CÁI CHẾT : CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI SỰ SỐNG (phần II)

Cái chết: ngưỡng cửa cuộc đời

Như vừa bàn giải sơ lượt trên đây, người ta ai cũng nói đến chết, sợ chết, trốn chết, quên chết, hoặc đón nhận cái chết. Mỗi người quan niệm về sự chết một lối, nhưng chưa thấy ai nói đến chết như ngưỡng cửa đưa vào cuộc đời hay cái chết con đường đưa tới sự sống.

Vậy cái chết có ý nghĩa gì đối với người tin Chúa?

Đối với người tin Chúa, chết không phải là hết. Chết là ngưỡng cửa đưa vào cuộc đời hay con đường đưa tới sự sống. Nhưng cần xác định ngay ngưỡng cửa cuộc đời hay con đường đưa tới sự sống ở đây không phải kéo dài mãi đời sống hiện tại hay tái sinh con người, đưa nó từ chỗ phân hóa, tê liệt, bất động khi trút hơi thở cuối cùng về chỗ sinh hoạt sống động trong cõi người ta. Chết là không còn góp mặt với người đương thời trong mọi biểu dương của nó, đi từ vật lý,tâm lý đến siêu nhiên như ăn, ngủ, làm việc, thương mến, suy nghĩ, chiêm niệm, ngưỡng vọng v.v… Chết là tan nát, rã rời, đứt đoạn, tiêu tán hình hài, không còn giao cảm được với ai trên cõi đời này nữa.

Khi chết, người tin Chúa cũng chết theo nghĩa đó. Nhưng họ lại sống trường sinh bất diệt ở một cõi đời khác, như Chúa Giêsu đã hứa cho những ai tin Người: “Chính Thày là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thày thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thày, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26). Người tin Chúa thì dù có chết cũng sẽ sống. Nhưng sự sống đây không giống, và cũng không còn là sự sống, như ta đang sống hiện nay, với một không gian cư ngụ rõ rệt, và những phiền hà, vui tươi, phấn khởi, lo lắng v.v… ”Vì khi từ trong đám người chết sống lại, người ta không lấy vợ lấy chồng nữa, mà sẽ như thiên thần trên trời”. (Mc 12,25). Đó là lời tiên báo cuộc đời mới con người sẽ được sống, sau khi trút bỏ thân xác, đợi lúc hồn xác tái hợp trong buổi thẩm chung ngày tận thế.

Nhưng không phải chết bất cứ cách nào cũng sẽ được hưởng sự sống như Chúa hứa, mà phải sống và chết như Chúa. Điều này có nghĩa gì ? Sống theo Chúa là làm theo ý Đức Chúa Cha, mỗi người trong cảnh đời riêng và tùy theo ơn gọi đã nhận được. Mà ý Đức Chúa Cha là muốn chúng ta ăn ngay ở lành, tin nhận và tuân theo lề luật của Người. Đó là tất cả chương trình sống đã được phác họa ngày ta chịu phép Rửa tội. Phép Rửa tội là lời giao ước giữa Chúavới ta; một đàng Chúa nhận ta làm con, ban sự sống thần linh đặc biệt của Người cho ta; một đàng ta công nhận chủ quyền tuyệt đối của Người trên ta. Ví thế, ta hứa tin nhận Người là Chúa Ba Ngôi và từ bỏ ma quỷ, tội lỗi, thế gian và những sự phù hoa nó bày ra để quyến rũ ta.

Tuy nhiên, trung thành với lời cam kết đó không phải dễ. Vì thế người tín hữu phải luôn luôn tranh đấu vật lộn với những đam mê của mình, để giữ vững lời cam kết từ bỏ. Sự cố gắng từ bỏ liên lỷ này cũng đồng nghĩa như một cái chết tiệm tiến, liên tục vì phải xâu xé giằng co giữa hai trật tự : trật tự của Thiên Chúa và trật tự của thế gian. Cái chết trong sự từ bỏ đó là điều kiện tiên quyết để bước vào sự sống của Chúa. Thành ra, người tín hữu Chúa Kitô, khi chịu phép Rửa tội là bằng lòng chết cho tội lỗi và những mầm mống sinh tội, để được tự do làm chủ mình theo trật tự của Chúa.

Trong phép Rửa tội, ta thấy Hội thánh dùng những chất liệu có ý nghĩa tượng trưng rất mạnh mẽ như nước, lửa, muối. Nuớc thanh tẩy, cứu sống và tiêu diệt. Lửa đốt cháy, soi sáng dẫn đường. Muối ướp mặn, giữ cho khỏi hư thối và tăng cường sinh lực. Ngoài ra, phép Rửa tội còn nhắc lại một sự kiện lịch sử rất ý nghĩa : đó là cuộc Vượt qua biển Đỏ của Dân Do thái, từ bỏ cảnh đời nô lệ để bước sang vùng tự do. Cuộc lặn lội này đã diễn ra và tiếp theo bằng nhiều gian khổ, cho tới khi Dân Chúa mon men tới bờ Đất Hứa. Đó cũng là hình ảnh cuộc hành trình của con người đi về cõi Sống. Bởi vậy, chịu phép Rửa tội là nhận chết để được sống.

Ngày xưa, lễ nghi Rửa tội trong những thế kỷ đầu còn thấm thía hơn bây giờ nhiều. Hồi đó, thường rửa tội bên bờ sông hay cạnh giếng nước. Người chịu rửa được đưa thẳng xuống nước, bị dìm trong lòng nước ba lần, sau mỗi câu trả lời về Ba Ngôi Thiên Chúa, rồi lại được vớt lên. Cử chỉ dìm xuống vớt lên đó ngụ ý chết đi và sống lại : chết trong lòng nước và sống lại khi đứng lên. Lòng sông, lòng giếng ở đây tượng trưng cho nấm mồ chôn xác. Người tín hữu phải chôn xác mình để rồi thoát xác mà sống lại.

Hơn nữa, phép Rửa tội cũng còn là vang bóng thâm trầm và ý nghĩa về lễ Vượt qua Biển đỏ năm xưa của người Do thái. Người Kitô hữu khi chịu phép Rửa tội cũng đã vượt qua cái chết, đi từ chỗ tình nguyện chịu khổ, chịu chết để sống lại vinh quang với Chúa trong ngày Phục sinh mà chúng ta cử hành long trọng mỗi năm. Phép Rửa tội cũng cho ta thấy Chúa Kitô đã chết (Lc. 12,50; Mc 10,38) và cái chết của Người chính là con đường đưa tới sự sống cho chúng ta. Người đã thành lập một đạo mới, lấy cái chết làm khởi điểm hồi sinh cho những ai tin theo lời Người giảng dạy. Đạo của Người không phải là một đạo cam chịu, bất lực, ủy mị, mà chính là đạo thắng vượt giải thoát, đặt căn cứ trên sự chấp nhận gian khổ, kể cả cái chết về phần xác, để biến đổi, thăng tiến, và mặc cho nó một ý nghĩa cứu chuộc phong phú như lời Người dạy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12, 24-25).

Sự tan biến, nát ải của hạt miếng cũng như sự hy sinh mạng sống mình ở trần gian này để sống theo Tin Mừng của Chúa Cứu Thế, nghĩa là bằng lòng chịu thử thách, gian lao, vất vả để trung thành với Nguời, xét về một phương diện là thiệt thòi, nhưng xét về phương diện khác lại là thành công, vì đối với tín hữu, chết là một mối lợi, bởi lẽ Chúa Kitô là sự sống của họ: “Quả thực, sự sống của tôi là Chúa Kitô và chết đối với tôi là một thắng lợi” (Pl 1,21)

Sở dĩ, thánh Phao-lô quan niệm chết là một thắng lợi, vì giam mình trong thân xác hữu hạn này, ngươi cảm thấy nặng nề, bức rứt và chỉ mong được thoát xác trần tục bay về với Chúa (2 Cr 5,8) : người mong chóng được mặc áo vinh quang phục sinh để gỡ bỏ những gì là mong manh, mỏng dòn trong thân xác mình (2 Cr 5,1-4; I Cr 15, 51-53). Và ngay từ bây giờ, tuy còn mang thân xác, người tín hữu đã bắt đầu chết theo ý nghĩa mới bàn giải theo thánh Phao-lô.

Kết Luận

Chết theo đạo Phục Sinh : Con đường đưa tới sự sống

Đạo Phục sinh là một kiểu nói mới được phục hồi ít lâu nay, để diễn tả một thực tại vô cùng phong phú, bấy lâu bị chìm sâu trong kho tàng truyền thống của Hội thánh mà Hiến chế Phụng vụ đã khơi lên, để phơi bày ra ánh sáng địa vị chủ yếu của mầu nhiệm Phục sinh trong cuộc đời tín hữu. Hiến chế nói: "Sự nghiệp cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Chúa Cha cách hoàn hảo đó, Chúa Kitô đã chính yếu hoàn thành bởi mầu nhiệm Phụcsinh qua cái chết, sự sống lại và vinh thăng của Người, nhờ đó, khi chết, Người đã phá hủy cái chết của chúng ta và khi sống lại, Người đã phục hồi sự sống". (Hiến chế Phụng vụ số 5).

Căn cứ theo đó, ta thấy đạo Phục sinh là đạo xoay quanh Chúa Kitô, dựa vào cái chết và sự sống lại của Người. Sống và chết hai điều đối nghịch nhau. Thế mà hai điều đó lại đã xuất hiện nơi Chúa Giê-su. Người đã phải chịu nhục và được vinh quang, đã chết và sống lại: "Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?" (Lc 24,26). "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại" (Mc 8,31; 9,31; 10,34). Vì thế, đạo Phục sinh cũng là đạo tinh luyện con người qua con đường đau khổ để tiến tới vinh quang. Đó chính là niềm vui, sự hy vọng và phấn khởi cho mọi tín hữu, vì như thánh Phao-lô nói: "Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng… Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thuơng hơn hết mọi người (1Cr 15,14 và 19).

Như vậy, cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu là trung tâm điểm của đời tín hữu, và đạo Phục sinh là đạo xoay quanh cái chết và sự sống lại của Người. Tưởng cần nhớ lại cuộc lên đường của dân Do thái thoát Ai cập, vượt Biển đỏ (Xh 14,15-30) tiến về đất hứa và đặt liên quan giữa việc thoát ly Ai cập của Do thái với phép Rửa tội, mới cảm thấy ý nghĩa thâm thúy của việc Chúa sống lại để giải thoát chúng ta, cũng như xưa đã giải thoát Do thái khỏi ách nô lệ Ai cập. Chúa đã đem chúng ta từ bóng tối đến ánh sáng, từ cõi chết đến sự sống. (1Ga 3,14). Chúng ta đã chịu chết với Chúa khi chịu phép Rửa tội, chết cho thế gian (1 Ga 2,16), cho tội lỗi và những đam mê bất chính (Rm 6,12) đồng thời cũng đã sống lại với Người (Cl 2,12; Rm 6,4). Phép Rửa tội là con đường cứu thoát chúng ta, nhờ đó ta vượt qua tội lỗi, dứt khoát và đoạn tuyệt với cảnh đời nô lệ do nó gây nên và cầm chân chúng ta lại trong đó.

Nhờ đâu mà được như thế? Thưa chính là nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Giê-su. Cho nên nguồn mạch mọi ơn cứu thoát của ta phát sinh từ thánh giá Phục sinh của Người. Bởi vậy, Thánh giá và Phục sinh không thể tách biệt nhau. Đó là hai mặt của một mầu nhiệm duy nhất : mầu nhiệm Phục sinh. Hằng tuần, ngày Chủ nhật, lúc họp mừng phụng vụ và cử hành thánh lễ, là chúng ta tưởng niệm ngày sống lại của Chúa. Hàng năm, khi vào mùa Chay để sửa soạn mừng lễ Chúa sống lại là chúng ta chuẩn bị "ăn mừng" ngày giải thoát và chiến thắng của chính chúng ta. Sau này khi được đi đón Chúa trở lại trong vinh quang là lúc thân xác tội lỗi yếu hèn của chúng ta được biến thành thân xác chói lọi hào quang, rực rỡ vinh hiển. (Rm 8,22tt; Pl 3,10tt. 20tt). Lúc ấy chúng ta được sống lại hoàn toàn trong cuộc đời vô cùng vô tận (Dn 12, 2-3).

Chung qui, trước sau, cuộc đời của chúng ta vẫn phải hướng về mầu nhiệm Phục sinh, vì ơn cứu thoát và hạnh phúc muôn đời của chúng ta tùy thuộc ở đó. Đối với mỗi người chúng ta, Thiên Chúa có một chương trình và dự định riêng. Chương trình và dự định đó là mỗi người nhận biết Chúa Cha và Đấng Người đã sai, để được sống đời đời (Ga 17,3) Chúng ta có một sự nghiệp phải hoàn thành. Sự nghiệp đó là chiếm lãnh cho kỳ được Nước Trời Chúa hứa cho những ai theo và tuân giữ lời Người (Mt 13,44tt; 5,3; Mt 8,1-4; Mt 6,33; Mt 7,21). Nếu coi thường việc hoàn thành sự nghiệp đó ở trần gian này thì thật là chúng ta làm mất ý nghĩa và đánh lạc cùng đích của đời mình vậy ! Mà mong muốn thực hiện công trình này, tất nhiên không thể không sống mầu nhiệm Phục sinh.

Vì thế, đạo của chúng ta phải là đạo chết và sống diễn ra song song trong cuộc đời : chết cho tội lội, tính mê nết xấu, chết cho con người cũ và sống cho Chúa, mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, bác ái, vị tha, tôn trọng các điều răn vì mến Chúa, vì hiểu biết, chứ không phải vì bị ép buộc hay sợ hãi, bởi lẽ chúng ta là con cái Người (Gl 4,6; Rm 14,29).

Cuối cùng, lời nhắn nhủ sau đây của thánh Phao-lô sẽ phác họa cho chúng ta một mẫu đạo Phục sinh để sống :

" Anh em đã được trỗi dậy cùng với Chúa Kitô,

nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới,

nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa.

Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới,

chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.

Thật vậy, anh em đã chết và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa.Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người và cùng Người hưởng phúc vinh quang
" (Col, 3,1-4)