Thế giới hiện đại, bình phong hay dấu hiệu về Chúa?

Đó là câu hỏi cần đặt ra trong lúc này, vì những biến động chúng ta đang chứng kiến trên thế giới ngày nay.

Sở dĩ như vậy, vì Hội Thánh đã muốn hòa mình cùng Thế giới, qua Hiến Chế ‘Nỗi vui mừng và niềm hy vọng’ để hoàn thành vai trò là ‘dấu hiệu hiện tỏ trước mặt muôn dân’, đồng thời xuất hiện như nhân chứng về một trật tự đưa tới Chúa.

Tuy nhiên, thế giới hiện đại có chấp nhận trật tự đó, có là bình phong hay dấu hiệu về Chúa ? Đó là điều sẽ được bàn giải qua những điểm sau đây :

  • Vài nét chấm phá về thế giới hiện đại
  • Khái niệm về dấu hiệu
  • Dấu hiệu của giao ước
  • Và cuối cùng nhiệm vụ của Đức Tin
để kết thúc trong nhận định: Thế giới hiện đại là bình phong hơn là dấu hiệu. Bởi vậy, người công giáo phải xuất hiện như nhân chứng, để phá tan tấm màn dày đặc này, mà biến đổi thế giới trở thành dấu hiệu về Chúa.

I.- VÀI NÉT CHẤM PHÁ VỀ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

Chênh lệch và phân hóa

Nhìn vào thế giới ngày nay, chúng ta thấy gì ? Điều hiện ra trước tiên dưới mắt chúng ta, đó là hiện tượng phân hóa trên mọi địa hạt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo. v.v... Sự phân hóa đập mạnh vào mắt chúng ta nhất, đó là thế giới ngày nay chia làm hai khu vực: tư bản và thế giới của những nước nghèo. Thế giới này chiếm tới 2/3 trong tổng số nhân loại. Sự chênh lệch giữa những nước tư bản và những nước nghèo thật là to lớn. Nếu một căn nhà với những tiện nghi tối thiểu như điện nước, hay một gian phòng vừa đủ cho một gia đình sinh sống, với phòng ăn phòng ngủ và nhà bếp, cùng nhà vệ sinh với phòng tắm, được coi là những thứ cần thiết thông thường ở Âu Mỹ, thì ở những nước Á Phi lại là những xa xỉ phẩm, chỉ dành riêng cho một số nhỏ được ưu đãi, hay suốt đời chỉ là những giấc mơ không bao giờ đạt tới cho những người kém may. Sự chênh lệch giữa các nước với nhau đã như thế, còn nói chi đến sự cách biệt giữa một thiểu số tỉ phú trong một nước, với quảng đại quần chúng thuộc thành phần nghèo khổ. Nếu tình thế không thay đổi, cứ mực này, những nước giầu sẽ giầu mãi, còn những nước nghèo lại cứ luẩn quẩn trong vòng nghèo đói.

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật

Hiện tượng thứ hai mà thế giới hiện đại bày ra trước mắt chúng ta : đó là sự tiến bộ vượt mức của nhân loại về khoa học kỹ thuật. Đây là thời khoa học chế ngự thiên nhiên; con người bước vào giai đoạn thám hiểm không gian, lên tới mặt trăng, đang khám phá Sao Hỏa, đưa năng lực sáng tạo của trí óc nhân loại đến một độ cao chưa từng thấy. Những máy điện tử, điện toán, những thực hiện lớn lao về kinh tế, kỹ nghệ, những tiến bộ trong y học đều là những hãnh diện chính đáng của con người trong thời đại chúng ta.

Đề cao những giá trị nhân bản

Hiện tượng thứ ba nhận thấy ở thế giới ngày nay là sự đề cao những giá trị nhân bản, như lòng yêu chuộng tự do, tình liên đới nhân loại, lòng hăng say phấn đấu cho bình đẳng, độc lập, Ngoài ra, cũng phải chú ý đặc biệt đến giá trị của lao dộng, vì đây thật là một giá trị tiêu biểu. Vì vậy, người ta quí trọng sự làm việc, và làm việc đến nơi đến chốn. Xã hội đã trở thành một guồng máy lớn, trong đó mỗi người là một bộ phận. Toàn bộ máy quay, nên bộ phận nào cũng phải quay, nếu không muốn bị loại bỏ. Con người trong những xã hội đó quả thật đã bị tha hóa mà trở thành máy móc phần nào, nhưng cũng đã được guồng máy đó rèn luyện cho biết ý thức giá trị của đời mình, trong khi phải vật lộn, va chạm với thiên nhiên, vật chất, để biến đổi và chế ngự chúng, ngõ hầu biến đổi thế giới tự nhiên trở thành thế giới của con người.

Độc lập trước vấn đề tôn giáo

Cuối cùng, thế giới hiện đại là một thế giới muốn độc lập trước vấn đề tôn giáo trong tư tưởng cũng như trong hành động. Có những người không muốn công nhận một chủ quyền tối thượng nào; vì như thế, theo họ nghĩ, con người mất cả khí thế, trong khi đó, nó lại cần phải chứng tỏ khả năng sáng tạo và ý chí tự do của mình trong mọi lĩnh vực, ngõ hầu tự mình trách nhiệm đời mình, không cần phải nương tựa vào một quyền lực nào khác. Roger Caillois đã nhận xét đúng, khi ông nói: ‘Nền văn minh Tây phương một phần lớn là một nền văn minh lấy cái thần thiêng hoàn toàn trần tục và nhân loại, thay thế vào cái thần thiêng cổ truyền của các tôn giáo”. Đó là nói riêng về Âu Châu, còn ở Á Phi ngày nay, người ta cũng thấy một hiện tượng tương tự. Có lần nói chuyện với một giáo sĩ truyền giáo người Âu Châu, một số thanh niên Nhật Bản đã bộc lộ : họ không cần tôn giáo cũng sống tử tế và hạnh phúc được. Nhiều thanh niên Á Phi hoài nghi cả đạo cổ truyền, và những giá trị ngàn xưa của ông cha họ để lại, vì theo họ, tôn giáo một phần nào trói buộc và làm cản bước tiến của con người. Điều này không sai, nếu hiểu tôn giáo như một số những lễ nghi cổ tục, chỉ thích hợp cho những thời xa xưa trong lịch sử. Còn nếu quan niệm tôn giáo là lòng tin ở một ngôi vị trổi vượt, nhưng sống động và vẫn hướng dẫn bước đi của lịch sử như đạo Công Giáo, thì vấn đề lại khác. Đối với một số khá đông người, tôn giáo có cái gì như cản trở, làm trục trặc đời sống con người, thay vì là một sức mạnh giải thoát. Đối với nhiều người, tôn giáo ngày nay là dư thừa, vô ích, không giải quyết được vấn đề gì cả. Người ta coi thường tôn giáo và những người theo đạo. Từ đó, họ dễ đi đến chỗ đồng hóa và gán ghép cho tôn giáo những vai trò hết sức trần tục, trong khi tôn giáo chính ra phải là một sức mạnh tinh thần,

II- KHÁI NIỆM VỀ DẤU HIỆU

Vai trò của dấu hiệu trong các mối tương giao nhân loại

Dấu hiệu là một hình ảnh, một cử chỉ, một tiếng nói hay một tang vật để biểu lộ một cái gì, hay diễn tả một sự kiện, một tình ý ta muốn thông đạt với người khác. Bắt tay là một dấu hiệu diễn tả sự thân thuộc quen biết. Cái nhìn là một bộc lộ tình cảm đối với người ta thương mến. Chữ viết là một biểu hiệu diễn đạt những điều ta muốn nói, cũng như tiếng nói là một phương tiện để ta thông cảm với người khác. Không có những dấu hiệu đó, cũng như bao nhiêu dấu hiệu khác, đời sống con người sẽ trở nên nghèo nàn và mất đi biết bao ý nhị. Có những người thương nhau mà vì nghẹn ngào, hoặc e thẹn, nói không nên lời, đã dùng dấu hiệu để trao đổi tâm tình với nhau. Những người câm điếc cũng đã dùng dấu hiệu, cử chỉ để thay thế cho ngôn ngữ. Nếu không có dấu hiệu và không thể dùng dấu hiệu thì thật là một điều bất hạnh cho những người thương nhau, mà vì hoàn cảnh phải xa cách, hoặc không thể thông cảm với nhau bằng những cách thế thông thường, như sự hiện diện trao đổi trực tiếp, mà không cần có trung gian.

Mặc dầu những dấu hiệu đó không phải là chính sự thông cảm, nhưng không có chúng, sự thông cảm cũng giảm đi một phần rất lớn cái ý nhị thâm trầm của nó. Đã đành một nụ cười, một cái bắt tay, một nét mặt, chưa phải là thông cảm, nhưng chính chúng diễn tả sự thông cảm. Con người mới là chính. Nhưng, con người lại sống trong thế giới sự vật và chịu sự chi phối của chúng, nên nó không thể loại bỏ chúng mà không bị thiệt thòi. Đàng khác, con người lại là vật cảm xúc. Mà cảm xúc thường đi qua giác quan, sự vật. Thành ra sự vật cụ thể cũng như sự vật được tượng trưng, qua những hình ảnh, dấu hiệu đã gắn liền với đời sống con người, và là những phương tiện hữu ích cho con người xử dụng trong các mối tương giao nhân loại. Thông cảm với nhau đến mấy mà không có những dấu hiệu như quà tặng, sự thăm viếng, lời nói thân tình, cử chỉ diễn tả sự thương mến, thì chắc chắn sự thông cảm kia cũng bị hao hụt và có ngày tan biến, trừ khi nó đã được xây dựng trên một tình bằng hữu lý tưởng sâu sắc, bất chấp cả không gian và thời gian.

Dấu hiệu giữa con người và Thiên Chúa

Nếu con người dùng dấu hiệu để trao đổi với nhau, thì nó cũng cần dùng dấu hiệu để giao cảm với Thiên Chúa, và Thiên Chúa cũng dùng dấu hiệu để liên lạc với con người (Xh 19,16-25). Không phải ngẫu nhiên mà Chúa dùng các dấu hiệu trong Kinh Thánh, như các biến cố lịch sử, các phép lạ để liên lạc với loài người. Hơn nữa, Người lại còn dùng các ngôn sứ, và cuối cùng chính Con Một của mình là Đức Giê-su Ki-tô, để dễ làm công việc đó. Chúa Cứu Thế, Đấng vừa là người lại vừa là Chúa, đã dùng tiếng nói của loài người (tiếng araméen) để nói với đồng bào của mình. Người đã sinh sống như mọi người trong chúng ta (Ga 1,14): đã tham dự vào niềm vui của thiên hạ khi đi dự tiệc cưới tại Ca-na (Ga 2,1-12); đã cảm thông với nỗi đau khổ của bà góa thành Na-in (Lc 7,13) và chị em cô Mát-ta (Ga 11, 33-43)... Nếu không có những dấu hiệu về Chúa mà Người tỏ ra cho ta trong lịch sử, thật khó biết và tin Người được. Nếu chỉ nói đến Chúa như một đối tượng suy tư, ta sẽ thấy quả nhiên là nhạt nhẽo, mơ hồ và khô khan. Chúa không phải chỉ là ý niệm trừu tượng mà còn là một nhân vật sống động. Đã nói đến sống động thì phải có sinh hoạt. Mà sinh hoạt, làm sao lại không biểu lộ ra bằng cách này hay cách khác. Vì thế, Chúa xuất hiện trước mắt ta, qua những biến cố và dấu hiệu, cũng như ta đến với Người qua những sự vật hữu hình và vô hình. Phải chăng, vì vậy Hội thánh công giáo đã dùng lễ nghi phụng vụ, hình ảnh tượng trưng và các bí tích, để dẫn đưa ta tới Chúa, để Chúa nói và tiếp xúc với ta qua tất cả những thứ đó ?

Nhiệm vụ của dấu hiệu

Tuy nhiên, muốn thực hiện điều đó, ta cần nhận định cho đúng nhiệm vụ của dấu hiệu trong việc con người gặp gỡ Thiên Chúa. Dấu hiệu có ba nhiệm vu : đó là minh chứng, vén tỏ, và tạo uy tín. Sau đây xin lần lượt giải nghĩa từng nhiệm vụ một.

1. Minh chứng

Cần hiểu minh chứng ở đây không giống như minh chứng theo nghĩa kỹ thuật, mà chỉ có nghĩa là làm cho sáng tỏ ý nghĩa hiện hữu của một thực tại mà dấu hiệu biểu lộ. Vậy dấu hiệu minh chứng ở đây là dấu hiệu làm cho ta có thể quả quyết có một Chúa. Dấu hiệu này chỉ hoàn toàn hữu hiệu khi nó thuyết phục được người nào đó đặt Chúa thành vấn đề.

2. Vén tỏ

Dấu hiệu có nhiệm vụ vén tỏ, nghĩa là làm cho ta biết Chúa hiện hữu là ai. Có phải bất cứ ai cũng là Chúa hay Chúa là bất cứ ai không? Đó là điều đã nói qua trong phần dấu hiệu giữa Con người với Chúa. Vậy dấu hiệu vén tỏ cũng là dấu hiệu mạc khải một phần nào cho ta về Thiên Chúa.

3. Tạo uy tín

Giấy chứng minh hay sổ thông hành là dấu hiệu tạo uy tín và bảo đảm cho người mang nó là công dân thực thụ của một quốc gia. Tuy vậy, cũng có những trường hợp giả mạo. Vì thế, phải kiểm chứng rõ ràng. Mỗi khi vị đại sứ trình ủy nhiệm thư lên quốc trưởng một nước, là ông muốn được công nhận bên cạnh chính phủ nước đó. Bởi vậy ủy nhiệm thư là một dấu hiệu tạo uy tín cho ông dễ làm việc.

Căn cứ theo ba nhiệm vụ của dấu hiệu trên đây, ta có thể nói rằng thế giới ngày nay là dấu hiệu về Chúa không? Điều này thật mong manh bởi vì thế giới ngày nay đã thay đổi nhiều, qua một vài nét chấm phá vừa phác họa ở trên. Vũ trụ này với muôn vẻ lạ lùng của nó, không còn minh chứng bao nhiêu, và có khi không minh chứng gì đối với những người kém tin hay không tin. Thánh vịnh bảo ta rằng các tầng trời tường thuật vinh quang của Thiên Chúa. Điều này thật đúng, nhưng với điều kiện là phải có lòng tin Chúa. Vua Đa-vít là người thuộc loại này, cũng như các tín hữu công giáo có đức tin vững mạnh và sống động. Chateaubriand, một văn hào Pháp, thế kỷ XIX, cũng nghĩ như vậy khi ông viết :

Lạy Chúa của người Ki-tô hữu ! Chính trong lòng biển sâu và vòm trời cao thẳm mà Chúa đã mạnh mẽ ghi dấu vạn năng của Ngài. Này đây, hàng triệu vì sao lấp lánh trên nền xanh tối của bầu trời : mặt trăng ở giữa không trung, biển xa rộng mênh mông, cõi vô biên trên trời và giữa biển khơi ! Chẳng bao giờ Chúa lại làm cho con ngây ngất hơn vì sự cao cả của Ngài, cho bằng những đêm như bị treo lơ lửng giữa các vì sao và biển cả, con được nhìn thấy cảnh mênh mông bát ngát không cùng trải rộng ra dưới chân con.

Con đã thường nghe các nhà bác học biện luận về Đệ Nhất Hữu Thể. Nhưng bao giờ con cũng thấy rằng chính khi được nhìn xem những cảnh tượng hùng vĩ của thiên nhiên mà Hữu Thể xa lạ đó hiện tỏ trong lòng người’
(Trích dịch trong Catéchèse pour I’homme d’aujourd’hui của nhiều tác giả trang 84).

Nhưng đối với phần đông người thời nay, vũ trụ, thế giới hữu hình không còn là dấu hiệu về Chúa nữa, vì có thể nói vũ trụ ngày nay là một vũ trụ thiếu vắng Chúa. Người ta không cần Chúa để giải thích vũ trụ. Xét về phương diện khoa học cũng như kỹ thuật, một phần lớn, người hiện đại đã có thể hiểu và chế ngự được thiên nhiên. Người ta hiểu vũ trụ hay ít ra nghĩ rằng mình hiểu được như thế mà không cần phải chạy đến một uy lực thần thiêng nào cả. Cứ nhìn vào những thành công hiện thời của nhân loại, ta cũng có thể nghĩ rằng, họ tự biện minh, không cần thần thánh, vì thần thánh đối với họ là vô ích và ảo ảnh.

Tuy nhiên, như thế không có ý nói rằng các nhà khoa học và kỹ thuật chối bỏ Thiên Chúa, mà chỉ có ý nói rằng nhiều người trong hàng ngũ họ không bận tâm đến vấn đề Thiên Chúa. Họ làm cho người ta quen nhìn vũ trụ mà không đả động gì đến Thiên Chúa, và do đấy vũ trụ của con người ngày nay dường như là một vũ trụ không có Thiên Chúa. Đối với tâm tưởng của người hiện đại, vũ trụ mỗi ngày một kém là dấu hiệu về Chúa. Nếu vũ trụ có nghĩa gì đối với nhân loại ngày nay, thì đó là sức mạnh của trí óc con người có thể khám phá ra những bí mật của vũ trụ, và giá trị của khoa học có thể diễn tả cho chúng ta điều mà trí óc con người đã nghĩ ra.

III- DẤU HIỆU CỦA GIAO ƯỚC

Xưa kia Thiên Chúa đã lập giao ước với dân Do Thái trên núi Xi-nai (Xh 19,10-12). Do giao ước này, Do Thái trở thành con và Thiên Chúa trở thành cha. Suốt lịch sử Do Thái, Thiên Chúa luôn luôn trung thành với giao ước đó, dù Do Thái bất trung hay phản bội. Nhưng, nói đến giao ước ngày xưa có vẻ xa xôi quá ! Vì thế, nên nói ngay đến giao ước bây giờ giữa ta với Thiên Chúa, qua trung gian con người Giê-su, và qua lời Người do Hội thánh truyền lại. Chúa lập giao ước với ta từng giây từng phút. Quả thật, nếu không có Chúa Giê-su, con người lịch sử, nơi thực hiện giao ước mới và còn kéo dài mãi, thì chúng ta đến vô vọng. Nơi Người, ta thấy dấu hiệu rõ rệt nhất về Thiên Chúa, vì Người đến để làm chứng cho Chúa Cha. Chính Người đã đáp lại những khát vọng thâm sâu và đẹp đẽ nhất của con người.

Chúng ta muốn tự do. Người đến đem lại cho chúng ta tự do, khi tỏ ra rất tự do đối với luật Do Thái và những lễ nghi phức tạp (ví dụ chữa lành bệnh ngày lễ nghỉ : Lc 6,6-11). Tuy nhiên, Người vẫn bảo rằng Người đến không phải để phá hủy lề luật, nhưng làm cho nó nên kiện toàn hơn (Mt 5,17).

Chúng ta muốn tình huynh đệ với nhau. Chính Người đã dạy chúng ta rằng chúng ta là anh em con một Cha, và hãy thương nhau như anh em. Chúng ta muốn hoà bình. Chính Người hứa ban đất cho những ai hiếu hòa (Mt 5,9). Chúng ta tôn trọng và đề cao lao động. Chính Người là con một người lao động và nêu gương lao động, khi sống ở Na-gia-rét.

Chẳng những Chúa Giê-su tỏ cho ta biết sự cao cả của con người mà lại dạy ta sống như con người nữa. Người dạy ta hành quyền để phục vụ chứ không phải để thống trị (Lc 22,26). Người dạy ta phải yêu mến con người thời đại đang bị máy móc đe dọa lấy mất đi phần nhân tính. Người dạy ta phấn đấu với nghịch cảnh và cho ta sức mạnh để chiến thắng.

Như vậy, dấu hiệu về Chúa không tìm thấy trong vũ trụ của người hiện đại bao nhiêu, mà phải tìm trong đời sống thiêng liêng.

IV- NHIỆM VỤ CỦA ĐỨC TIN

Nhiệm vụ của đức tin là giúp cho con người thời nay hiểu ý nghĩa của thế gian. Điều này thật khó, vì những lý do sau đây :

1. Mất duy nhất

Ngày nay, có nhiều người nghĩ rằng thế giới không còn vén tỏ gì cho họ về Thiên Chúa và việc gặp Thiên Chúa sống động nơi Đức Giê-su cũng không thêm bớt gì cho cuộc đời của họ cả. Người tín hữu như bị đe dọa đứng trước một thế giới chia làm hai phe :

  • một phe là khoa học kỹ thuật;
  • một phe là thế giới của đời sống nội tâm.
Trước hiện tình thế giới, đó là điều không tránh được. Bởi vậy, người công giáo lúc này đang phải đứng trước một thế giằng co mãnh liệt. Tin Chúa không còn phải là một điều giản dị như thời cha ông ngày xưa, những người nhìn thấy dấu vết của Chúa ở khắp nơi và không bị sức mạnh của khoa học kỹ thuật và những ý thức hệ mới mẻ lôi cuốn. Đã có những người công giáo bị hoang mang trước tình trạng không hiện tỏ của Chúa trong thế giới ngày nay, đành rằng đức tin vẫn bảo họ là có Chúa, và họ vẫn không dám phủ nhận Người. Nhưng làm sao tin Chúa trước bao sức đối kháng như vậy ? Vấn đề thật không giản dị. Nếu phủ nhận Chúa là điều trái với lương tâm họ, thì tin nhận Chúa giữa một thế giới người ta sống như không có Chúa, cũng là một thử thách lớn lao ghê gớm ! Thành ra, cưỡng ép cũng không được mà phủ nhận cũng không xong.

Tìm hiểu ý nghĩa của vũ trụ

Điều trước tiên ta phải bảo mình là vũ trụ có một ý nghĩa, dù ta chưa đọc thấy ngay ý nghĩa đó. Vậy ý nghĩa thứ nhất mà vũ trụ đem lại cho ta là vũ trụ này là một khu vực sống Chúa đặt con người trong đó. Con người vừa là đền thờ của Thiên Chúa, được Người tạo dựng nên, vừa là chủ vũ trụ như ý Chúa muốn ban đầu, khi giao cho con người quản trị vũ trụ và ban cho quyền khắc phục thiên nhiên (St 1,28-30). Con người được tham dự vào quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa như thánh I-rê-nê nói : ‘Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống động”. Do đấy, những giá trị trần gian cũng đáng được đề cao, cổ võ và yêu mến, vì chúng phản ánh sự tốt lành của Thiên Chúa

2. Nhìn vũ trụ theo con mắt đức tin

Ngoài ra, theo đức tin, vũ trụ có thể trực tiếp bộc lộ Thiên Chúa cho chúng ta, do tính vô biên, quyền năng và sự vĩnh cửu của Người, để đưa chúng ta tới việc chiêm ngưỡng sùng bái kính cẩn.

Tuy nhiên, còn phải vất vả lắm mới đạt tới trình độ này, vì tin Chúa, theo một nghĩa giản dị, là hoàn toàn xác tín mà không cần phải thấu cảm thấy gì cả. Đức tin đó đòi con người phải ‘giải giáp’ trước Thiên Chúa, nghĩa là chấp nhận giới hạn của mình và tầm mức vô biên cao cả của Người được diễn tả một phần nào qua cảnh bao la của trời đất mà Người là chủ tể. Bởi vậy, chỉ có cái nhìn theo đức tin mới đưa ta tới gần Chúa. Cố nhiên, tin ở đây không phải là mù quáng, mê tín, thụ động, mà là tìm hiểu, thán phục lẽ huyền nhiệm của trời đất do Chúa nắm giữ đầu mối, ngọn nguồn. Một đức tin như thế, không thể diễn ra trong sự thanh bình, mà chắc chắn phải bước qua va chạm, đen tối, hoài nghi, lưỡng lự, chống đối, để cuối cùng đi đến thuận phục. Tổ phụ Gia-cóp ngày xưa cũng đã phải ‘vật lộn’ với Chúa (St 32,25-31) và cuối cùng ông đã phải chịu thua, khi nhận ra Người. Thiết tưởng, ta cũng nói được rằng con người ngày nay đang ‘vật lộn’ với Thiên Chúa, cũng như Gia-cóp xưa kia và biết đâu qua cơn ‘vật lộn’ gay go này, con người lại chẳng tỉnh ngộ mà nhận ra Chúa. Ta có quyền hy vọng và hoạt động để sửa soạn ngày đó, khi Chúa Giê-su lại đến để thu hồi vạn vật về một mối và đặt dưới quyền của Chúa Cha toàn năng.

Nhưng dù sao, nhìn vũ trụ theo con mắt đức tin vẫn là điều khó đối với rất nhiều người ở thời đại chúng ta, vì tin thuộc phạm vi nội giác và siêu hình. Mà người thời nay lại ưa những gì là thực tế, cụ thể, nên khó thấm nhuần siêu nhiên, thành ra cũng ít đọc nổi những dấu hiệu về Chúa phát hiện qua vạn vật.

Kết luận

Bởi vậy, nhiệm vụ của người công giáo là xuất hiện như nhân chứng của Chúa trong thế giới. Thế giới này chưa phải là dấu hiệu về Chúa, mà trái lạ trong rất nhiều trường hợp còn là bình phong che đậy Người. Xuất hiện như nhân chứng ở đây, là sống như những người đang nhìn xem vũ trụ mà biết ý nghĩa cùng liên lạc của nó với Đấng Tối Cao, đồng thời mở đường cho người ta biết khám phá ra dấu hiệu về Chúa tiềm ẩn trong đó, bằng cách tin nhận sức mạnh vô hình của Chúa trong trần gian. Như vậy là làm chứng cho siêu nhiên bằng cuộc đời tín thác, đạo hạnh và sống như đã bước vào cảnh vực của những thực tại cánh chung trong sách Khải huyền : “Bấy giờ tôi thấy trời mới, đất mới, vì trời cũ, đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa... cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,1 và 4).

L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.