tùy tiện, muốn hát thế nào thì hát, muốn hát bài nào cũng được, bất kể hợp phụng vụ hay không. Ngược lại, có linh mục lại bị phê bình là làm lễ quá nhanh không chịu soạn bài giảng, và làm việc như công chức.
Về phía linh mục thì có vị phải làm quá nhiều lễ, và bận nhiều việc trong ngày Chúa nhật : nào là lễ, giáo lý, chầu phép lành, sinh hoạt đủ thứ, khiến cho ngày Chúa nhật chẳng còn gì là thảnh thơi, nghỉ ngơi hay giải trí cả tinh thần lẫn thể xác. Do đấy không còn ý nghĩa bao nhiêu như đúng ra nó phải có. Vấn đề là ở chỗ đó.
Bởi vậy, tìm hiểu ý nghĩa đích thực của ngày Chúa nhật và sống theo ý nghĩa của ngày đó là điều cần thiết và bổ ích, để ngày đó trở thành một thứ tiền vị của thiên đường, nơi mai ngày mọi người tin và thờ phượng Chúa với tất cả tâm hồn, sẽ được qui tụ về để muôn đời tôn vinh chúc tụng và hưởng hạnh phúc không cùng bên Chúa.
Chúa nhật là ngày của Chúa, ngày mừng Đức Ki-tô phục sinh, ngày cử hành Thánh Thể, ngày nghỉ ngơi, ngày giải trí, ngày nếm cảm được hương vị của Thiên đàng.
Vì vậy, bài này có hai phần : một phần nghiên cứu và một phần thực hành. Phần nghiên cứu đề cập đến nguồn gốc ngày Chúa nhật trong Kinh thánh và mầu nhiệm ngày Chúa nhật trong tác phẩm của các giáo phụ. Phần thực hành bàn về việc chuẩn bị ngày Chúa nhật cũng như cách thế cử hành và sống ngày đó.
Nhưng trước khi đi thẳng vào bài, tưởng cũng nên nhắc lại giáo huấn của Công đồng Va-ti-ca-nô II về ngày Chúa nhật, trong Hiến chế Phụng vụ số 102 và 106, vì hai số này là căn bản cho những suy diễn của toàn bài.
Số 102 đưa ra định nghĩa về ngày Chúa nhật và trình bày năm phụng vụ như là một cuộc mừng kính mầu nhiệm cứu chuộc với những lời lẽ như sau :
“Mẹ chúng ta là Hội thánh thấy mình có bổn phận phải mừng kính công trình cứu chuộc của Bạn Trăm năm, bằng một cuộc tưởng nhớ thánh thiêng vào những ngày nhất định trong suốt cả năm. Mỗi tuần vào ngày gọi là ngày của Chúa, Hội thánh tưởng nhớ cuộc phục sinh của Chúa. Cuộc phục sinh này cũng là chính cuộc phục sinh Hội thánh cử hành long trọng mỗi năm một lần, cùng với cuộc thọ hình trong đại lễ Vượt Qua.”
Số 106 diễn tả chi tiết hơn các dạng khác nhau của ngày Chúa nhật. Ngày Chúa nhật cốt yếu là ngày họp nhau để mừng kính mầu nhiệm Đức Ki-tô sống lại mà ngọn nguồn có từ thời Tân Ước. Số này nói như sau :
“Hội thánh mừng kính mầu nhiệm phục sinh, dựa vào truyền thống của các Tông đồ có ngay từ chính ngày Đức Ki-tô phục sinh là ngày thứ tám được gọi chí lý là ngày của Chúa hay Chúa nhật.”
Bản văn này tuy rất ngắn gọn, nhưng cũng cho thấy một cách chính xác bản tính và danh xưng của ngày Chúa nhật : bản tính là ngày mừng kính mầu nhiệm phục sinh, và danh xưng là ngày của Chúa.
Phần kế tiếp của bản văn nói về luật buộc phải thánh hóa ngày Chúa nhật và trình bày nền tảng học thuyết của luật buộc này, căn cứ vào hiệu quả ân sủng ngày Chúa nhật mang lại cho những người biết thánh hóa ngày ấy. Đoạn này nói : “Quả vậy, ngày hôm đó, các tín hữu phải hội họp nhau để nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Thể, mà nhớ lại cuộc thọ hình, sự sống lại vinh hiển của Đức Ki-tô, và tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã “cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.” (1Pr 1,3)
Hai câu cuối cùng của số 106 cho thấy những hiệu quả về mặt mục vụ và phụng vụ, phát xuất từ bản tính ngày Chúa nhật là ngày mừng kính hàng tuần mầu nhiệm phục sinh. Hai câu đó viết rằng : “Ngày Chúa nhật là ngày lễ quan trọng bậc nhất, phải trình bày và ghi sâu vào tâm trí giáo dân cho họ sốt sắng tuân hành, ngõ hầu ngày ấy trở thành ngày vui và ngày nghỉ việc. Những ngày lễ khác, trừ khi là những lễ thực sự tối ưu quan trọng, không được lấn át ngày Chúa nhật, vì Chúa nhật là nền tảng cốt lõi của tất cả năm phụng vụ.”
Xem đây thì thấy tuy không coi nhẹ việc nghỉ ngày Chúa nhật, nhưng Công đồng cũng chỉ dành cho việc nghỉ ngơi ngày Chúa nhật một giá trị tương đối thôi, nghĩa là vì Chúa nhật là lễ trọng vào bậc nhất nên Chúa nhật là một ngày vui trước, rồi mới là một ngày nghỉ sau.
Bản văn Công đồng này đã thu tóm được ý nghĩa và mục đích của ngày Chúa nhật. Đó là kết quả của bao năm tìm tòi và thử nghiệm trong lãnh vực phụng vụ và mục vụ. Bây giờ xin đi vào chi tiết để tìm hiểu ngọn nguồn của ngày Chúa nhật trong Kinh thánh và trong tác phẩm của các giáo phụ.
A. PHẦN NGHIÊN CỨU
I. Nguồn gốc ngày Chúa nhật trong Kinh thánh
Theo tài liệu Công đồng mới trích dẫn ở trên, Hội thánh mừng kính mầu nhiệm phục sinh vào chính ngày Chúa Ki-tô sống lại. Về nguồn gốc lập ra ngày Chúa nhật thì các sử gia chấp nhận một cách dễ dàng, chỉ có mối tương quan giữa ngày Chúa nhật và ngày sa-bát là gây tranh cãi mà thôi.
1. Ngày thứ nhất trong tuần trở thành ngày của Chúa :
Lịch sử ngày Chúa nhật bắt đầu bằng cuộc sống lại của Đức Ki-tô vào ngày thứ ba sau khi Người chết, và ngày thứ nhất trong lễ Do thái. Chính Người đã ghi một dấu đặc biệt lên ngày thứ nhất sau ngày sa-bát, bằng cách chọn ngày đó để ra khỏi mồ. Các tác giả Tin Mừng đã tường thuật biến cố này thật là khúc chiết. Nhưng đây không phải là tường thuật một sự kiện lịch sử mà thôi, vì trong những bài tường thuật đó, đã thấy lộ ra những yếu tố đạo lý về việc mừng kính ngày Chúa nhật.
1.1 Ngày Phục Sinh
Sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Ki-tô đã sống lại và hiện ra với các người thân. Sau khi đã hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la, và mấy phụ nữ khác, rồi ông Phê-rô, chính ngày hôm đó Người lại hiện ra với hai người môn đệ trên đường Em-mau. Các ông này nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh chia cho các ông. Sau đó, Người hiện ra với các Tông đồ đang hội nhau ở nhà Tiệc ly. Người ăn với các ông và nói : “Như Chúa Cha đã sai Thầy thì bây giờ Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha.” (Ga 20,21-23).
Tất cả những sự việc trên diễn tả một cách đầy đủ ngày Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh. Đây là biến cố chính yếu của lịch sử cứu độ. Biến cố này ghi dấu đến muôn đời ngày thứ nhất trong tuần. Mầu nhiệm mà ngày nay chúng ta cử hành trong các ngày Chúa nhật đã có từ ngày Chúa phục sinh.
1,2 Tám ngày sau
Nhưng nếu chỉ có Chúa nhật thứ nhất này thì chưa có gì khiến người ta cử hành mỗi tuần một lần ngày ấy như một ngày lễ. Phải có một ngày khác nữa, đó là sau khi hoàn thành mầu nhiệm cứu chuộc vào một ngày lịch sử, Chúa Ki-tô đã phân biệt ngày này với sáu ngày khác. Người đã tách biệt, thánh hóa và làm cho ngày ấy thành ngày riêng của Người. Tám ngày sau, Người lại hiện ra với các môn đệ. Ngày Chúa nhật của chúng ta hiện nay đã bắt đầu từ ngày ấy, ngày kỷ niệm tám ngày sau khi Chúa Giê-su sống lại, ngày Chúa nhật của Tông đồ Tô-ma. Ngay từ tuần Bát nhật Phục sinh, ngày thứ nhất trong tuần đã được ấn định là ngày Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ. Không thấy nói Người hiện ra vào một ngày nào khác. Các cuộc gặp gỡ giữa Người với các môn đệ đều diễn ra vào ngày Chúa nhật. Đó là nguồn gốc các buổi gặp gỡ đầu tiên giữa các tín hữu.
Thánh Gio-an tường thuật giai đoạn này như sau :
“Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà đó, lần này có cả ông Tô-ma nữa. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói :“Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng tin nữa, nhưng hãy tin.” Ông
Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con !” Đức Giê-su bảo : “Vì thấy Thầy, nên anh mới tin. Phúc cho những người không thấy mà tin !”
(Ga 20,26-29)
Xưa nay đọc đoạn Tin Mừng vắn tắt này, thường người ta chỉ chú trọng tới cuộc hiện ra của Chúa Giê-su và sự cứng lòng tin của ông Tô-ma nhiều hơn là những gì khác. Điều này không sai. Nhưng ở đây còn hai yếu tố khác sẵn có để làm nền tảng cho giáo lý về ngày Chúa nhật : đó là các dấu đanh và sự cần thiết phải có lòng tin. Khi tỏ các dấu đanh cho ông Tô-ma là Chúa Giê-su muốn đặt thánh giá vào trung tâm các cuộc cử hành phục vụ, và khi đòi ông Tô-ma phải tin là Người muốn rằng khi cử hành phụng vụ, người ta phải tin và phải quy tụ các tín hữu lại với nhau.
1,3 Ngày thứ nhất, ngày lễ hàng tuần
Ngoài các sách Tin Mừng, sách Công vụ Tông đồ cũng cho ta thấy vị trí của ngày thứ nhất, đối với các tín hữu thuộc thế hệ đầu. Theo chương hai mươi thì ngày Chúa nhật đã có từ thời thánh Phao-lô, khi ngàii đi hết nơi này đến nơi khác để lập các giáo đoàn : “Ngày thứ nhất trong tuần, chúng tôi họp nhau làm lễ bẻ bánh. Ông Phao-lô thảo luận với các anh em, và vì hôm sau ông ra đi, nên ông đã kéo dài cuộc nói chuyện đến mãi nửa đêm.” (Cv 20,70) Thánh Phao-lô cũng xin tín hữu Cô-rin-tô quyên tiền vào ngày thứ nhất. Ngày Chúa nhật đã được đặt ra làm ngày nhất định để họp nhau. Đó là ngày Đấng phục sinh ngồi đồng bàn với các môn đệ. Chỉ cần các Ki-tô hữu họp nhau lại ngày hôm đó là Chúa Ki-tô có mặt một cách đặc biệt.
Trong các giáo đoàn do thánh Phao-lô thành lập, ngày Chúa nhật vẫn giữ tên Do thái là ngày hôm sau ngày sa-bát, hay ngày thứ nhất trong tuần. Chỉ trong sách Khải huyền mới thấy tên riêng là ngày của Chúa: “Tôi đã xuất thần vào ngày của Chúa và nghe đàng sau tôi có một tiếng lớn như thể tiếng kèn.” (Kh 1,10)
Ngày Chúa nhật đã được cử hành ngay từ thời đó như một ngày lễ hàng tuần để tôn kính Chúa Giê-su Ki-tô. Có lẽ khi dùng chữ ngày của Chúa, người ta muốn dùng kiểu nói đó để tôn kính Đức Ki-tô là Chúa, nghĩa là Chủ tể càn khôn, Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết. Trong sách Khải huyền thường hay thấy phảng phất biểu tượng phục sinh. Trong Tin Mừng theo thánh Gio-an, cũng thấy nói đến ngày Chúa nhật.
Ngày Phục sinh, ngày thứ nhất trong tuần đã khai mạc một chương trình cứu độ mới, một nền phụng vụ mới vượt lên trên các ngày lễ Do thái, một cách thờ phượng mới trong tinh thần và trong chân lý. Tất cả Tin Mừng theo thánh Gio-an đều xây dựng trên mầu nhiệm phục sinh. Đó là nhận xét của nhiều nhà chú giải Kinh thánh và sử học gần đây như Y.B.Trémel, M.E. Boismard, D.Mollat và A.Jaubert. Những nhận xét này củng cố thêm xác tín đã có từ lâu về nguồn gốc ngày Chúa nhật phát xuất từ thời các Tông đồ.
2. Ngày Chúa nhật đã thay thế ngày sa-bát thế nào ?
2.1 Nét độc đáo của ngày Chúa nhật
Một sự kiện rất đáng chú ý là ngày Chúa nhật đã được Hội thánh lập ra. Đôi khi có người lầm tưởng rằng đó là ngày sa-bát chuyển qua, nhưng không phải. Giữa ngày sa-bát và Chúa nhật có một liên hệ lịch sử, vì ngày Phục sinh diễn ra vào hôm sau ngày sa-bát. Còn về nội dung thì ngày Chúa nhật có một nội dung tôn giáo độc lập và đặc biệt, không phát xuất từ ngày sa-bát. Cho nên nền tảng của ngày Chúa nhật không phải là ngày sa-bát Do thái.
Có hai lý do minh chứng điều này :
- Trước hết ngay từ đầu và trong thời gian Hội thánh hiện hữu trong khung cảnh Do thái giáo,, ngày Chúa nhật được đặt thêm vào ngày sa-bát. Các Tông đồ vẫn giữ ngày sa-bát, cộng đoàn các môn đệ vẫn tiếp tục cử hành việc thờ phượng trong khung cảnh Do thái giáo và lại lập thêm cách thế thờ phượng riêng.
- Tiếp đến là ngay từ đầu, trong lúc còn cùng với ngày
sa-bát rồi cho đến khi tách biệt riêng thành ngày thờ phượng của những người không phải từ Do thái mà vào đạo, ngày Chúa nhật không có dáng dấp gì của ngày sa-bát cả. Ngày sa-bát nhấn mạnh đặc biệt đến sự nghỉ việc và coi đây là yếu tố quan trọng bậc nhất, còn ngày Chúa nhật cốt yếu là ngày thờ phượng chung, đòi phải dành ra một số thời giờ rảnh rỗi cần thiết để lo việc thờ phượng Chúa.
2.2 Liên hệ giữa ngày sa-bát và Chúa nhật
Tuy Chúa nhật không thay thế cho ngày sa-bát và cũng không phải là ngày sa-bát kéo dài sang, nhưng giữa hai ngày đó vẫn có một vài liên hệ. Đó là sự liên hệ giữa việc thờ phượng và sự nghỉ ngơi, nhưng chỉ là liên hệ thực tế hơn là liên hệ cốt yếu.
Quả thật trong ngày sa-bát, người Do thái có đến hội đường để nghe sách luật và phải nghỉ việc hoàn toàn, cũng như người công giáo đi nhà thờ dự lễ và kiêng việc xác. Hiểu như thế thì có liên hệ, còn ngoài ra thì ít liên hệ và lại khác nhau nữa, như đã nói ở trên, vì Chúa nhật cốt yếu là ngày thờ phượng, còn nghỉ việc chỉ là phụ thuộc và tương đối. Đàng khác mãi đến thế kỷVI, Hội thánh mới buộc phải kiêng việc nặng nhọc ngày Chúa nhật và dần dần sau này mới coi việc nghỉ ngày Chúa nhật là một yếu tố gắn liền với ngày của Chúa.
II. Ngày Chúa nhật trong tác phẩm của các giáo phụ
Vấn đề này đã được một số tác giả nghiên cứu và trình bày như Đ.H.Y Daniélou trong hai tác phẩm : Le Jour du Seigneur và Bible et liturgie; cha J. Hild trong bài Dimanche et vie pascale; cha Gaillard trong bài Dimanche; cha B.Haring trong La Loi du Christ; cha Jounel trong cuốn L’Eglise en prière và cha Rouillard trong bài Les Pères : signification du Dimanche. Dưới đây là mấy nét chính của các giáo phụ về ngày Chúa nhật.
Đối với các tín hữu cũng như các giáo phụ trong mấy thế kỷ đầu, thì nét độc đáo của ngày Chúa nhật không phải vì ngày đó là ngày nghỉ. Mãi đến thời vua Công-tăng-ti-nô thế kỷ IV, việc nghỉ ngày Chúa nhật mới phổ cập. Ngoài ra, nét độc đáo cũng không phải vì ngày đó là ngày phải dự lễ cho bằng là một ngày có chứa đựng một mầu nhiệm mà không ngày nào khác trong tuần có được. Nghỉ hay không nghỉ, có lễ hay không lễ, ngày Chúa nhật vẫn là ngày của Chúa, ngày Chúa đã thánh hóa và hiến thánh một cách độc đáo nên đóng một vai trò đặc biệt trong diễn tiến lịch sử cứu độ. Khi cứu xét các liên quan giữa ngày Chúa nhật với Chúa Ki-tô, các giáo phụ thấy có ba yếu tố :
- Thứ nhất : ngày Chúa nhật là ngày tưởng niệm cuộc Phục sinh,
- Thứ hai : ngày Chúa nhật là dấu hiệu về sự có mặt của Chúa Giê-su giữa các người thân,
- Thứ ba : ngày Chúa nhật, ngày thứ tám là hình ảnh thế giới tương lai.
Cử hành, mừng kính ngày Chúa nhật đối với một người có đạo cũng như đối với cộng đồng Ki-tô hữu, trước hết có nghĩa là nhớ rằng Đức Ki-tô đã sống lại. Sự sống lại này là đối tượng và căn bản đức tin, là bảo đảm niềm hy vọng và ơn cứu độ cho họ ngay từ bây giờ và cả bên kia thế giới nữa.. Theo thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a thì ngày Chúa nhật là nguyên lý làm cho người Ki-tô hữu khác với người theo Do thái giáo, như lời thánh nhân viết : “Những ai trước kia sống theo trật tự của chế độ cũ thì bây giờ đạt được niềm hy vọng mới, không phải giữ ngày sa-bát nữa, nhưng sống theo ngày của Chúa, ngày mà cuộc đời của chúng ta bừng lên nhờ Người và nhờ cái chết của Người.” (Epitre aux Malésiens 9,1) Khi mừng kính ngày Đức Ki-tô sống lại là chúng ta nhớ đến cái chết của Người trên thánh giá, nhớ đến mầu nhiệm phục sinh bất khả phân ly giữa cái chết và sự sống lại của Người và nhớ đến mầu nhiệm cứu độ, nhờ công ơn Đức Ki-tô xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta. Tác giả Êu-dê-bi-ô thành A-lê-xan-ri-a hồi thế kỷ V có viết : “Ngày Chúa nhật là ngày tưởng niệm Đức Ki-tô, đó là một bản ghi nhớ đầy đủ về chương trình cứu độ. Ngoài việc tưởng niệm cuộc Phục sinh của Đức Ki-tô, ngày Chúa nhật còn là thời điểm phát sinh một cuộc tạo thành mới.. Thế giới này từ khởi thủy đã được dựng nên đẹp đẽ và có trật tự, nhưng tội lỗi đã làm cho vẩn đục và xáo trộn. Thế giới hư hỏng đó, trong buổi sáng Phục sinh, đã được tái tạo lại, nhờ cuộc chiến thắng tội lỗi và cái chết của Đức Ki-tô.” Cha Rouillard trong bài Les Pères : Signification du Dimanche cũng viết : “Mỗi Chúa nhật nhắc lại cho chúng ta cuộc tái tạo này, cuộc tái tạo sau biến cố Phục sinh. Không những nhắc lại mà còn tiếp tục và đổi mới trải qua thời gian. Bởi đó, ngày Chúa nhật biện minh cho danh hiệu là ngày thứ nhất và cho vị trí được đặt ở đầu tuần lễ. Khi mừng kính Đức Ki-tô phục sinh vào mỗi Chúa nhật, người Ki-tô hữu phải nhớ rằng mình cũng là người phục sinh và sống như người đã phục sinh : trong suốt cuộc đời, việc mừng kính ngày Chúa nhật giúp họ cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới được dựng nên theo hình ảnh Đức Ki-tô.”
2. Dấu hiệu về sự có mặt của Đức Ki-tô
Ngày Chúa nhật không phải chỉ đưa chúng ta trở về tưởng nhớ dĩ vãng mà thôi, nhưng còn tập hợp chúng ta lại chung quanh Đức Ki-tô hiện diện. Chúa nhật là ngày của Chúa, ngày Chúa hiện diện giữa con cái hội họp nhau lại nhân danh Người. Đó là ngày của cộng đoàn, ngày thực hiện và biểu dương sự hiệp nhất của Hội thánh là thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô. Trong sách Giảng huấn của các Tông đồ có lời quở trách sau đây : “Hãy truyền và thuyết phục dân phải trung thành với việc hội họp, để đừng ai làm cho Hội thánh bị thiếu hụt vì mình không đi, và đừng ai làm cho thân thể Đức Ki-tô phải bớt đi một thành phần. Anh em đừng tự khinh mình, đừng để cho Đấng Cứu chuộc chúng ta phải thiếu các thành phần, đừng xâu xé và phân tán thân thể Người.” (Didascalie des Apôtres, 13, Trad. F.Nau p. 116)
Ngày Chúa nhật, giáo dân quy tụ nhau tại nhà thờ, tập trung quanh bàn thánh, đó là hình ảnh về sự hiệp nhất của Hội thánh địa phương và qua Hội thánh địa phương, nhờ các cử chỉ tương thân tương ái mà sự hiệp nhất của Hội thánh phổ cập được biểu lộ. Vì vậy, thánh Giút-ti-nô mới viết : “Ngày hôm đó, ai dư giả và muốn thì cho tùy ý. Thu được cái gì thì nộp cho vị chủ tọa và vị này đem giúp những người mồ côi, nghèo khổ, ốm đau.” (Justin, Ière Aplologie, 67,6)
Khi hội họp nhau như thế, các Ki-tô hữu không nhằm gặp nhau cho bằng gặp nhau chung quanh Đức Ki-tô. Cuộc hội họp của họ chỉ có đầy đủ ý nghĩa khi có Chúa hiện diện với họ. Chúa hiện diện giữa họ trong thánh lễ, vì thánh lễ là dấu hiệu về sự hiện diện của Người. Chính nhờ thánh lễ mà Đức
Ki-tô gặp lại con cái mình, đưa họ dần dần tiến đến tình trạng phục sinh của Người và xây dựng Hội thánh. Ngày Chúa nhật là ngày tốt nhất để cử hành thánh lễ. Các Ki-tô hữu phải bỏ tất cả để tham dự thánh lễ. Về vấn đề này, sách Giảng huấn của các Tông đồ dạy rằng: “Anh em đừng để các công việc phần đời lên trên Lời Chúa, nhưng trong ngày của Chúa, hãy bỏ tất cả và chuyên cần đến nhà thờ, vì đó là nơi anh em dâng lời ngợi khen lên Thiên Chúa. Chẳng vậy thì những người không hội nhau vào ngày của Chúa, để nghe lời ban sự sống và nuôi dưỡng mình bằng của ăn thánh tồn tại muôn đời; sẽ lấy lẽ gì để bào chữa trước mặt Người ?” (Didascalie 13. p. 116)
Vì vậy, ngày của Chúa đối với các Giáo phụ cũng là ngày vui. Không vui làm sao được khi mừng Chúa sống lại và chính mình cũng đang tập sống như người đã phục sinh ? Niềm vui thoát ra từ các bài tường thuật Chúa hiện ra trong Tin Mừng cũng phải là niềm vui của chúng ta trong các ngày Chúa nhật. Tác giả Thư thánh Bác-na-ba Tông đồ vào khoảng năm 135 viết : “Chúng tôi vui vẻ sống ngày thứ tám này, ngày Đức Giê-su phục sinh và sau khi đã hiện ra thì lên trời.” (Hemmer : Epitre de Barnabé 15.9, p. 88) Theo cách Giảng huấn của các Tông đồ thì ai buồn phiền trong ngày đó là mắc tội Didascalie 31, p.117). Đầu thế kỷ V, Đức Giáo Hoàng I-no-xen-tê I cũng viết là mỗi Chúa nhật đều rực sáng lên niềm vui phục sinh. (Innocent Ier : Epist. 26,7; PL 20.555.556) Vì thế ngày hôm đó không nên làm các việc hy sinh hãm mình, kể cả xưng tội. Người ta đứng mà cầu nguyện. Giáo phụ Te-tu-li-a-nô đã nhắc lại điều này và thánh Phê-rô thành A-lê-xan-ri-a giải thích : “Chúng tôi mừng ngày Chúa nhật như một ngày vui vì Đấng đã sống lại ngày hôm đó; ngày hôm đó chúng tôi có thói quen không quỳ gối.”5 Còn thánh Ba-di-li-ô thì nói : “Vì chúng tôi sống lại với Đức Ki-tô và phải tìm kiếm những sự trên trời nên trong ngày phục sinh, chúng tôi nhớ lại ơn đã nhận được mà ở trong tư thế đứng.” (Pierre d’Alexandrie, Epistola canonica )
3. Hình ảnh thế giới tương lai
Ngày xưa Chúa đã sống lại và bây giờ hiện diện trong cộng đoàn đang tụ họp để hành lễ cũng là Đấng sẽ trở lại uy hùng rực rỡ để phán xét người sống và kẻ chết. Tín điều này làm cho ngày Chúa nhật có tính cánh chung. Cũng như tất cả các dấu hiệu bí tích khác, ngày Chúa nhật không những quay về dĩ vãng mà còn hướng về tương lai nữa. Mối tương quan giữa ngày Chúa nhật với tương lai đời đời mà ngày Chúa nhật loan báo và chuẩn bị, chiếm một chỗ quan trọng trong các lời giảng huấn của các Giáo phụ. Nhiều Giáo phụ nghĩ rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại trần gian để phán xét người sống và kẻ chết vào ngày Chúa nhật và “Nếu các Ki-tô hữu có họp nhau lại ngày hôm đó thì cũng là để chờ Chúa đến và nói với Người tha thiết hơn : Xin đến, lạy Chúa xin mau đến ! Với hy vọng thầm kín là sẽ được Chúa chấp nhận ngay chính ngày hôm đó.” (Bernard Haring : la loi du Christ p. 315-316)
Ngày Chúa nhật tượng trưng cho chúng ta vương quốc vô tận; sự nghỉ ngơi đời đời với Chúa, lời ca tụng không cùng bên cạnh Con Chiên với muôn ngàn thần thánh trên trời. Vì thế phải nhìn ngày đó như là hình ảnh của thế giới tương lai. Đó cũng là điều các giáo phụ muốn diễn tả, khi suy nghĩ về con số tám. Quả vậy, ngày Chúa nhật, nếu là ngày thứ nhất thì cũng là ngày thứ tám, như thánh Giút-ti-nô nói : “Ngày thứ nhất cũng gọi là ngày thứ tám, nếu tính ngày đó sau các ngày trong tuần lễ. Dù tính như vậy nhưng vẫn là ngày thứ nhất.” (Justin : Dialogue avec Tryphon 41,4) Đối với thánh nhân, ngày thứ tám lại còn chứa đựng một mầu nhiệm. Ban đầu người ta muốn lấy ngày Chúa nhật chọi lại với ngày sa-bát khi bảo rằng ngày thờ phượng của người Ki-tô hữu cứ lặp lại sau tám ngày chứ không phải sau bảy ngày. Con số tám tượng trưng cho sự viên mãn, cho thế giới tương lai vì trong đó có bao hàm sức năng động của ngày Chúa phục sinh. (Basile de Césarée : Traité du Saint Esprit 37) Thánh Ba-di-li-ô áp dụng tư tưởng trên cho ngày Chúa nhật mà bảo rằng : “Đó là ngày không cùng, không hề có buổi chiều cũng chẳng có ngày hôm sau, đó là thế kỷ bất hủ chẳng bao giờ tàn.” ((cf. M. MacMahon : Le huitième jour, Méditation patristique, dans Contacts, 13, 1963 p. 96-98)
Như vậy, ngày thứ tám, ngày Chúa nhật là hình ảnh và điềm tiên báo thế giới tương lai và sự sống đời đời; ngày tưởng niệm Đức Ki-tô sống lại đó cũng là một bảo đảm cho ngày Người trở lại, một bảo đảm cho chúng ta được tham dự đầy đủ vào mầu nhiệm phục sinh.
B. PHẦN THỰC HÀNH
Phần thực hành bàn về việc chuẩn bị ngày Chúa nhật cũng như cách thế cử hành và sống ngày đó có tính cá nhân nhiều hơn, và tùy theo kinh nghiệm, cách sắp xếp và tâm tính của mỗi người hơn là những gì khác. Vì thế không thể hệ thống hóa hay kiểu thức hóa như một bản mẫu hay một sơ đồ cho chúng ta rập khuôn được. Chỉ có một điều phải nói thôi là dù theo cách nào đi nữa thì chúng ta vẫn phải chuẩn bị, nếu muốn cho ngày Chúa nhật có ích cho cả linh mục lẫn giáo dân, và đạt được một hiệu năng nào đó về phương diện mục vụ. Thường giáo dân hay kêu linh mục làm lễ lâu, giảng dài, giảng lung tung người nghe không bắt được ý, đọc các lời nguyện và kinh nguyện Thánh Thể ào ào như máy, không có hồn, không có sức cảm hóa và lay động người ta. Về việc hát xướng thì các linh mục hay để cho ca đoàn tùy tiện, muốn hát thế nào thì hát, muốn hát bài nào cũng được, bất kể hợp phụng vụ hay không. Ngược lại, có linh mục lại bị phê bình là làm lễ quá nhanh không chịu soạn bài giảng, và làm việc như công chức.
Về phía linh mục thì có vị phải làm quá nhiều lễ, và bận nhiều việc trong ngày Chúa nhật : nào là lễ, giáo lý, chầu phép lành, sinh hoạt đủ thứ, khiến cho ngày Chúa nhật chẳng còn gì là thảnh thơi, nghỉ ngơi hay giải trí cả tinh thần lẫn thể xác. Do đấy không còn ý nghĩa bao nhiêu như đúng ra nó phải có. Vấn đề là ở chỗ đó.
Bởi vậy, tìm hiểu ý nghĩa đích thực của ngày Chúa nhật và sống theo ý nghĩa của ngày đó là điều cần thiết và bổ ích, để ngày đó trở thành một thứ tiền vị của thiên đường, nơi mai ngày mọi người tin và thờ phượng Chúa với tất cả tâm hồn, sẽ được qui tụ về để muôn đời tôn vinh chúc tụng và hưởng hạnh phúc không cùng bên Chúa.