NIỀM TIN và HY VỌNG
Sau tuần lễ Chủ Nhật 34. Lễ Chúa Kiot6 Va Vũ Trụ, Giáo Hội bước vào năm Phụng Vụ mới khởi đầu là MÙA VỌNG.
Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị khoảng 4 tuần trước đại lễ Giáng Sinh. Tên gọi theo nguyên ngữ Latinh là Adventus có nghĩa là “ngự đến, đăng quang, lên ngôi”. Không hiểu sao tiếng Việt chúng ta dùng từ Mùa Vọng, nên nhân Mùa Vọng năm 2005, Năm Thánh Thể Thế Giới ta nói đến Niềm Tin và Hy Vọng.
TỪ ĐỜI SỐNG.Sống phải có niềm tin và hy vọng. Dù bạn là ai, có tôn giáo hay không, theo bất cứ tôn giáo nào, đều phải có niềm tin và hy vọng. Cả những hoàn cảnh xem ra bi đát, đen tối, đầy tuyệt vọng, cũng cần niềm tin và hy vọng.
Từ nhỏ ba tôi có kể về câu chuyện “Tái Ong mất ngựa” để minh họa trong sự xấu có cái tốt, trong cái rủi có cái may. Tái Ong vẫn bình thản khi bị mất con ngựa quí vì tin và hy vọng cái rủi này sẽ có cái may; và quả thật, con ngựa bị mất trở về dẫn thêm con ngựa khác hay hơn. Khi người con trai mê cởi ngựa bị té gẩy chân, Tái Ong vẫn cho rằng cái xấu này cũng sẽ tốt, và quả thật, vì chân gẩy mà đứa con trai không bị đi lính để phải bỏ mạng như bao thanh niên láng giềng trong cuộc chiến ác liệt thời đó. Đó là chuyện xưa, chuyện nay vẫn có thể nhìn với cái nhìn của niềm tin và hy vọng.
Giữa những biến cố, sự kiện, con người.. . trong xã hội, chúng ta có quyền đọc ra những dấu hiệu cho tương lai tươi sáng, hoặc mờ tối. Chúa Giêsu cũng muốn con người đọc được các hiện tượng tự nhiên thì cũng biết thẩm định cuộc sống. Chúa trách người Dothái thời đó biết nhìn xem mây trời khí lạnh để đoán mưa nắng mà mù tịt về những dấu chỉ của thời đại.(x. Mt 24, 32; Lc 12, 54)
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã từng khuyên khích người tín hữu, dưới nhãn quang của đức tin để đọc ra dấu chỉ của thời đại, mà ta gọi là thời điềm.
Khởi đầu hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng Vatican II, viết “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”. (Gaudium et Spes, số 1). Cuộc sống xã hội, vui buồn sướng khổ đều đụng chạm đến người môn đệ Chúa Kitô. Người môn đệ Chúa Kitô không thể bàn quan, dửng dưng, vô tâm trước số phận của con người và xã hội. Người Kitô hữu phải theo dõi thế giới đang diễn ra thế nào để hòa chung nỗi ưu tư với thời cuộc. Những sự kiện cuộc sống có cái tốt, cái xấu; có cái rủi cái may sẽ làm chúng ta nhìn một tương lai tươi sáng hay mờ tối. Nhưng không ai cấm chúng ta lấy Niềm Tin và Hy Vọng để nhìn xã hội và thế giới chúng ta, cho dù nó còn nhiều bóng tối.
1. Tôi cứ lấy làm ngạc nhiên khi nghe bài hát “Hà Nội Niềm Tin và Hy Vọng”. Bởi cái tựa bài hát này sao mà mang dáng dấp của tôn giáo. “Niềm Tin và Hy Vọng” trong bài hát được ca ngợi chỉ là đức tính xã hội, nhưng tôi linh cảm ít nhiều mang yếu tố tôn giáo, có tính của nhân đức đối thần Công Giáo: Tin-Cậy. Và tôi thấy câu định nghĩa “con người là một con vật có tôn giáo” của một triết gia nào đó cũng có lý. Bạn hãy thử để ý sinh họat của những con người nào đó mệnh danh là vô thần, cũng sẽ có ít nhiều yếu tố mang màu sắc tôn giáo trong họ. Những người hô hào theo lý thuyết duy vật chất, cũng có những hành vi và lời nói mang bóng dáng siêu hình, linh thiêng, phi vật chất.
2. Ngày nay người ta than phiền nhiều về thế giới “tục hóa, giải thiêng”. Đúng. Nhưng, với con mắt của Niềm Tin và Hy Vọng, bạn trẻ sẽ thấy những yếu tố tôn giáo, thần thiêng trong cuộc sống chúng ta mà không gì dập tắt được. Hãy nhìn những cầu thủ, vận động viên, với chế độ tập luyện đầy kỷ thuật và khổ chế, với những huấn luyện viên tài ba. . . nhưng khi ra đấu trường vẫn làm dấu thánh giá và lúc chiến thắng không dấu diếm tâm tình tạ ơn Thượng Đế.
Đội bóng đá HyLạp lên ngôi vô địch thế giới năm 2004 có nhiều người nhìn nhận, kể cả bình luận viên đài truyền hình Viêt Nam là một huyền thọai nhờ cầu nguyện. Hãy nhìn xem thế giới của những người có niềm tin cầu nguyện cho những người đã khuất trên hành tinh chúng ta, và mới đây nhất cho ngài Arafat, lãnh tụ của Palestin.. . Bạn hãy nhìn vào thế giới đã qua, nhìn vào hiện tại, và trong tương lai, sẽ đọc thấy đức tin mà mình sống là chính đáng, là nguồn hy vọng.
3. Tân Hoa Hậu Việt Nam, Nguyễn Thị Huyền đã trả lời câu hỏi ứng xử rất xuất sắc, đọat giải câu trả lời thông minh nhất và cũng là yếu tố lớn giúp chị đăng quang Hoa Hậu Việt Nam 2004. Việc Chị hết mình đồng tình với các Hoa Hậu hay những ngôi sao hoạt động thiện nguyện đã làm tăng vẻ đẹp của con người, vẻ đẹp không chỉ ngọai hình, trí tuệ mà là nét đẹp tâm hồn, cho chúng ta hy vọng vào các giá trị phi vật chất vẫn được đánh giá cao trong xã hội chúng ta. Người ta dễ có khuynh hướng đề cao các giá trị vật chất ngày nay. Nhưng một khi chúng ta thấy số đông khán giả vỗ tay tán thưởng và ban giám khảo đã quyết định ủng hộ câu trả lời tôn vinh nét đẹp tâm hồn, điều đó chứng minh rằng: dù trong thực hành con người có thể chạy theo quyền lợi trước mắt, nhưng thâm tâm con người, nét đẹp tâm hồn, những giá trị cao cả hơn, linh thiêng hơn vẫn được ngưỡng mộ. Đó là niềm hy vọng của cuộc sống.
4. Nhiều người nhận định Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ tái cử sau cuộc tranh cử dằng co quyết liệt sát nút nhau với Thượng nghị sĩ John F. Kerry là nhờ Ông Bush ủng hộ luân lý, ông nói: “Vì gia đình chuyển tải các giá trị và hình thành nhân cách, hôn nhân truyền thống là điều hệ trọng đối với sức khoẻ của xã hội. Chính sách của chúng ta nhằm tăng cường gia đình chứ không phải làm suy yều đi. Và việc thay đôi định nghĩa của hôn nhân truyền thống sẽ lũng đoạn cơ cấu của gia đình”. Nên số đông cử tri trung thành với truyền thống luân lý Giáo Hội ủng hộ. Đây cũng là thời điềm cho ta Niềm Tin và Hy Vọng.
5. Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Phó Phan Thiết vừa đi dự Hội Nghị Công Lý và Hòa Bình tại Rôma trở về chia sẻ với Linh Mục đoàn Phan Thiết ngày 03.11.2004 rằng: xây dựng công lý và hòa bình cho xã hội rất cần thiết. Những bài viết về “Nghèo: Tình Thương, Công Lý, Hòa Bình, Sự Sống.. . ” của Đức Cha Nicolas, Giám Mục Chính chúng ta dù có gây cho nhiều cán bộ khó chịu, nhưng họ cũng thú nhận, nó làm cho nhiều người phải suy nghĩ, trăn trở.
Tôi thấy đây là dấu chỉ của niềm tin và hy vọng vào thực trạng còn có nhiều hiện tượng tham nhũng mà báo đài phê phán. Dù khó chịu bực mình, nhưng biết phản tỉnh là dấu hiệu tốt để ta hy vọng. Bởi nó cho thấy một lương tâm biết cắn rứt. Mà theo đức tin Công Giáo thì Lương Tâm là “tiếng nói của Chúa trong tâm hồn bảo ta làm lành lánh dữ”, như thế, ít nhiều cán bộ đã cảm nhận tiếng Chúa cách nào đó.
6. Ngày 15.11.2004 là ngày Pháp Lệnh Tôn Giáo có hiệu lực cho Việt Nam. Dư luận khác nhau, có khi đối ngược nhau. Nhiều vị chủ chăn tỏ vẻ “ưu sầu và lo lắng”; trong khi đó giới truyền thông trong nước cho là “vui mừng và hy vọng”. Chúng ta đọc gì qua sự kiện này đây? Trong tinh thần của Niềm Tin và Hy Vọng, chúng ta cầu nguyện cho việc triển khai áp dụng và thực hiện Pháp Lệnh này thực sự có “vui mừng và hy vọng” để không có tình trạng “ưu sầu và lo lắng” xảy ra.
THÁNH KINH
Hy vọng có thể trở thành ảo hay hảo huyền nếu chúng ta đặt không đúng chỗ. “Trời đất có qua đi, nhưng lời Thầy sẽ không qua” (Mt 24, 35). Vì vậy khi chỉ đặt niềm hy vọng vào thế giới này, đến lúc nó “qua đi” chúng ta sẽ tuyệt vọng. Nhiều bạn trẻ đã từng hụt hẩng khi “thần tượng” của mình không phải là “Đức Kitô” mà là một siêu sao nào đó cuối cùng bị sụp đỗ. Vậy niềm Hy Vọng chính yếu của chúng ta phải là Lời Chúa và Đức Giêsu Kitô, vì “Kinh Thánh nói, mọi kẻ tin vào Người sẽ không thất vọng”. (Rm 10, 11). Đó là lý do tại sao việc chuẩn bị đón Người ngự đến (Adventus) trở thành Mùa Vọng theo ngôn ngữ Việt Nam.
Kinh Thánh cho ta nhiều tấm gương sống niềm tin và hy vọng.
CỰU ƯỚC
1. Abraham, Tổ Phụ dân Do Thái, “Cha của những kẻ tin” đã có niềm tin và hy vọng mãnh liệt đến nổi mau mắn bỏ quê cha đất tổ, đi đến nơi vô đinh “Ta sẽ chỉ cho”.(St 12, 1) Dù chưa có con trai, ông vẫn tin vào lời hứa “ngươi sẽ là cha của hằng hà sa số dân tộc, ta sẽ làm cho ngươi sinh sôi nhiều, thật nhiều” (St 17, 4-6). Và quả thật, niềm hy vọng của ông đã thành hiện thực.
2. Có ai ngờ một Giuse bị bán làm nô lệ, bị ám hại đến ở tù, lại trở thành tể tướng của Pharaô, hầu cứu giúp gia đình tổ phụ Giacóp thoát khỏi nạn đói 7 năm ròng. (x.St 37-46)
3. Môsê, đứa con trai dòng Lêvi sống sót nhờ công chúa Pharaô nuôi, thừa hưởng nền giáo dục của chế độ cai trị bắt dân Chúa làm nô lệ, thế mà Chúa vẫn dùng để giải thoát Dân riêng của Ngài.(x. Xh 2-36)
4. Ông Gióp, một người công chính và kính sợ Chúa, bị sập nhà, mất hết hàng ngàn gia súc, tiêu tan tài sản, con chết, vợ chửi, ung nhọt từ gan bàn chân đến đỉnh đầu, ngồi dưới đóng tro lấy mảnh sành mà gải.. . Ông đau đớn đến nổi nguyễn rủa ngày sinh: “Tại sao tôi không chết đi khi vừa ra khỏi dạ, không tắt thở khi mới lọt lòng !” (G3, 11) vẫn có lời hy vọng đáng khâm phục: “Tôi trần truồng lọt lòng mẹ, tôi cũng sẽ trần truồng trở về nơi đó. Chúa ban cho rồi Chúa lấy đi, Đáng chúc tụng thay danh Chúa” (G1, 21) và thật sự lòng tin và hy vọng tuyệt vời của ông đã được “Giavê chúc lành cho tình trạng mới của Giob hơn tình trạng cũ. Ông có 14.000 chiên và 6.000 lạc đà, ngàn cặp bò và ngàn lừa cái. Ong được bảy trai và ba gái.. . cả xứ không tìm đâu được người nữ nào xinh đẹp bằng con gái ông.. . ” (G 42, 12-15)
5. Khi Dân Dothái đang đứng bên bờ vực thẳm sẽ bị tiêu diệt bởi quan độc ác Aman, hoàng hậu Ester đã cầu nguyện cùng với toàn dân và Chúa đã đổi hoàn cảnh tuyệt vọng thành cơ hội gia tăng niềm tin và hy vọng cho Dân Ngài. (x Et 2-8)
Thư Dothái chương 11 liệt kê những mẫu gương của lòng tin nên luôn sống trong hy vọng “Đức tin là bảo chứng cho điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không trong thấy” (Dt 11, 1).
Bạn trẻ hãy đọc lại Kinh Thánh sẽ thấy rõ nhiều cuộc đời xem ra ngặt nghèo được Chúa là Đá Tảng an bài rất ngoạn mục. Bởi vì Ngài đã hứa “Ta sẽ ở với ngươi”.(St 3, 12) và “ Dù cha mẹ có bỏ con, riêng Ta, Ta sẽ không bỏ ngươi” (Tv27, 10 )
Thánh Vịnh không ngớt hát lời ca ngợi: “Hơn lính canh mong đợi hừng đông, trông cậy Chúa đi, Israel hởi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa”(Tv 130, 6-8); “Chúa là Đấng cứu độ tôi, tôi sợ gì ai, Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai”. Bạn trẻ hãy đọc Kinh Phụng Vụ, sẽ hưởng nếm hương vị ngọt ngào của những Thánh Vịnh đầy niềm tin yêu và hy vọng.
TÂN ƯỚC
Chính Đấng đã làm cho bà Annna son sẻ sinh Samuel (x.1S 1, 1-2,11) cũng đã làm cho bà Isave sinh Gioan Tẩy Giả (x. Lc1, 5-25). Ngài tiếp tục làm cho “đàn bà son sẻ thành mẹ đông con vui cửa vui nhà” (Tv 113, 9) để biến gia cảnh tuyệt vọng trong ô nhục của chị em phụ nữ hiếm muộn thời đó, thành niềm tin yêu và “hy vọng bừng lên trong con cái” (x. Hc 3, 2)
Niềm hy vọng lớn nhất bao đời chờ mong đã được thực hiện khi Mẹ Maria sinh hạ Chúa Giêsu, Người là “Emmmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta”(Mt 1, 23). Gặp được Người, cụ già Simêon lấy làm mãn nguyện “Giờ đây Chúa để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an, theo như lời Ngài đã phán. Vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ, Chúa dành sẵn cho muôn dân. Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngọai, là vinh quang của Israel dân Người.” (Lc 2, 29-32)
Mùa Vọng tưởng niệm và sống lại việc Người đến lần thứ nhất, cầu mong Người ngự đến trong hiện tại nơi thế giới, gia đình và tâm hồn chúng; và hướng đến việc Người đến lần thứ hai trong vinh quang. Đức Giêsu được gọi là vị Thẩm Phán xét xử trần gian. Ngày người đến lần thứ hai có nơi mô tả là ngày của thịnh nộ, hũy diệt, trừng phạt. Nhưng nếu ai thực hiện lời Thánh Phaolô: “Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như những người sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cải cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy măc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm13, 13-14), thì việc Người đến sẽ là lúc của “vui mừng và hy vọng” :“Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa, tôi nhắc lại một lần nữa : vui lên anh em ! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã đến gần.” (Pl 4, 4-5). Bởi “Thiên Chúa là Đấng trung thành, người muốn kêu gọi anh em đến hiệp thông với con của Người là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (1Cr 1, 9),
Khi đó chúng ta sẽ mong đợi Người “như lính canh mong đợi hừng đông” trong tư thế của “Những người tuần canh của Thiên Niên Kỷ mới” (Đức Gioan Phaolô II gọi các bạn trẻ) với thái độ “Chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục mọi loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người.” (Pl 3, 20-21)
Thế nhưng có nơi Người nói “Khi con người đến, liệu còn gặp thấy lòng tin trên mặt đất này không” (Lc 18, 8). Liệu chúng ta có thể “Tỉnh thức và cầu nguyện luôn hầu thóat khỏi mọi điều sắp xảy đến và có thể đứng vững trước mặt Con Người?” (Lc 21, 36) Chúng ta có đủ sức để trở thành một trong số những người “bền đỗ đến cùng sẽ được cứu” (Mt 10, 20) trong khi đó “thế gian ghét các con” (Ga 15, 18) và “Satan đòi sàng con như sàng gạo” (Lc 22, 31) ?
Tự sức ta thì có thể ngã lòng vì “Không có Thầy các con không thể làm gì được” (Ga 15, 5), nhưng “Không có gì mà Chúa không làm được”(Lc 1, 37). Trong niềm tin “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi có thể làm được mọi sự”. (Pl 4, 13), chúng ta cùng sống tâm tình với thánh Phaolô mỗi khi chúng ta yếu đuối, bất lực phải kêu lên: “hơn ba lần tôi nài xin Chúa cứu tôi” (2Cr 12, 8) và chắc sẽ được niềm an ủi như Chúa đã động viên Phaolô: “Ơn Ta đủ cho con” (2Cr 12, 9). Chúng ta có quyền tin tưởng và hy vọng, đôi khi tự hào nữa. Nhưng “Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa”. (2Cr 10, 17)
Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, được tái sinh trong Đức Kitô, và đang theo đuổi đời sống chứng nhân loan Tin Mừng trong Năm Thánh Truyền Giáo Việt Nam, bạn trẻ hãy hy vọng như thánh Phaolô “Tôi tin rằng Đấng đã bắt đầu nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó đến hoàn thành cho tới ngày Đức Kitô quang lâm.” (Pl 1, 6)
Chúng ta sống niềm tin và hy vọng vào Đấng đồng hành với chúng ta. “Xin ngài lưu lại với chúng con, vì trời đã xế chiều” (Lc 24, 29), tựa đề Tông Thư Năm Thánh Thể của Đức Gioan Phaolô II (Mane Nobiscum Domine), lấy lại lời của hai môn đệ Emmau, những người “vẻ mặt buồn bã” (Lc 24, 17) tuyệt vọng, bỏ cuộc hành trình theo Chúa, đang về quê, đã nhờ gặp Người, đồng hành với Người, cùng nghe lời Người, dự lễ bẻ Bánh; và họ mạnh dạn “quay trở lại Giêrusalem gặp nhóm Mười Hai” để bắt đầu lại hành trình mới đầy niềm tin và hy vọng, hành trình đã từng theo Thầy Giêsu và làm chứng cho Người. (x Lc 24, 13-35)
KẾT LUẬN
Giữa thế giới không ngày nào mà không có chết chóc, chiến tranh, khủng bố, bạo lực.. . làm con người mất ý thức của sự hiện diện của Thiên Chúa Quyền Năng và Tình Thương. Chúng ta hãy “Phát xuất lại từ Đức Giêsu” ( Lời tựa Huấn Thị canh tân đời sống thánh hiến trong Ngàn Năm Thứ Ba của Thánh Bộ về Đời Sống Thánh Hiến và Hiệp Hội Tông Đồ), để vững tin Người có đó, vẫn hiện diện sống động với con người bằng một tình yêu mãnh liệt và sự cảm thông của Đấng “Khi còn sống kiếp phàm nhân đã lớn tiếng và rợi lệ nài xin Chúa Cha” (Dt 5, 7) như chúng ta, khi gặp thử thách. Người đời có thể bỏ rơi nhau khi nguy hiểm, nhưng với Đức Kitô, “Mục Tử nhân lành thí mạng vì đoàn chiên” (Ga 10, 11) thì “Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không ruồng bỏ ngươi” (Dt 13, 5).
Mùa Vọng mừng Người đến. Cách tốt nhất trong năm Thánh Thể Thế Giới để Mừng Người Đến là Đến Mừng Người; Đón Người đến là Đến Đón Người. Đến với “Đá Góc Tường”, với “Đấng đang có, đã có và sẽ đến” (Kh 1, 4) để lãnh nhận “ân sủng và bình an” (Kh 1, 4 ) hầu chúng ta luôn sống trong Niềm Tin và Hy Vọng.
Có lần một bạn trẻ thất vọng được nhận “quà tặng âm nhạc” của người bạn thân là bài hát “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng” và đã tìm được niềm an ủi. Nhưng các ban trẻ còn có thể có “quà tặng đặc biệt” là Lời Chúa và Thánh Thể, được ban cách nhưng không cho mọi người để vượt qua những giây phút ảm đạm, bi ai, thử thách… trong cuộc sống hầu chúng ta có thể vượt qua những khủng hoảng của cuộc đời. “Chúng ta hãy đến thờ lạy Người” (Ga 12, 21), chủ đề của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Cologne năm 2005, cũng là niềm ước mong của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khi khuyên bảo giới trẻ “Các con hãy dâng cho Chúa khi gặp gỡ Ngài đang ẩn náu trong phép Thánh Thể, tất cả nhiệt huyết, tuổi trẻ của chúng con, những hy vọng và cả những khát vọng yêu thương của chúng con” (Tông Thư Mane Nobiscum Domine, số 30).
Đến với Nguồn Hy Vọng của chúng ta, dâng những hy vọng của chúng ta hầu nhờ sức mạnh của Ngài làm cho những khát vọng của tuổi trẻ cộng tác với ân sủng, biến hy vọng thành hiện thực tương lai, và là niềm hy vọng mới. Nguyện Thánh Phaolô, người đã xác tín “Tôi biết tôi đã tin vào ai, và tôi chắc rằng, Ngài đủ quyền năng giữ kho tàng của tôi mãi, tới ngày sau cùng” (2Tm 1, 12) làm cho các bạn “bắt chước tôi (thánh Phaolô) như tôi đã bắt chước Đức Kitô” (1Cr 11, 1) để các bạn không tuyệt vọng, nhưng luôn kiên vững và trở thành niềm tin và hy vọng cho tha nhân.
Binh An, 17.11.04
Sau tuần lễ Chủ Nhật 34. Lễ Chúa Kiot6 Va Vũ Trụ, Giáo Hội bước vào năm Phụng Vụ mới khởi đầu là MÙA VỌNG.
Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị khoảng 4 tuần trước đại lễ Giáng Sinh. Tên gọi theo nguyên ngữ Latinh là Adventus có nghĩa là “ngự đến, đăng quang, lên ngôi”. Không hiểu sao tiếng Việt chúng ta dùng từ Mùa Vọng, nên nhân Mùa Vọng năm 2005, Năm Thánh Thể Thế Giới ta nói đến Niềm Tin và Hy Vọng.
TỪ ĐỜI SỐNG.Sống phải có niềm tin và hy vọng. Dù bạn là ai, có tôn giáo hay không, theo bất cứ tôn giáo nào, đều phải có niềm tin và hy vọng. Cả những hoàn cảnh xem ra bi đát, đen tối, đầy tuyệt vọng, cũng cần niềm tin và hy vọng.
Từ nhỏ ba tôi có kể về câu chuyện “Tái Ong mất ngựa” để minh họa trong sự xấu có cái tốt, trong cái rủi có cái may. Tái Ong vẫn bình thản khi bị mất con ngựa quí vì tin và hy vọng cái rủi này sẽ có cái may; và quả thật, con ngựa bị mất trở về dẫn thêm con ngựa khác hay hơn. Khi người con trai mê cởi ngựa bị té gẩy chân, Tái Ong vẫn cho rằng cái xấu này cũng sẽ tốt, và quả thật, vì chân gẩy mà đứa con trai không bị đi lính để phải bỏ mạng như bao thanh niên láng giềng trong cuộc chiến ác liệt thời đó. Đó là chuyện xưa, chuyện nay vẫn có thể nhìn với cái nhìn của niềm tin và hy vọng.
Giữa những biến cố, sự kiện, con người.. . trong xã hội, chúng ta có quyền đọc ra những dấu hiệu cho tương lai tươi sáng, hoặc mờ tối. Chúa Giêsu cũng muốn con người đọc được các hiện tượng tự nhiên thì cũng biết thẩm định cuộc sống. Chúa trách người Dothái thời đó biết nhìn xem mây trời khí lạnh để đoán mưa nắng mà mù tịt về những dấu chỉ của thời đại.(x. Mt 24, 32; Lc 12, 54)
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã từng khuyên khích người tín hữu, dưới nhãn quang của đức tin để đọc ra dấu chỉ của thời đại, mà ta gọi là thời điềm.
Khởi đầu hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng Vatican II, viết “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”. (Gaudium et Spes, số 1). Cuộc sống xã hội, vui buồn sướng khổ đều đụng chạm đến người môn đệ Chúa Kitô. Người môn đệ Chúa Kitô không thể bàn quan, dửng dưng, vô tâm trước số phận của con người và xã hội. Người Kitô hữu phải theo dõi thế giới đang diễn ra thế nào để hòa chung nỗi ưu tư với thời cuộc. Những sự kiện cuộc sống có cái tốt, cái xấu; có cái rủi cái may sẽ làm chúng ta nhìn một tương lai tươi sáng hay mờ tối. Nhưng không ai cấm chúng ta lấy Niềm Tin và Hy Vọng để nhìn xã hội và thế giới chúng ta, cho dù nó còn nhiều bóng tối.
1. Tôi cứ lấy làm ngạc nhiên khi nghe bài hát “Hà Nội Niềm Tin và Hy Vọng”. Bởi cái tựa bài hát này sao mà mang dáng dấp của tôn giáo. “Niềm Tin và Hy Vọng” trong bài hát được ca ngợi chỉ là đức tính xã hội, nhưng tôi linh cảm ít nhiều mang yếu tố tôn giáo, có tính của nhân đức đối thần Công Giáo: Tin-Cậy. Và tôi thấy câu định nghĩa “con người là một con vật có tôn giáo” của một triết gia nào đó cũng có lý. Bạn hãy thử để ý sinh họat của những con người nào đó mệnh danh là vô thần, cũng sẽ có ít nhiều yếu tố mang màu sắc tôn giáo trong họ. Những người hô hào theo lý thuyết duy vật chất, cũng có những hành vi và lời nói mang bóng dáng siêu hình, linh thiêng, phi vật chất.
2. Ngày nay người ta than phiền nhiều về thế giới “tục hóa, giải thiêng”. Đúng. Nhưng, với con mắt của Niềm Tin và Hy Vọng, bạn trẻ sẽ thấy những yếu tố tôn giáo, thần thiêng trong cuộc sống chúng ta mà không gì dập tắt được. Hãy nhìn những cầu thủ, vận động viên, với chế độ tập luyện đầy kỷ thuật và khổ chế, với những huấn luyện viên tài ba. . . nhưng khi ra đấu trường vẫn làm dấu thánh giá và lúc chiến thắng không dấu diếm tâm tình tạ ơn Thượng Đế.
Đội bóng đá HyLạp lên ngôi vô địch thế giới năm 2004 có nhiều người nhìn nhận, kể cả bình luận viên đài truyền hình Viêt Nam là một huyền thọai nhờ cầu nguyện. Hãy nhìn xem thế giới của những người có niềm tin cầu nguyện cho những người đã khuất trên hành tinh chúng ta, và mới đây nhất cho ngài Arafat, lãnh tụ của Palestin.. . Bạn hãy nhìn vào thế giới đã qua, nhìn vào hiện tại, và trong tương lai, sẽ đọc thấy đức tin mà mình sống là chính đáng, là nguồn hy vọng.
3. Tân Hoa Hậu Việt Nam, Nguyễn Thị Huyền đã trả lời câu hỏi ứng xử rất xuất sắc, đọat giải câu trả lời thông minh nhất và cũng là yếu tố lớn giúp chị đăng quang Hoa Hậu Việt Nam 2004. Việc Chị hết mình đồng tình với các Hoa Hậu hay những ngôi sao hoạt động thiện nguyện đã làm tăng vẻ đẹp của con người, vẻ đẹp không chỉ ngọai hình, trí tuệ mà là nét đẹp tâm hồn, cho chúng ta hy vọng vào các giá trị phi vật chất vẫn được đánh giá cao trong xã hội chúng ta. Người ta dễ có khuynh hướng đề cao các giá trị vật chất ngày nay. Nhưng một khi chúng ta thấy số đông khán giả vỗ tay tán thưởng và ban giám khảo đã quyết định ủng hộ câu trả lời tôn vinh nét đẹp tâm hồn, điều đó chứng minh rằng: dù trong thực hành con người có thể chạy theo quyền lợi trước mắt, nhưng thâm tâm con người, nét đẹp tâm hồn, những giá trị cao cả hơn, linh thiêng hơn vẫn được ngưỡng mộ. Đó là niềm hy vọng của cuộc sống.
4. Nhiều người nhận định Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ tái cử sau cuộc tranh cử dằng co quyết liệt sát nút nhau với Thượng nghị sĩ John F. Kerry là nhờ Ông Bush ủng hộ luân lý, ông nói: “Vì gia đình chuyển tải các giá trị và hình thành nhân cách, hôn nhân truyền thống là điều hệ trọng đối với sức khoẻ của xã hội. Chính sách của chúng ta nhằm tăng cường gia đình chứ không phải làm suy yều đi. Và việc thay đôi định nghĩa của hôn nhân truyền thống sẽ lũng đoạn cơ cấu của gia đình”. Nên số đông cử tri trung thành với truyền thống luân lý Giáo Hội ủng hộ. Đây cũng là thời điềm cho ta Niềm Tin và Hy Vọng.
5. Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Phó Phan Thiết vừa đi dự Hội Nghị Công Lý và Hòa Bình tại Rôma trở về chia sẻ với Linh Mục đoàn Phan Thiết ngày 03.11.2004 rằng: xây dựng công lý và hòa bình cho xã hội rất cần thiết. Những bài viết về “Nghèo: Tình Thương, Công Lý, Hòa Bình, Sự Sống.. . ” của Đức Cha Nicolas, Giám Mục Chính chúng ta dù có gây cho nhiều cán bộ khó chịu, nhưng họ cũng thú nhận, nó làm cho nhiều người phải suy nghĩ, trăn trở.
Tôi thấy đây là dấu chỉ của niềm tin và hy vọng vào thực trạng còn có nhiều hiện tượng tham nhũng mà báo đài phê phán. Dù khó chịu bực mình, nhưng biết phản tỉnh là dấu hiệu tốt để ta hy vọng. Bởi nó cho thấy một lương tâm biết cắn rứt. Mà theo đức tin Công Giáo thì Lương Tâm là “tiếng nói của Chúa trong tâm hồn bảo ta làm lành lánh dữ”, như thế, ít nhiều cán bộ đã cảm nhận tiếng Chúa cách nào đó.
6. Ngày 15.11.2004 là ngày Pháp Lệnh Tôn Giáo có hiệu lực cho Việt Nam. Dư luận khác nhau, có khi đối ngược nhau. Nhiều vị chủ chăn tỏ vẻ “ưu sầu và lo lắng”; trong khi đó giới truyền thông trong nước cho là “vui mừng và hy vọng”. Chúng ta đọc gì qua sự kiện này đây? Trong tinh thần của Niềm Tin và Hy Vọng, chúng ta cầu nguyện cho việc triển khai áp dụng và thực hiện Pháp Lệnh này thực sự có “vui mừng và hy vọng” để không có tình trạng “ưu sầu và lo lắng” xảy ra.
THÁNH KINH
Hy vọng có thể trở thành ảo hay hảo huyền nếu chúng ta đặt không đúng chỗ. “Trời đất có qua đi, nhưng lời Thầy sẽ không qua” (Mt 24, 35). Vì vậy khi chỉ đặt niềm hy vọng vào thế giới này, đến lúc nó “qua đi” chúng ta sẽ tuyệt vọng. Nhiều bạn trẻ đã từng hụt hẩng khi “thần tượng” của mình không phải là “Đức Kitô” mà là một siêu sao nào đó cuối cùng bị sụp đỗ. Vậy niềm Hy Vọng chính yếu của chúng ta phải là Lời Chúa và Đức Giêsu Kitô, vì “Kinh Thánh nói, mọi kẻ tin vào Người sẽ không thất vọng”. (Rm 10, 11). Đó là lý do tại sao việc chuẩn bị đón Người ngự đến (Adventus) trở thành Mùa Vọng theo ngôn ngữ Việt Nam.
Kinh Thánh cho ta nhiều tấm gương sống niềm tin và hy vọng.
CỰU ƯỚC
1. Abraham, Tổ Phụ dân Do Thái, “Cha của những kẻ tin” đã có niềm tin và hy vọng mãnh liệt đến nổi mau mắn bỏ quê cha đất tổ, đi đến nơi vô đinh “Ta sẽ chỉ cho”.(St 12, 1) Dù chưa có con trai, ông vẫn tin vào lời hứa “ngươi sẽ là cha của hằng hà sa số dân tộc, ta sẽ làm cho ngươi sinh sôi nhiều, thật nhiều” (St 17, 4-6). Và quả thật, niềm hy vọng của ông đã thành hiện thực.
2. Có ai ngờ một Giuse bị bán làm nô lệ, bị ám hại đến ở tù, lại trở thành tể tướng của Pharaô, hầu cứu giúp gia đình tổ phụ Giacóp thoát khỏi nạn đói 7 năm ròng. (x.St 37-46)
3. Môsê, đứa con trai dòng Lêvi sống sót nhờ công chúa Pharaô nuôi, thừa hưởng nền giáo dục của chế độ cai trị bắt dân Chúa làm nô lệ, thế mà Chúa vẫn dùng để giải thoát Dân riêng của Ngài.(x. Xh 2-36)
4. Ông Gióp, một người công chính và kính sợ Chúa, bị sập nhà, mất hết hàng ngàn gia súc, tiêu tan tài sản, con chết, vợ chửi, ung nhọt từ gan bàn chân đến đỉnh đầu, ngồi dưới đóng tro lấy mảnh sành mà gải.. . Ông đau đớn đến nổi nguyễn rủa ngày sinh: “Tại sao tôi không chết đi khi vừa ra khỏi dạ, không tắt thở khi mới lọt lòng !” (G3, 11) vẫn có lời hy vọng đáng khâm phục: “Tôi trần truồng lọt lòng mẹ, tôi cũng sẽ trần truồng trở về nơi đó. Chúa ban cho rồi Chúa lấy đi, Đáng chúc tụng thay danh Chúa” (G1, 21) và thật sự lòng tin và hy vọng tuyệt vời của ông đã được “Giavê chúc lành cho tình trạng mới của Giob hơn tình trạng cũ. Ông có 14.000 chiên và 6.000 lạc đà, ngàn cặp bò và ngàn lừa cái. Ong được bảy trai và ba gái.. . cả xứ không tìm đâu được người nữ nào xinh đẹp bằng con gái ông.. . ” (G 42, 12-15)
5. Khi Dân Dothái đang đứng bên bờ vực thẳm sẽ bị tiêu diệt bởi quan độc ác Aman, hoàng hậu Ester đã cầu nguyện cùng với toàn dân và Chúa đã đổi hoàn cảnh tuyệt vọng thành cơ hội gia tăng niềm tin và hy vọng cho Dân Ngài. (x Et 2-8)
Thư Dothái chương 11 liệt kê những mẫu gương của lòng tin nên luôn sống trong hy vọng “Đức tin là bảo chứng cho điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không trong thấy” (Dt 11, 1).
Bạn trẻ hãy đọc lại Kinh Thánh sẽ thấy rõ nhiều cuộc đời xem ra ngặt nghèo được Chúa là Đá Tảng an bài rất ngoạn mục. Bởi vì Ngài đã hứa “Ta sẽ ở với ngươi”.(St 3, 12) và “ Dù cha mẹ có bỏ con, riêng Ta, Ta sẽ không bỏ ngươi” (Tv27, 10 )
Thánh Vịnh không ngớt hát lời ca ngợi: “Hơn lính canh mong đợi hừng đông, trông cậy Chúa đi, Israel hởi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa”(Tv 130, 6-8); “Chúa là Đấng cứu độ tôi, tôi sợ gì ai, Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai”. Bạn trẻ hãy đọc Kinh Phụng Vụ, sẽ hưởng nếm hương vị ngọt ngào của những Thánh Vịnh đầy niềm tin yêu và hy vọng.
TÂN ƯỚC
Chính Đấng đã làm cho bà Annna son sẻ sinh Samuel (x.1S 1, 1-2,11) cũng đã làm cho bà Isave sinh Gioan Tẩy Giả (x. Lc1, 5-25). Ngài tiếp tục làm cho “đàn bà son sẻ thành mẹ đông con vui cửa vui nhà” (Tv 113, 9) để biến gia cảnh tuyệt vọng trong ô nhục của chị em phụ nữ hiếm muộn thời đó, thành niềm tin yêu và “hy vọng bừng lên trong con cái” (x. Hc 3, 2)
Niềm hy vọng lớn nhất bao đời chờ mong đã được thực hiện khi Mẹ Maria sinh hạ Chúa Giêsu, Người là “Emmmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta”(Mt 1, 23). Gặp được Người, cụ già Simêon lấy làm mãn nguyện “Giờ đây Chúa để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an, theo như lời Ngài đã phán. Vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ, Chúa dành sẵn cho muôn dân. Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngọai, là vinh quang của Israel dân Người.” (Lc 2, 29-32)
Mùa Vọng tưởng niệm và sống lại việc Người đến lần thứ nhất, cầu mong Người ngự đến trong hiện tại nơi thế giới, gia đình và tâm hồn chúng; và hướng đến việc Người đến lần thứ hai trong vinh quang. Đức Giêsu được gọi là vị Thẩm Phán xét xử trần gian. Ngày người đến lần thứ hai có nơi mô tả là ngày của thịnh nộ, hũy diệt, trừng phạt. Nhưng nếu ai thực hiện lời Thánh Phaolô: “Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như những người sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cải cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy măc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm13, 13-14), thì việc Người đến sẽ là lúc của “vui mừng và hy vọng” :“Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa, tôi nhắc lại một lần nữa : vui lên anh em ! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã đến gần.” (Pl 4, 4-5). Bởi “Thiên Chúa là Đấng trung thành, người muốn kêu gọi anh em đến hiệp thông với con của Người là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (1Cr 1, 9),
Khi đó chúng ta sẽ mong đợi Người “như lính canh mong đợi hừng đông” trong tư thế của “Những người tuần canh của Thiên Niên Kỷ mới” (Đức Gioan Phaolô II gọi các bạn trẻ) với thái độ “Chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục mọi loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người.” (Pl 3, 20-21)
Thế nhưng có nơi Người nói “Khi con người đến, liệu còn gặp thấy lòng tin trên mặt đất này không” (Lc 18, 8). Liệu chúng ta có thể “Tỉnh thức và cầu nguyện luôn hầu thóat khỏi mọi điều sắp xảy đến và có thể đứng vững trước mặt Con Người?” (Lc 21, 36) Chúng ta có đủ sức để trở thành một trong số những người “bền đỗ đến cùng sẽ được cứu” (Mt 10, 20) trong khi đó “thế gian ghét các con” (Ga 15, 18) và “Satan đòi sàng con như sàng gạo” (Lc 22, 31) ?
Tự sức ta thì có thể ngã lòng vì “Không có Thầy các con không thể làm gì được” (Ga 15, 5), nhưng “Không có gì mà Chúa không làm được”(Lc 1, 37). Trong niềm tin “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi có thể làm được mọi sự”. (Pl 4, 13), chúng ta cùng sống tâm tình với thánh Phaolô mỗi khi chúng ta yếu đuối, bất lực phải kêu lên: “hơn ba lần tôi nài xin Chúa cứu tôi” (2Cr 12, 8) và chắc sẽ được niềm an ủi như Chúa đã động viên Phaolô: “Ơn Ta đủ cho con” (2Cr 12, 9). Chúng ta có quyền tin tưởng và hy vọng, đôi khi tự hào nữa. Nhưng “Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa”. (2Cr 10, 17)
Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, được tái sinh trong Đức Kitô, và đang theo đuổi đời sống chứng nhân loan Tin Mừng trong Năm Thánh Truyền Giáo Việt Nam, bạn trẻ hãy hy vọng như thánh Phaolô “Tôi tin rằng Đấng đã bắt đầu nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó đến hoàn thành cho tới ngày Đức Kitô quang lâm.” (Pl 1, 6)
Chúng ta sống niềm tin và hy vọng vào Đấng đồng hành với chúng ta. “Xin ngài lưu lại với chúng con, vì trời đã xế chiều” (Lc 24, 29), tựa đề Tông Thư Năm Thánh Thể của Đức Gioan Phaolô II (Mane Nobiscum Domine), lấy lại lời của hai môn đệ Emmau, những người “vẻ mặt buồn bã” (Lc 24, 17) tuyệt vọng, bỏ cuộc hành trình theo Chúa, đang về quê, đã nhờ gặp Người, đồng hành với Người, cùng nghe lời Người, dự lễ bẻ Bánh; và họ mạnh dạn “quay trở lại Giêrusalem gặp nhóm Mười Hai” để bắt đầu lại hành trình mới đầy niềm tin và hy vọng, hành trình đã từng theo Thầy Giêsu và làm chứng cho Người. (x Lc 24, 13-35)
KẾT LUẬN
Giữa thế giới không ngày nào mà không có chết chóc, chiến tranh, khủng bố, bạo lực.. . làm con người mất ý thức của sự hiện diện của Thiên Chúa Quyền Năng và Tình Thương. Chúng ta hãy “Phát xuất lại từ Đức Giêsu” ( Lời tựa Huấn Thị canh tân đời sống thánh hiến trong Ngàn Năm Thứ Ba của Thánh Bộ về Đời Sống Thánh Hiến và Hiệp Hội Tông Đồ), để vững tin Người có đó, vẫn hiện diện sống động với con người bằng một tình yêu mãnh liệt và sự cảm thông của Đấng “Khi còn sống kiếp phàm nhân đã lớn tiếng và rợi lệ nài xin Chúa Cha” (Dt 5, 7) như chúng ta, khi gặp thử thách. Người đời có thể bỏ rơi nhau khi nguy hiểm, nhưng với Đức Kitô, “Mục Tử nhân lành thí mạng vì đoàn chiên” (Ga 10, 11) thì “Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không ruồng bỏ ngươi” (Dt 13, 5).
Mùa Vọng mừng Người đến. Cách tốt nhất trong năm Thánh Thể Thế Giới để Mừng Người Đến là Đến Mừng Người; Đón Người đến là Đến Đón Người. Đến với “Đá Góc Tường”, với “Đấng đang có, đã có và sẽ đến” (Kh 1, 4) để lãnh nhận “ân sủng và bình an” (Kh 1, 4 ) hầu chúng ta luôn sống trong Niềm Tin và Hy Vọng.
Có lần một bạn trẻ thất vọng được nhận “quà tặng âm nhạc” của người bạn thân là bài hát “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng” và đã tìm được niềm an ủi. Nhưng các ban trẻ còn có thể có “quà tặng đặc biệt” là Lời Chúa và Thánh Thể, được ban cách nhưng không cho mọi người để vượt qua những giây phút ảm đạm, bi ai, thử thách… trong cuộc sống hầu chúng ta có thể vượt qua những khủng hoảng của cuộc đời. “Chúng ta hãy đến thờ lạy Người” (Ga 12, 21), chủ đề của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Cologne năm 2005, cũng là niềm ước mong của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khi khuyên bảo giới trẻ “Các con hãy dâng cho Chúa khi gặp gỡ Ngài đang ẩn náu trong phép Thánh Thể, tất cả nhiệt huyết, tuổi trẻ của chúng con, những hy vọng và cả những khát vọng yêu thương của chúng con” (Tông Thư Mane Nobiscum Domine, số 30).
Đến với Nguồn Hy Vọng của chúng ta, dâng những hy vọng của chúng ta hầu nhờ sức mạnh của Ngài làm cho những khát vọng của tuổi trẻ cộng tác với ân sủng, biến hy vọng thành hiện thực tương lai, và là niềm hy vọng mới. Nguyện Thánh Phaolô, người đã xác tín “Tôi biết tôi đã tin vào ai, và tôi chắc rằng, Ngài đủ quyền năng giữ kho tàng của tôi mãi, tới ngày sau cùng” (2Tm 1, 12) làm cho các bạn “bắt chước tôi (thánh Phaolô) như tôi đã bắt chước Đức Kitô” (1Cr 11, 1) để các bạn không tuyệt vọng, nhưng luôn kiên vững và trở thành niềm tin và hy vọng cho tha nhân.
Binh An, 17.11.04