GƯƠNG TRUYỀN GIÁO CỦA MỘT SỐ LINH MỤC THỪA SAI

Theo cuốn Répertoire des Membres de la Société des Missions Étrangères (1659-2004) của Văn Khố Missions Étrangères de Paris ấn hành và phổ biến, tổng kết từ 1659 đến 2004, đã có 4263 linh mục của Hội Thừa Sai Paris đi phục vụ truyền giáo ở ngoại quốc. Vị mang tên số 1 là ĐC Lambert de la Motte đi Tonkin, năm 1660. Và vị mang số 4263 là linh mục George Maria Paschal đi Ile Maurice năm 1997.

Và theo danh sách khác của Hội này phổ biến năm 1996, (Prêtres des Missions Étrangères au Vietnam), có 991 linh mục Thừa Sai của Hội đã qua truyền giáo tại Việt Nam. Người đến đầu tiên là ĐC Pierre Lambert de la Motte, đến VN ngày 18-6-1660. Và vị cuối cùng là Cha Joseph Gourdon, đến ngày 4-1-1975. Hầu hết các ngài qua VN mà không bao giờ trở về quê hương Pháp, đã chọn VN là quê hương, để ‘‘rồi sống chết với đoàn chiên’’. Khi qua đời, thi hài các ngài được chôn cất chung với giáo dân trong đất thánh của xứ đạo. Riêng các hài cốt các Vị Thừa Sai chôn cất ở Lăng Cha Cả, Tân Sơn Nhất, sau 1975 đã đuợc chuyển về Hội Thừa Sai Paris. Tiểu sử, sinh hoạt các ngài gắn liền với xứ đạo, nơi các ngài thi hành mục vụ.

Với lòng ngưỡng mộ và ghi ơn sâu xa, xin ghi lại đôi nét sinh hoạt mục vụ của 6 vị Thừa Sai Paris, góp công ngay từ giai đoạn đầu cho cánh đồng truyền giáo tại Việt Nam. Xếp theo thứ tự năm sinh. Nơi sinh ghi theo giáo phận.

1. Đức Cha PIERRE LAMBERT DE LA MOTTE

Đức Cha Pierre Lambert de la Motte sinh ngày 28-1-1624 tại Saint georges de Aveyron, Lisieux, Normandie (miền 44), địa phận Bayeux trong một gia đình quí phái và thẩm phán. Năm 23 tuổi Lambert đã là luật sư. Được giáo dục trong gia đình lễ giáo, đạo hạnh và học hành, cậu vừa đi làm vừa tham gia sinh hoạt tông đồ, xã hội, đi lễ mỗi ngày, đọc kinh suy ngẫm thường xuyên. Cậu hay tiếp xúc và ảnh hưởng tư tưởng của ba nhà đạo đức là : Ông Henri de Lévis, sáng lập Hội Thánh Thể, bạn thân của Jean de Bernières de Louvigny, lập ẩn viện Caen, nhất là liên hệ mật thiết với thánh Jean Eudes, sáng lập dòng Trái Tim Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria, mục đích truyền giáo và huấn luyện hàng giáo sỹ.

Lambert bỏ nghề trạng sư xin tu chủng viện và thụ phong linh mục ngày 27-12-1655, tại Coutances. Sau đó cùng với em là Nicolas Lambert de La Motte lập chủng viện ở Rouen, cô nhi viện, trung tâm đón tiếp chị em hoàn lương, và trung tâm xã hội. Năm 1627, nhân dịp về Paris công tác, Cha đã làm quen với nhóm Cha François Pallu. Trong khi Cha Đắc Lộ từ Viễn Đông về kêu gọi và chiêu mộ thừa sai ở Paris, đồng thời xin Tòa Thánh gửi Giám Mục sang Viễn Đông để thành lập hàng giáo sỹ bản quốc. Cha đã nhiệt tình dâng cúng tài sản, cộng tác với nhóm này, thực hiện cho bằng được chương trình. Tòa Thánh đã bổ nhiệm ngài và Cha François Pallu (1626-1684) làm giám mục cho Viễn Đông. Chịu chức Giám Mục ngày 11-6-1660. Đến ngày 18-6, ĐC lên đường đi Á Đông, cùng với hai thừa sai Jacques De Bourges (1630-1714), sau làm Giám Mục Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) và François Deydier (1637-1693) sau làm Giám Mục Đông Bắc Đàng Ngoài (Hải Phòng). Ngày 22-8-1662, sau hai năm, mới tới Yuthia, Thái Lan. Ngài bỏ ra 40 ngày để tĩnh tâm, sau đó học tiếng Thái và Việt. Lập cơ sở giáo dục, xã hội và từ thiện. Năm 1664, Đức Cha François Pallu mới tới Thái Lan. Hai Đức Cha có sáng kiến triệu tập công đồng Yuthia (1664?), công đồng Phố Hiến, ở Đàng Ngoài (1670) và công đồng Hội An ở Đàng Trong (1671). Ba công đồng là kim chỉ nam cho Giáo Hội Việt Nam, trong thời bắt đạo và cho tới nay.

Từ 1662 đến 1679, mình Đức Cha Pierre Lambert, ở Thái Lan mà điều hành Giáo Hội Á Đông gồm Trung Hoa, Thái lan và Việt Nam. Vì Đức Cha Ignace Cotolenti chết trên đường đến nhiệm sở, còn Đức Cha François Pallu đi du hành mục vụ liên miên.

Từ Thái Lan, Đức Cha Lambert đã ba lần kinh lý về Việt Nam. Tại Thái Lan, Đức Cha mở Chủng viên tại Yuthia cho các chủng sinh ba giáo phận Trung Hoa, Thái Lan và Việt Nam (1664), Dòng Mến Thánh Giá (1675) và nhiều cơ sở bác ái từ thiện. Đặc biệt cùng với Đức Cha François Pallu, Ignace Cotolenti, và François de Laval de Montmorency lập Chủng Viện Thừa Sai Paris, năm 1653.

Sự nghiệp cửa Đức Cha Pierre Lambert là làm tròn sứ mạng Đại diện Tông Tòa mà Tòa Thánh ủy thác, thiết lập Hàng Giáo Sỹ (1668), thầy giảng, Dòng Mến Thánh Giá (1670) và tổ chức giáo xứ. Thao thức suốt đời Ngài là có người Việt Nam thay thế Thừa sai. Và Ngài đã toại nguyện khi nhắm mắt lìa đời vào ngày 15-6-1679 tại thủ đô Thái Lan, với sự thương tiếc của vua Phanarai, chúa Nguyễn Hiền Vương, toàn thể tín hữu Đàng Trong và Đàng Ngoài. (DCÂC. 4/1997, tr. 23.)

2. Đức Cha FRANçOIS PALLU

Đức cha François Pallu sinh ngày 31-8-1626, tại Tours, tỉnh Indre et Loire, giáo phận Tours. Gia đình danh giá, và có tới 16 người con. François là con thứ hai. Có bảy anh em đi tu : hai dòng Tên, hai nữ tu, và hai là kinh sỹ. Từ khi mới lãnh Chức Năm, năm 1649, François gia nhập Hội Thánh Thể. Thụ phong linh mục tháng 9-1650, và hoạt động thêm trong nhóm Bons Amis.

Ngày 8-11-1661 cùng với 14 vị lên đường đi truyền giáo cho VN. Và qua đời tại Mo-Yang, Fo-Kien, Trung Hoa, ngày 29-10-1684. Từ 1664, ĐC bắt đầu hoạt động truyền giáo ở VN chung với ĐC Lambert de La Motte (xem ở số 1 trên đây).

Sau khi gặp Cha Đắc Lộ từ VN về và được phép của Tòa Thánh, cùng với ba cha khác lập Hội Thừa Sai Paris. Ba vị đó là Cha Lambert de la Motte, Ignace Cotolendi và Francois de Laval de Montmorency (xem bài Hội Thừa Sai Paris, số báo 206. Tháng 10-2004, tr. 5).

3. Đức Cha PIERRE JOSEPH PIGNEAU DE BÉHAINE (BÁ ĐA Lộc)

(Soissons.1741-1799)

Đức Cha Bá Đa Lộc tên thật là Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine sinh ngày 02-11-1741 tại Origny-en-Thiérache, Aisne (miền 02), giáo phận Soissons. Học và thụ phong linh mục tại chủng viện Thừa Sai Paris, ngày 31-12-1765. Ngày 9-9-1765 rời Pháp qua truyền giáo tại Viễn Đông, địa phận Đàng Trong. Năm 1767 Cha đến Hà Tiên và được cử làm giám đốc chủng viện Hòn Đất, gần Hà Tiên. Năm 1770, Cha được phong làm Giám Mục (Evêque d’Adran). Năm 1771, Đức Cha Guillaume Piguel (1722-1771) qua đời, Ngài được cử thay thế làm Giám Mục Đàng Trong. Tháng 10-1777 Đức Cha gặp Nguyễn Ánh và giúp Ngài trốn qua Poulo Panjang vịnh Thái Lan. Tới tháng 11, Nguyễn Vương lấy lại được Gia Định, Đức Cha về ở Tân Triều, gần Biên Hòa. Tháng 3-1783, Gia Định lại mất vào tay Tây Sơn, Nguyễn Vương cũng như Ngài đều trốn qua vịnh Thái Lan. Cuối 1784, hai người gặp nhau ở cù lao Poulo Panjang. Nguyễn Vương nhờ Ngài đem Hoàng Tử Cảnh sang Pháp cầu viện. Ngày 28-11-1787, thay mặt triều đình Đức Cha ký hiệp ước Versailles. Năm 1789, Ngài trở về Gia Định. Năm 1799 làm việc ở Qui Nhơn, bị bệnh và qua đời ngày 09-10-1799 tại Mĩ-Cang, thọ 58 tuổi. Đức Cha có công trong việc thành hình chữ quốc ngữ, soạn dở Tự Điển Latinh-Annam, và Đức Cha Jean Louis Tabert Từ (1794-1840) soạn tiếp và in 1838 mang tên Dictionarium Latino-Anaticum. Cuốn sách căn bản cho các tự điển Việt Nam sau này.

(VN. Văn Học Sử Yếu. Dương Quảng Hàm, tr. 351)

4. Linh mục THEODORE WIBAUX (Vị).

(Cambraix. 1820-1877)

Linh mục Théodore Louis Wibaux (Vị) sinh ngày 28- 3-1820, tại Roubaix, tỉnh Nord, giáo phận Cambraix. Thụ phong linh mục ngày 6-6-1846, rời Pháp ngày 20-2-1859, mãi tới năm 1860, mới tới Sàigòn. Trước khi đi, Cha ghé thăm cha Curé d’Ars. Cha thánh Gioan Maria Viannê nói với cha Wibaux rằng : Cha hãy mau qua bên ấy, vì có nhiều linh hồn đang chờ đợi cha đó. Lời tiên báo này quả linh ứng. Cha tới Sàigòn giữa lúc cấm đạo mạnh. ĐC Dominique Lefebre Ngãi đặt cử cha làm bề trên chủng viện, ở Xóm Chiếu, và học tiếng Việt, thay thế thánh Phêrô Lê Văn Lộc vừa mới tử đạo.

Việc thành lập chủng viện tại VN bắt đầu từ ĐC Lambert de La Motte. Năm 1667, một chủng viện thánh Giuse, được mở ở Chantaboun, bên Thái Lan đào tạo chủng sinh cho châu Á. Vì chiến tranh, trường bị triệt hạ, Cha Pigneau de Behaine làm bề trên và chuyển trường VN ở Hòn Đất, Hà Tiên. Năm 1774, Cha Pigneau De Behaine được chọn làm giám mục, gặp thời cấm đạo, trường dời đi dời lại, về ở Biên Hòa, rồi chạy qua Nam Vang. Năm 1789, xin lập lại ở Chantaboun bên Thái Lan không được, trường dời về Lái Thiêu. Năm 1798, cha Bosserand làm giám đốc, mở thêm chi nhánh ở Tân Triều, Biên Hòa. (Kỷ Yếu Đại Chủng Viện Thánh Giuse. TP. HCM. Khóa III, (1993-1999), tr. 22)

Ngày 2-3-1844, ĐC Dominique Lefebre Ngãi làm làm giám mục Sàigòn. Năm 1850, Ngài mở trường đào tạo chủng sinh ở Thị Nghè và làm bề trên. ĐC lại lập một trường khác ở Cù Lao Giêng, quen gọi là Đầu Nước. Cha Jean Pierre Elisa Borelle Hòa (1820-1860) làm bề trên. Và một trường tạm khác ở Cái Nhum, do cha Jean Claude Pernot Định (1823-1804) coi sóc. Nhưng ba trường này đều bị tàn phá ghê gớm do cơn bắt đạo.

Năm 1862, chủng viện tạm ở Thị Nghè bị kháng chiến quân triều đình đốt phá, Cha đem chủng sinh về Xóm Chiếu. Ở Xóm Chiếu được ít năm. Cha Vị đi tìm đất mới bên Sàigòn. Khu đất ngay cửa viện mồ côi của các Sơ Nhà Trắng. Khu nhà còn rậm rạp, đường xá nhỏ và chật hẹp. Bên kia đường đã có Dòng Kín. Gặp khu đất thích hợp, Cha nói : Hic est Locus (này là chỗ).

Ngày 28-8-1862, khởi sự xây dựng trường chủng viện. Năm 1863, ĐC Lefebre đặt viên đá đầu tiên. Năm 1866, công trình hoàn tất. ĐC Miche khánh thánh, khai giảng và đặt tên là Chủng Viện Thánh Guise, theo yêu cầu của ĐC Lefebre.

Năm 1867, Cha Vị khởi công xây nhà nguyện chủng viện. Năm 1869, cha ngã bệnh, phải nghỉ. Đại diện cho ĐC, Cha qua Roma, yết kiến ĐGH Piô IX, trình bày những khó khăn truyền giáo, và xây cất chủng viện, tại Sài gòn. ĐGH an ủi và khuyến khích : ‘‘Con đừng buồn, nhà đó là hạt giống châu báu sẽ trổ sinh nhiều hoa quả tốt đẹp, thơm tho và ngon lành’’.

Năm 1871, sức khỏe Cha bình phục, Cha trở lại Sài gòn. ĐC khánh thành nhà nguyện mới.

Cha Vị qua đời lúc 1giờ 30, ngày 7-10-1877, sau không đầy ba tuần bệnh nặng. Hưởng thọ 58 tuổi. Thi hài được chôn cất sau nhà nguyện chủng viện, theo mong muốn của ngài. Có thể nói, Cha Vị đã dành trọn cuộc đời cho công cuộc đào tạo linh mục VN của giáo phận Sàigòn. Sau đó Cha Julien Thiriet Thi làm bề trên thay thế (đọc về Cha Thi, ở số 6). (NKĐP. số 195, 26-9-1912, và các số tiếp 196, 197, 198).

5. Linh mục JuLien Thiriet (Thi)

(Nancy. 1839- 1897)

Linh mục JULIEN THIRIET (Thi) sinh ngày 21-2-1839 tại Hoéville, tỉnh Meurthe-et-Moselle (miền 54), địa phận Nancy. Cha mẹ rất đạo đức, nên Lucien được giáo dục đến nơi đến chốn. Trong gia đình, Julien còn người em làm cha sở tại Nancy và người cháu là Thừa Sai Julien Auguste Geoffroy (1871-1918) phục vụ ở Bình Định. Julien đi lễ hàng ngày, về nhà cậu thường bắt chước các cha diễn lễ lại cho anh chị em trong nhà xem. Khi nào rảnh lại tụ họp trẻ con trong xóm cắt nghĩa giáo lý và đọc kinh chung. Trong nhà, Julien ngoan, hiền, ít nói và không bao giờ cãi lại cha mẹ. Năm 11 tuổi, Julien tới nhà cha sở học Latinh để chuẩn bị đi tu. Vào Tiểu Chủng viện cậu học lớp ba và ba năm sau được theo học đại chủng viện.

Năm 19 tuổi, tháng 8-1858, Thày chọn vào chủng viện Thừa Sai Paris. Năm 1862, ngày 14-6, Thày lãnh chức linh mục và tình nguyện đi Việt Nam. Đầu năm 1863 Cha tới Sàigòn, nhận tên Việt là Thi. Năm sau, 1864, Cha về dạy học tại trường Latinh, cộng tác với Cha Théodore Louis Wibeaux Vị (1820-1877), người sáng lập trường Latinh Sàigòn. Cha làm giáo sư trường này trong 33 năm, tới khi qua đời. Cha rất hài lòng trong việc đào tạo chủng sinh và cũng rất buồn khi có em nào bỏ tu. Cha hay bị nhức đầu, nhưng Cha vẫn lướt thắng và làm việc như thường. Tháng 10-1877, Cha được cử làm Bề trên chủng viện thay Cha Vị qua đời. Khó khăn trong việc giảng dạy là sách giáo khoa, nên Cha Thi soạn ra bộ sách Giải nghĩa Evang các ngày Chúa nhựt, lễ cả trong năm. Cha còn lo dịch sách về Lịch Sử Giáo Hội,

các bài giảng, đem in từ Hồng Kông. Đa số các linh mục Việt Nam thời ấy đều là học trò của Cha Thi. Nên Cha còn theo dõi, đi thăm, hướng dẫn, nâng đỡ các người con này đi phục vụ tại các họ đạo. Ngoài việc chủng viện, Cha còn giúp Dòng Kín và Dòng Thánh Phaolô trước mặt và bên cạnh. Cha nổi tiếng giảng hay và lôi cuốn trong các dịp giảng phòng, các nơi đều tuốn về nghe tại dòng Phaolô.

Có năm Cha về Pháp chữa bệnh, phải mổ. Là dịp gặp lại gia đình, nhưng Cha vẫn mong trở lại Việt Nam tiếp tục công việc bên cạnh con cái mình. Trở lại Việt Nam ít lâu, ngày 2-7-1897, Cha bị bệnh lạ ở dưới cằm, miệng đau nhức đêm ngày, không ăn được. Đêm mồng 1 rạng 2-8-1897, Cha qua đời. Những ngày đau đớn trên giường bệnh, Cha thường cầu nguyện : ‘Tôi đã hết lòng hiến dâng cuộc đời cho Chúa, trong 33 năm qua. Và hôm nay tôi xin dâng lại cho Chúa lần nữa. Chúa định bệnh như vầy, tôi xin vâng theo ý Chúa luôn mãi’. (NKĐP. số 38,1909, tr. 595)

6. Đức Cha JEAN CASSAIGNE (SANH)

(Air et Dax. 1895-1973)

Đức Cha Jean Cassaigne Sanh sinh ngày 30-01-1895, tại Grenade-sur-l’Adour, Landes (miền 40), giáo phận Air et Dax. Con trai duy nhất của ông Joseph Cassaigne (1842-1948) và bà Nelly Cassaigne (1852-1907). 12 tuổi mẹ mất và khi đang làm Giám Mục Sàigòn thi cha mất. Cassaigne xin tu học (1913) và thụ phong linh mục tại chủng viện Thừa Sai Paris ngày 19-12-1925. Ngày 06-04-1926 từ giã ga Lyon đi Marseille lấy tàu qua Việt Nam và tới Sàgòn ngày 05-05-1926 học tiếng Việt ở Cái Mơn và chọn tên là Gioan Sanh.

Ngày 24-01-1927, Đức Cha Isidore Marie Joseph Dumortier Đượm (1869-1940) cử Ngài làm cha sở họ Di Linh. Thánh lễ đầu tiên gồm Cha, chú giúp lễ đem từ Sàgòn, ông bõ điếc xin theo từ Cái Mơn và vợ chồng người Mọi. Cuối 1927, Cha gặp một phụ nữ cùi rên la bị gia đình bỏ mặc trong một chòi lá, chờ chết. Cha tiếp tục thăm và chăm sóc thuốc men, rửa tội, được hai tuần bà chết (07-12-1927). Cha tiếp tục tìm kiếm người cùi và tập trung họ sống thành làng vào tháng 01 năm 1929, được 23 người, tại đồi Kala. Một mình làm đủ việc : y tá có khi đỡ đẻ, chạy gạo và thuốc men cho dân làng cùi. Cha nhuốm bệnh sốt rét và lao phổi. Một năm bị sốt tới 10 tháng Năm 1938, có thêm 3 nữ tu dòng Bác Ái Vinh Sơn lên giúp.

Cha học và nói thông thạo tiếng thượng Koho và xuất bản tự điển thượng ngữ Koho- Pháp Việt (1929), và Giáo lý (?) và phong tục Thượng (1937), in tại Tân Định. Vào thập niên 60, chính cha tổ chức và phát thanh trên đài phát thanh Đàlạt chương trình tiếng Koho. Khu vực mục vụ của Cha rất rộng, chạy dài cả 100 cây số dọc theo đường từ Di Linh ngược lên tới Bắc Hội, Cầu Đất, Bảo Lộc, Kala, Công Hinh... Cha làm việc kiệt sức, không chịu nghỉ, người ta bắt đem cha vào nhà thương Đàlạt (1929), không bớt đem Cha về Sàigòn (1930) và bắt Cha phải về Pháp chữa trị (1931). Ở Pháp cha vẫn nóng lòng : ‘Mau mau cho tôi về Việt Nam với những đứa con Thượng của tôi. Vì tôi không thể bỏ chúng một mình’.

Ngày 20-02-1941, đang băng bó vết thương cho bệnh nhân, Cha nhận được thư Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Sàigòn. Ngài nói : ‘Lần thứ ba, nước mắt lại đến với tôi : mất mẹ, bỏ cha và nay lại xa con’. Danh hiệu Giám Mục là Bác Ái và Tình Yêu (Caritas et Amor). Ngày lễ thụ phong giám mục (24-06-1941) người ta lấy làm lạ vì có đoàn con chiên cùi vây quanh Ngài. Cha con vui vẻ. Địa phận Sàigòn rất quen với hình ảnh của Ngài là ‘Đức Cha đi xe đạp’ đi đến các họ đạo. Làm việc ở Sàigòn mà vẫn nhớ tới con chiên ở Di Linh. Sau 14 năm làm Giám mục, ngày 30-11-1855, Đức Cha xin từ nhiệm, trao quyền Cho Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền. Ngày 03-12-1955, Đức Cha sung sướng và vui vẻ trở về làng Kala tiếp tục sống rồi chết bên người con cùi.

Cha con lại gặp nhau, niềm vui khôn tả. Cha lại tiếp nối con đường cũ, mở rộng làng cùi, có trường học, trạm xá, đường tráng nhựa. Cha không còn đủ sức để làm việc vì các căn bệnh hoành hành Cha từ lâu : bệnh sốt rét (từ 1929), cùi (1954), lao xương (1957) và lao phổi (1964). Đời Cha đã bắt chước và hay kể lại gương của thánh Gioan : Một hôm, thánh nhân gặp một người cùi lở loét đầy mình, thối tha ghê tởm. Thánh Gioan liền ghé lưng cõng anh ta về nhà, băng bó vết thương. Sáng ra, người cùi biến mất. Thánh nhân cho đó là Chúa Giêsu.

Đức Cha rất quí mến Việt Nam và nói : Quê hương Việt Nam chính là quê hương tôi’ (La patrie Vietnamienne, c’est ma patrie à moi). Vì Chúa đã định như vậy...Tại quê hương này, Cha sung sướng sống giữa các con cái Việt Nam của Cha, dầu cha phải chấp nhận tất cả cực hình về thể xác như hiện giờ. Ngài hay nói : Cha yêu con cái Việt Nam, nhất là người Việt đau khổ. Cha lần chuỗi cho các con. Cha cầu nguyện mỗi ngày cho Việt Nam chúng con. Cha cầu nguyện mỗi ngày như vậy. Suốt 48 năm dài, cha đã sống tại Việt Nam, cha đã sống giữa các con và đã dâng hiến tất cả ! Giờ đây, Cha không tiếc một điều gì về sư dâng hiến toàn diện này’

Theo di chúc ngày 24-09-1968, Đức Cha Sanh ‘Mong được an nghỉ dưới tháp chuông người phung’. Từ đầu 1972, ĐC bị liệt giường vi lao phổi lao xương và qua đời 31-10-1973. Đức Cha để lại một câu, đáng kính phục : "Đời tôi có 3 ước nguyện : Tôi ao ước được đau khổ vì Chúa và vì người anh em. Tôi ao ước được đau khổ như vậy lâu dài, suốt đời và được vững lòng chịu đựng. Tôi ao ước được an nghỉ giữa con cái người cùi của tôi. Đối với người VN Đức cha hứa : "Trên Thiên đàng, Cha sẽ được biết nhiều. Sẽ rõ hơn về những nhu cầu hồn xác chúng con. Khi ấy Cha sẽ cầu nguyện đắc lực gấp bội cho chúng con." Phần mộ ngài đặt ở Di Linh, dưới chân tháp làng cùi Kala. Tất cả các vị Thừa Sai đều muốn gửi thân xác mình bên cạnh con chiên mình. Như ở Lăng Cha Cả ở Tân Sơn Nhất, nơi nhiều vị Thừa sai gửi thân xác tại đây.

ĐC Sanh xứng đáng với danh hiệu ‘‘Tông Đồ người cùi’’, như Chân Phước Damien (Bỉ, 1840-1889).

Ngày 12-01-1972, Chính phủ VNCH đã tặng Ngài huy chương Đệ Tứ Bảo Quốc Huân Chương. Đức Cha Gioan Sanh sẽ sống mãi trong lòng người VN (giaoxuvnparis.org))