LTS: Bài này được viết bởi tác giả Jason Evert, một biện giải viên (apologist) Công Giáo tại trang web Catholic Answers (Những Câu Giải Đáp về Công Giáo). Tác giả có bằng Cao Học về Thần Học từ trường Đại Học Thánh Phanxicô ở Steubenville. Tác giả này chuyên nói về các đề tài có liên quan đến sự khiết tịnh Kitô giáo cho hàng ngàn giới trẻ mỗi năm, và gần đây nhất là tại Đại Hội Thánh Thể được tổ chức tại Tổng Giáo Phận Atlanta, Georgia.

Sự sùng kính của một người nào đó dành cho các vị Thánh của Thiên Chúa không chỉ dừng tại đó, mà nó còn lan tỏa tới cả Thiên Chúa thông qua những vị Thánh của Ngài. Việc tôn kính một vị Thánh xuất chúng nào đó, thì cũng là việc tôn kính về biểu tượng tình yêu của vị Thánh đó.” Những ngôn từ của một vị Thánh Tiến Sĩ Giáo Hội, Thánh Tôma thành Aquinas, đã nói tóm tắt một cách súc tích lý do tại sao mà những người Công Giáo qua biết bao nhiêu thế kỷ vẫn tôn kính Đức Mẹ. Nhưng rũi thay, các bức tượng và những hình ảnh khác về Đức Mẹ vẫn thường hay bị nguyền rủa và sao lãng dưới chiêu bài của tôn giáo, hay bị báng bổ vô thần bán thánh (desecrated) dưới danh nghĩa là vì “nghệ thuật.” Đức Mẹ khi hiện ra Nữ Tu Lucia đã nói với Nữ Tu ấy rằng: việc bất kính như vậy sẽ là một nổi đau đâm thấu tới Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ.

Để làm giảm thiểu một cách tối đa về sự chểnh mảng hay sự phạm thượng này, chúng ta phải biết tôn kính những hình ảnh của Mẹ một cách đặc biệt. Chúng ta phải bắt chước như thái độ của Thánh Bernadô thành Clairvauz, người đã thốt lên rằng: “De Maria numquam satis!” (Nói về Mẹ Maria, Cho Dẫu Có Nói Nhiều Bao Nhiêu Nữa, Cũng Vẫn Chưa Bao Giờ Đủ Cả!). Thế nhưng, chúng ta cũng phải biết cách để giải thích về sự nhiệt tâm của chúng ta là tại sao chúng ta lại yêu biết bao nhiêu các ảnh tượng và những tranh vẽ về Đức Mẹ.

Khi nói chuyện với những Kitô giáo vốn không phải là Công Giáo về đề tài có liên quan đến các ảnh tượng, họ chắc có lẽ đã biết một đoạn Kinh Thánh trong Sách Xuất Hành khi Thiên Chúa lên án việc làm ra các ảnh tượng (images) (ở chương 20, từ câu 4 đến câu 5). Tuy nhiên, họ thường hay bỏ qua một điểm rằng là Thiên Chúa cũng đã ra lệnh cho việc tạo ra các ảnh tượng ấy. Năm chương sau khi Thiên Chúa tuyên bố rằng không có một tượng thần (graven image) nào được làm ra để chỉ tới trời hay đất, và Thiên Chúa đã phán lệnh cho Môisê rằng, “Hãy làm ra hai tượng về thiên thần bằng vàng.” (sách Sáng Thế, chương 25, câu 18). Và sau đó trong Thư Gởi Các Vua Quyển Thứ 1, 6 và 7, Solômon đã lấp đầy đền thờ của Chúa bằng những tượng thần từ trời cao và từ đất xuống. Bên trong cung thánh thì bằng các hình tượng gổ cao khoảng 18 feet, trong khi đó bò đồng và sư tử chạm trổ được nhìn thấy khắp nơi bên trong đền thờ.

Rõ ràng là qua thời của Sôlômon cũng như Môsê thì các ảnh tượng được cho phép làm ra miễn là chúng không bị thần tượng hóa. Không lẽ vì một ảnh tượng, mà có ai đó lại dám nói rằng, bị thần tượng hóa? Thưa điều đó không đúng! Lấy ví dụ như, không ai có thể cho rằng tất cả những người dân ở tiểu bang Nữu Ước lại chính là những người sùng bái thần tượng vì nơi đó có sự hiện diện của Tượng Nữ Thần Tự Do. Hơn thế nữa, một người con trai không thể được coi như là một người sùng bái thần tượng nếu như cậu có một bức ảnh của mẹ cậu trong phòng sinh hoạt gia đình của mình. Nếu như ai đó lại có thể có hình ảnh của một người mẹ ở nơi trần gian ngay chính trong ngôi nhà của mình, thì chẳng lẽ người đó không thể nào có hình ảnh về người Mẹ của Chúa Giêsu trong Giáo Hội, nơi nhà thờ, vốn dĩ, cũng là nhà của Thiên Chúa sao? Có một số người có thể lý luận rằng chẳng có sự cấm đoán gì cả đối với các ảnh tượng, miễn là chúng không bao giờ được dùng vì những mục đích tôn giáo. Tuy nhiên, vì những ảnh tượng nhưv ậy đã được chưng đầy khắp trong đền thờ, vốn dĩ là nơi rất thiêng liêng của người Israel-thì rõ ràng là lời tranh cải này không có cơ sở trong Thánh Kinh.

Các ảnh tượng có thể được làm ra, miễn là chúng không bao giờ được thờ phượng, vì chưng, sự thờ phượng đó phải dành cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Lấy một ví dụ quan trọng trong sách Dân Số 21 khi Thiên Chúa ra lệnh cho Môisê hãy làm một con rắn đồng để chữa lành người Israel, và con rắn đồng ấy đã được người dân Israel gìn giữ trong suốt hàng trăm năm trời, mãi cho đến khi nó bị hủy diệt vì có một số đông bắt đầu ngẫu tượng hóa nó. Theo như những ngôn từ của Martin Luther rằng: “Không có bất kỳ điều gì có thể thành lời “Không có những thần lạ nào trước ta ngoại trừ những gì có liên quan tới sự sùng bái thần tượng. Thế nhưng những bức ảnh hay những bức tượng chạm trổ được làm ra không phải vì do sự sùng bái thần tượng, và việc làm như thế, thì không có gì bị cấm cản cả.”

Một vài người thừa nhận rằng việc có một ảnh tượng là điều được cho phép, nhưng việc tỏ bày sự tôn kính thì chẳng có gì khác hơn là sự sùng báo thần tượng. Chính vì thế, nếu một người Công Giáo cúi đầu trước một ảnh tượng, thì liệu việc này có liên quan tới sự sùng kính Thiên Chúa không? Thông qua Kinh Thánh, chúng ta có thể đọc được rất nhiều ví dụ về việc con người cuối đầu chào trước những người khác (như trong sách Sáng Thế, chương 33 câu 3 có nói đến); hay việc nằm quỳ phục trước các thiên thần (theo như sách Sáng Thế, chương 19 câu 1); và việc té dưới đất trước Hộp Đựng Pháp Điển (Ark of the Covenant) (nhu trong sách Jôsuê, chương 7, câu 6) mà không phải là bất kính đối với Thiên Chúa. Tuy nhiên, Kinh Thánh đã ghi nhận lại rằng một số dáng điệu, cách bộ lại chính là cung cách sùng bái khi nó được dành cho những người đàn ông (như trong sách Acts, chương 10, từ câu 25 đến câu 26), các thiên thần (sách Khải Huyền, chương 19, câu 10), hay các đồ vật (Sách Thẩm Phán, chương 2, câu 17) trong rất nhiều trường hợp khác.

Từ “proskuneo” theo tiếng Hy Lạp thường hay được dùng trong những đoạn Kinh Thánh này để mô tả về một hành động, giống như là việc cúi đầu chào trước một người khác. Trong hai đoạn trên, từ ngữ này có thể bao hàm một cử chỉ chào tương tự, nhưng lại được cho phép trong trường hợp này, và lại bị cấm trong trường hợp khác. Sự khác biệt không dễ gì được tìm thấy qua cử chỉ chào bái bên ngoài, nhưng là những gì ẩn chứa sâu thẳm bên trong trái tin. Khi Cornelius quỳ phục dưới chân của Phêrô như trong sách Acts, chương 10 câu 25 là để tỏ sự tôn kính, Phêrô liền qưở trách rằng: “Hãy đứng lên, vì chính bản thân tôi cũng là một con người phàm mà thôi!” Thế nhưng khi David phủ phục xuống đất ba lần trước Jonathan, thì ông nói tôi không đáng để nhận được một sự coi trọng đến thế (như trong sách Samuel, chương 20, câu 41). Lý do có sự phản ứng khác nhau là vì việc thờ phụng, tôn kính (worship) cùng đích được quyết định từ trong chính tâm trí của người tỏ bày thái độ tôn kính. Jonathan biết rõ rằng là David không phải là người tôn kính ông, nhưng lại tỏ ra là kính trọng ông.

Cũng tương tự như vậy, đối với một người Công Giáo cuối đầu một cách tôn kính trước một bức tượng của Mẹ Maria. Sự tôn kính được tỏ bày ra không phải là vì ảnh tượng chính là một nữ thần đáng được tôn kính mà hình ảnh đó chính là một sự hiện diện hữu hình của một người đáng được để tôn kính và mến yêu. Hành động này cũng giống như việc một đứa trẻ nhớ nhà, liền hôn lên hình ảnh của mẹ cậu.

Cũng cần phải làm rõ rằng người Công Giáo không phải cầu nguyện đến các ảnh tượng, mà là cầu nguyện trước chúng. Người Công Giáo thừa biết rõ rằng một vị Thánh bằng men sứ không thể lắng nghe hay nhậm lời cầu nguyện. Một bức tượng chạm trổ hay một bức tranh chỉ là một sự nhắc nhó hữu hình về thực tại vượt xa hẳn những gì con người có thể mong đợi hay nghĩ tới. Đó chính là lý do tại sao Martin Luther đã từng nói rằng: “Con người không thể nào có thể nắm hiểu nỗi những sự kiện thiêng liêng trừ khi những hình tượng được làm ra từ chính những sự ấy.”

Tôn kính một ảnh tượng về Đức Mẹ chính là tôn kính về hiện thực thiêng liêng và mẫu tử vượt ra ngoài phạm vi của ảnh tượng ấy, chính là Mẹ Của Chúng Ta.