CÁI CHẾT : CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI SỰ SỐNG

l.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.

Cái chết : Một thực tại

Là người, ai cũng phải chết. Đó là điều quá rõ ràng, không cần phải minh chứng. Xưa nay chưa ai đã thoát chết. Cái chết vẫn hằng theo dõi, ám ảnh tâm trí mọi người, dù người ta muốn quên hay chối bỏ nó. Nhưng càng xa tránh, càng chối bỏ thì nó lại càng theo sát chặt chẽ.

Phải chăng đó là điều Ingmar Bergman (nhà dựng phim nổi tiếng người Thụy điển), đã cố diễn tả trong phim “Dấu ấn thứ bảy” (Le septième sceau) khi muốn bàn về cái chết và coi nó như một bí nhiệm. Trong suốt cuốn phim, ta thấy thần chết luôn lảng vảng hiện hình, ngay cả những lúc con người ít ngờ nhất, qua mọi sinh hoạt, lúc vui cũng như lúc buồn, khi thịnh sự cũng như hồi suy thoái. Dưới mắt Bergman, cái chết luôn luôn đứng đó, như rình mò, như chờ đợi… Phải xem phim và phân tích tường tận tỉ mỉ từng cử chỉ, dáng điệu, lời ăn tiếng nói của mỗi nhân vật cũng như hình ảnh cùng tiết điệu của phim, mới càm thấy thấm thía nỗi kinh hoàng và sự bất lực của con người trước cái chết.

Jean Cocteau cũng đã bàn về thần chết trong phim Orphée. Và Albert Camus cũng đã nói nhiều đến chết trong tiểu thuyết được xếp vào loại tiêu biểu nhất của ông : cuốn Dịch hạch (La peste). Trong hai tác phẩm này, các tác giả đã cho ta thấy chủ quyền của thần chết trên con người,. Con người bất lực trước sự chết.

Mấy nhà bác học Nga đang cố tìm ra một thứ thuốc làm cho con người khỏi chết. Các ông vô cùng băn khoăn khi nhận thấy khoa học đã tiến những bước khổng lồ trong phạm vi thám hiểm không gian, và sáng chế những máy móc rất mực tinh vi hữu hiệu trong nhiều địa hạt mà chỉ riêng trong phạm vi sinh tử, con người dường như vẫn đứng nguyên một chỗ, nghĩa là không thể làm cho người chết sống lại, và làm cho một người đang sống,sống mãi. Sự băn khoăn này lại càng khiến các ông cố gắng đi tìm hơn nữa để may ra một ngày nào đó khám phá ra được thứ thuốc “trường sinh”. Báo Tuổi Trẻ ngày 25.11.2002 có đăng tin trong bài Gen đã tạo được trường thọ ? với những lời lẽ như sau : “Chúng tôi tin rằng sắp tới đây - lời một giáo sư sinh học người Nga - sẽ có công nghệ cho phép kéo dài thêm cuộc sống của con người ít nhất gấp 2-3 lần, nếu không muốn nói là vô tận.”

Tuy nhiên, cho đến nay sự sống vẫn còn là một bí nhiệm. Quyền tạo ra sự sống vẫn nằm trong tay Chúa Hóa Công và cái chết cũng ở trong tay Người, tuy loài người có thể gieo rắc sự chết chóc thảm hại ở khắp nơi, …

Những nỗ lực của các nhà bác học Nga và bao nhiêu nhà bác học khác trên thế giới một ngày kia có đưa tới kết quả loài người mong muốn hay không : đó còn là giả thuyết. Theo các ông thì đó là một điều có thể cũng như bao điều có thể khác, vì căn cứ vào những khám phá luôn luôn mới mẻ của trí óc con người, các ông được quyền và có lý nghĩ như vậy. Nhưng theo Kinh thánh, điều đó không thể nào thực hiện nổi, vì Chúa đã phán với ông bà nguyên tổ : “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về bụi đất” (Gen, 3,19).

Đây là án phạt ông bà nguyên tổ phải mang vì tội không nghe lời Chúa. An phạt này truyền sang cả con cháu. Phải chi ông bà đã không phạm tội thì đã không phải chết và cái chết đó chắc hẵn con cháu cũng không phải gánh chịu, vì Chúa đã dặn trước là ngày nào ăn trái cây biết lành biết dữ, ngày đó ông bà sẽ phải chết: “Nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết (Gen 2,17).

Người công giáo hay ngoài công giáo nhưng nhận định sự việc diễn tả trong Kinh thánh theo tinh thần khoa học thực nghiệm, cái gì cũng đòi kiểm chứng, mà không đọc những đoạn văn đó theo cái nhìn của đức tin, theo ý nghĩa hơn theo sự việc được diễn tả, biết đâu chẳng mỉm cười khi đọc những đoạn Kinh thánh trên đây và rất khó giữ mình cho khỏi nghĩ đó là những chuyện thần thoại.

Nhưng đó lại là vấn đề khác. Vấn đề ở đây là bàn về cái chết. Cái chết là một biến cố chung cho mọi người. Khoa học có thể xóa bỏ được sự chết hay không, điều đó ta chưa biết. Người tin khoa học, không nhận Chúa thì bảo một ngày kia người ta sẽ biết; còn những người tin Chúa thì cho đó là quyền dành riêng cho Người và chết là một án phạt Người đặt ra cho nhân loại. Loài người không thể phá nổi án phạt này. Chính vì thế, những người vô thần không ngừng tranh đấu để dành lại quyền sinh tử bấy lâu vẫn nằm trong tay Thiên Chúa. Ngày nào dành được quyền này, con người sẽ trở thành ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa có để cho con người ngang hàng với mình không? Điều này Kinh thánh không hề vén tỏ cho ta một chút màn bí mật nào mà chỉ thấy nói con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. (St 1,27) và con người được gọi là con Thiên Chúa (Rm 8,14). Trước kia, ngay từ đầu khi mới được dựng nên, con người đã bị cám dỗ vượt lên khỏi thân phận thụ tạo của mình để trở thành ngang hàng với Thiên Chúa bằng cử chỉ hái ăn quả cây “biết lành biết dữ”. Nhưng kết quả thế nào, chúng ta đã biết. Ngày nay nếu con người vẫn quyết “nhoi” lên cho ngang hàng với Thiên Chúa thì kết quả cũng sẽ giống như hành động “ăn trái cấm”, vì Thiên Chúa vô cùng trổi vượt, con người không bám gót Người nổi, cũng như xưa ông Mô-sê không thể xem thấy Chúa mà sống được : “Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống.” (Xh 33,20)

Vậy chết là điều tự nhiên; cho đến nay ai cũng thấy, nhưng không thể cưỡng lại được.

Thái độ của con người trước sự chết

Đứng trước sự chết, con người có nhiều thái độ khác nhau. Nhưng thái độ chung làmuốn thoát chết. Nếu bó buộc phải chết mà không thể làm khác được, bấy giờ thái độ mới khác nhau. Ngoài ra, có người lại đi tìm cái chết để kết liễu cuộc đời, vì cuộc đời theo họ đen tối quá, không đáng sống và không thể sống. Đó là trường hợp của những người tự tư; họ coi cái chết như một giải thoát hay một cách thế để bảo toàn danh dự hay khí tiết. Những người đó đã lao đầu vào cái chết, nhưng chưa chắc họ đã không sợ chết, vì chết vẫn là một hình ảnh hãi hùng với ngay cả người muốn xa lánh cõi đời. Có chăng họ sẽ nghĩ rằng sự đau khổ trong cái chết sẽ chóng vánh mau qua, và chết rồi là hết nên cố chịu đựng những giây phút bi thảm cái chết dành cho mình trước khi tan biến vào hư vô hay sang một kiếp khác mà họ không biết thế nào.

Can đảm đón nhận

Ngoài sự sợ hãi trước cái chết là điều chung cho mọi người, ta lại thấy có những người can đảm đón nhận nó. Những người này không phải vì tuyệt vọng hay coi cái chết như một kết thúc dĩ nhiên, sớm muộn gì ai cũng một lần trải qua, hoặc nghĩ rằng cái chết là vô lý hay cũng đồng nghĩa như chết là hết. Đó là cái chết của những vị thánh, của các anh hùng liệt sĩ hay những con người cao cả hy sinh vì nghĩa vụ cho đến chết (như các bác sĩ, các thuyền trưởng trong các vụ đắm tầu hay các nhà truyền giáo, vì lương tâm nghề nghiệp và đạo giáo mà bỏ mình cho đại chúng).

Về điểm này, trước hết phải kể Chúa Cứu thế. Sự sống của người không ai có thể lấy đi được, nhưng chính Người đã rộng tay cho đi, để muôn người nhờ đó mà được cứu thoát, như Người nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi đuợc, nhưng chính tôi hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,18).

Socrate, Phan Thanh Giản cũng đã thản nhiên cầm uống chén thuốc độc. Các vị tử đạo đã bình tĩnh, tin tưởng đón nhận án tử dành cho các ngài. Các chiến sĩ ngoài mặt trận đã liều mạng để đánh đuổi quân xâm lăng, lấy cái chết làm nghĩa cử đền nợ nước. Các nhà anh hùng giải phóng dân tộc khi thất thế, biết rằng “vận trời khi đã tận, sức lay thành nhổ núi mà làm chi” đã khẳng khái ra pháp trường đón nhận cái chết…

Kể ra gương kim cổ về sự can đảm đón nhận cái chết còn nhiều, nhưng chỉ xin nói đến một ít trường hợp ai cũng biết. Ngoài ra còn biết bao nhiêu người đau lâu ốm dài, sống mòn mỏi trên giường bệnh ! Rất nhiều người khác nữa cũng đã can đảm đón nhận cái chết, với một tinh thần chịu đựng gương mẫu và một lòng tin mạnh mẽ phi thường.

Sợ hãi chạy trốn

Đây là thái độ thông thường hơn cả. Và đó cũng là điều tự nhiên do bản năng tự vệ của con người, khi đứng trước một nguy cơ hay một sự đe dọa. Bản năng này làm cho con người nhạy cảm trước bóng dáng sự chết và lo tìm cách bảo vệ. Bởi vậy, sự chết lởn vởn ở đâu là con người lo trốn tránh hoặc đối phó. Dịch hạch, lụt lội, tai ương, chiến tranh, bom đạn v.v… đều là những đe dọa gieo rắc sự chết khiến con người phải đối phó hay chạy trốn.

Nhưng thảm hại ! Dù sợ hãi chạy trốn, con người cũng chỉ thoát vòng vây hãm của nó, trong một thời gian dài hay vắn tùy tiện, còn ai trước sau cũng một lần phải rơi vào tròng của nó hết. Đó chính là cái bi đát của thân phận con người mà người ta không muốn chấp nhận nhưng vẫn phải chấp nhận. Vì thế, các nhà triết học hiện sinh mới cho chết là vô lý. Cái “vô lý” như đã “chộp” ngay lấy người vẫn thường chủ trương va xưng tụng nó : Albert Camus, nhà văn đoạt giải Nobel năm 1957 đã tử nạn xe hơi ba năm sau (4-1-1960) trên đường từ Sens về Paris, một cách bề ngoài xem ra cũng rất vô lý. Số là ông đã mua vé xe lửa để về Paris. Nhưng nể lời mời của bạn, ông đã bỏ xe lửa để cùng về chung xe hơi. Và cái chết đã đột nhiên lôi cuốn ông đi!

Tìm quên trong vui chơi

Nếu chạy trốn không được, người ta sẽ lo âu sợ hãi hoặc cố tìm quên trong hành động hay vui chơi giải trí. Thường chỉ những lúc gian nan cực khổ hay phải đụng chạm thiết thực với cái chết, như khi bị lụt lội, dịch hạch, chiến tranh, tật bệnh, con người mới nghĩ tới chết; còn ngoài ra trong lúc bình thường ít ai để ý đến chết; mà ngược lại còn hết sức đẩy xa những ý tưởng chết chóc vì chúng làm cho cuộc đời ra đen tối và ngăn trở lòng ham sống yêu đời.

Nhưng, nếu chết làm cho con người hoang mang lo lắng thì nó cũng dễ đưa người ta đến chỗ tìm quên lãng. Điều này càng rõ rệt ở những nơi cuộc đời hiến cho con người nhiều tự do, bảo đảm hoặc dễ dàng về vật chất. Đó là trường hợp những nước kỹ nghệ tiên tiến, hoặc những đô thị xa hoa trên thế giới.

Người ta có làm một cuộc điều tra về những nỗi lo âu của con người hiện đại, trong giới công nhân. Kết quả cuộc điều tra cho biết : phần đông sợ thất nghiệp, bệnh tật, già lão mà không sợ chết. Bị gạn hỏi, có người đã trả lời : không nghĩ tới chết bao giờ, hoặc không sợ, phải cố chịu, vì chết là một định mệnh.

Không nghĩ đến chết đối với nhiều người trong thời đại ta, âu cũng là một lối thoát, tuy giả tạo, để khỏi phải bận tâm tới một sự “rầy rà” đè nặng lên cuộc đời. Vì vậy, mới thấy xuất hiện mạnh mẽ lòng ham sống, yêu đời đến độ cuồng nhiệt của mọi giới, nhất là giới trẻ, trong thời bình cũng như thời chiến. Bởi thế, bao người mới chôn vùi đời mình trong “canh bạc thâu đêm, trận cười suốt sáng”. Người ta lý luận rằng, cuộc đời gang tấc, xuân thì mau qua, nếu không tìm cách hưởng thụ “ cái già sồng sộc nó thì theo sau”, thật uổng quá! Bởi vậy,

Cuộc hành lạc bao nhiêu lãi đấy,

Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
”? (Nguyễn Công Trứ)

Thảm hại, nhiều người trẻ tuổi đã coi đó như một lý tưởng và không ngần ngại áp dụng vào cuộc sống. Mầm mống yêu đời đã có sẵn, lại thêm tính thích bắt chước lối sống của một số thanh niên nam nữ Tây phương, một phần thanh thiếu niên nữ tại các đô thị lớn đang bày ra trước mắt chúng ta một cảnh tượng ham sống đến quên chết.

Quả vậy, hàng ngày báo chí đăng tải biết bao tai nạn lưu thông. Phần đông nạn nhân là giới trẻ, lái xe máy Nhật bản, Trung quốc, Đại hàn như bay trên các đường phố (đặc biệt trên xa lộ), vào những buổi chiều hay những ngày nghỉ. Xe nổ dòn trên đường lộ thênh thang, lòng thanh xuân đương độ phơi phới, lại được tăng cường thêm bởi một người bạn tâm tình có tầm vóc mảnh mai và tiếng nói nhỏ nhẹ, thì thật khó còn chỗ cho hình bóng sự chết trong lòng người thanh niên nữa! Vì thế các cô cậu mới ít dè tai nạn xảy ra và cũng không nghĩ đến chết.

Nhưng, dù ham sống đến quên chết, áng mây sầu vần cứ hiện ra tỏa bóng râm che rợp cuộc đời như có nhà thơ viết :

Bấy lâu nay xuôi ngược trên đường đời,

Bạn thấy chăng tôi chỉ hát chỉ cười,

Như vui sống mãi trong vòng sung sướng,

Là vì tôi muốn để cho lòng tôi tưởng

Không bao giờ còn thấy vết thương đau,

Không bao giờ còn thấy bóng mây sầu

Vương vít nữa.

Bạn ơi! Nào có được
!” (Thế Lữ)

Tìm quên trong hành động

Nếu không tìm quên cái chết trong sự hưởng lạc, con người lại cố tìm quên trong hành động, hành động để thay đổi một chế độ, vì theo họ chế độ đó bất công, lỗi thời, chậm tiến, ngõ hầu thiết lập một trật tự mới huy hoàng và tiến bộ. Đó là chủ trương của những người làm cách mạng mà André Malraux đã diễn tả, trong cuốn Thân phận con người (La condition humaine) của ông, qua những nhân vật như Tchang và Kyo. Theo họ, cuộc đời đã dồn ta vào một ngõ bí thì phải nhất tề đứng lên phá cái ngõ bí đó bằng hành động. Hành động, vì thế, đã trở thành ma lực hấp dẫn biết bao thanh niên thiếu nữ đi vào con đường cách mạng. Họ lý luận :“ Cái chết của tôi là điều chướng tai gay mắt, phi lý đối với cá nhân thì lại có nghĩa đối với đoàn thể.“ “Cái chết của cha mẹ là sự sống cho con cái”, Hegel nói thế. Xét một đàng nó là điều kiện tiến bộ cho các thế hệ mai sau. Không có nó thì trái đất sẽ tràn ngập những ông già. Tuổi trẻ không cùng của nhân loại đòi cá nhân phải chết, cái chết chỉ là một thời khắc trên bước đường tiến hóa. Hơn nữa, nó còn là điều kiện của di chuyển và tiến bộ, điều kiện của sự sống. Quả vậy, chính trong sự tranh đấu không ngừng giữa những cái đối nghịch mà cái mới nổi lên tiêu diệt cái cũ. Mỗi khi vật chất phát sinh ra một hình thức mới thì phải hủy bỏ hình thức cũ đi. Mùa xuân ra đời thì mùa đông phải chết. Tuổi thơ ấu phải chết, ta mới bước sang tuổi trưởng thành được. Những tâm tình bền vững nhất cũng phải đổi mới không ngừng mới mong bền vững.

Nhưng không phải chỉ những người theo cách mạng hay chủ nghĩa hành động mới lấy việc làm để quên chết. Còn biết bao tâm hồn hiền nhân quân tử hiến cả cuộc đời tận tâm khai hóa cho đồng bào, hoặc hết mình săn sóc cho bệnh nhân Rồi lại có những văn nhân nghệ sĩ, bác học suốt đời cặm cụi sáng tác, truy tầm nghiên cứu, những mong để lại cho đời cái phần tinh hảo nhất của mình mà quên chết.

Sống bình thường nên hay quên chết

Còn một loại người cuối cùng (mà số này đông đảo hơn cả trong nhân loại),là chúng ta, những người sống bình thường hay dễ quên chết. Ta sống như mọi người, vẫn ăn, vẫn ngủ, vẫn chơi, vẫn làm việc, nhưng thường không mấy khi đặt vấn đề chết, trừ trường hợp bị đe dọa cấp bách. Ta chỉ biết sống rồi bao giờ chết sẽ hay Thành ra, trong cuộc đời, người ta sống dường như quên mình sẽ phải chết!

Thái độ này phải chăng đáng trách? Các nhà giảng thuyết và đạo đức thường nghĩ như vậy. Vì thế, các vị luôn thôi thúc “con chiên bổn đạo” phải năng nhớ đến sự chết. Đã một thời và nay nhiều nơi vẫn còn, sự chết được diễn tả với những vẻ rùng rợn ghê gớm trong các bài giảng và những tuần cấm phòng, vì đối với các ngài, không gì hữu hiệu hơn, để lôi cuốn người ta ăn năn trở lại cùng Chúa, cho bằng nghĩ tới giờ chết của mình. Càng sợ chết, càng dễ ăn năn trở lại. Muốn kích động trí tưởng tượng của thính giả, tất nhiên phải dùng những hình ảnh thật gợi cảm với một giọng nói lâm ly rùng rợn. Ta hãy nghe một trong những linh mục giảng về sự chết do một thính giả thuật lại:

Chiều hôm đó, giảng về sự chết, ánh sáng chung quanh chúng tôi đều tắt hết, trừ một ngọn nến nhỏ hiu hắt toả sáng. Bóng đen dày đặc xoáy chặt chung quanh chúng tôi. Quỉ lướt cánh trên chúng tôi. Chúng tôi sống trong cơn ác mộng…” Rồi vị giảng thuyết thuật lại cái chết bất ưng của một người trước kia đã từng dự tuần cấm phòng với ngài: “Anh chị em thân mến ! Chàng đã chết, một tay cầm một cuốn tiểu thuyết, một tay cầm ảnh một người đàn bà son phấn loè loẹt. Chết rồi, xác chàng đen thui như bị cháy”.

Nghĩ đến chết và phải đụng chạm thiết thực với cái chết, quả thực, dễ làm cho nhiều người mềm lòng lo đến phần rỗi linh hồn.. Nhưng, ngược lại, cũng rất nhiều người trơ trơ như đá. Hình ảnh sự chết không làm họ rung động. Còn nói gì đến ăn năn trở lại ! Vì thế, họ không muốn nghe nói đến chết. Có khi họ còn cười thầm và cho là ngớ ngẩn,“mị dân” lúc phải nghe giảng về sự chết. Theo họ, chết là một đề tài lỗi thời, chỉ hợp cho những người yếu bóng vía và nên dùng trong một thời đại văn hóa, khoa học, kỹ thuật còn yếu kém. Ở thời đại này, không thể lấy cái chết như một áp lực cảm hóa lòng người được.

(còn tiếp...)