Suy Niệm Mùa Thương 4 - Chúa Giêsu Vác Thập Giá.
THỨ BỐN: CHÚA GIÊSU VÁC THÁNH GIÁ
Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simon, gốc Kyrênê, đặt thặp giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu. Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người. Đức Giêsu quay lại phía các bà mà nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu của chị em. (Lc 23:26-28).
Các Phúc Âm diễn tả rằng sau khi bị đánh đòn, Chúa Giêsu phải vác thập giá đi đóng đinh (Mc 15:20b; Mt 27:31b; Lc 23:26; Ga 19:16). Nhưng Phúc Âm Nhất Lãm (Máccô, Mátthêu và Luca) đã không nói chính xác con đường đi đến nơi hành quyết là ở đâu so với những bức tường của thành phố Giêrusalem, mà chỉ mô tả là gần một con đường nên có nhiều người qua lại (Mc 15:29; Mt 27:39) để họ nhìn thấy mà phải sợ hãi. Có lẽ đó là một con đường từ miền ngoại ô dẫn vào thành phố như Luca đã nói (Lc 23:26). Riêng Gioan đã nói rõ hơn: “Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành” (Ga 19:20).
Sau khi Chúa Giêsu chết, vua Hêrôđê Agrippa I đã xây bức tường thứ ba của thành Giêrusalem để nới rộng thành phố về phiá bắc, do đó nơi Chúa Giêsu chịu chết đã được sát nhập vào trong thành phố. Rồi đến tiền bán thế kỷ thứ hai, người La Mã lại xây thủ phủ của họ ngay trên địa điểm của thành Giêrusalem, nên nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh cũng đã thuộc về bên trong thành phố.
Các Phúc Âm Nhất Lãm cũng đã diễn tả việc ông Simon bị cưỡng bức phải vác thập giá giúp Chúa Giêsu ngay từ lúc bắt đầu bài tường thuật. Sự kiên ông Simon được các thánh sử nhắc đến tên và nguồn gốc là người Kyrênê, Bắc Phi Châu chứng tỏ ông là một nhân vật lịch sử có thật. Những người lính La Mã bắt ông vác thập giá cho Chúa Giêsu là vì sau trận đánh đòn, sức khỏe của Người đã quá yếu, họ sợ Người chết trên đường đi thì bản án của tổng trấn sẽ không được thi hành trọn vẹn.
Theo các nhà khảo cổ, thời Chúa Giêsu thập giá hình chữ T, phần thân cây thẳng đứng của thập giá được dựng sẵn ở chỗ hành quyết, và tội nhân chỉ vác thân cây ngang đến nơi đó mà thôi. Thân cây ngang nặng khoảng 50 kílô gram, được vác trên gáy của tội nhân giống như mang một cái ách trên cổ với hai cánh tay giang rộng và choàng qua thân cây ngang. Thời Trung Cổ, các họa sĩ đã vẽ hình Chúa Giêsu vác toàn bộ cây thập giá như chúng ta vẫn dùng ngày nay đã không có bằng chứng lịch sử và thánh kinh (Raymond E. Brown, The Death of the Messiah, tr. 913).
Theo thánh Luca những người lính La Mã đã đặt thập giá lên vai ông Simon “vác theo sau Đức Giêsu”. Trong cách diễn tả này, Luca muốn nói lên một bài học tinh thần đầy ý nghĩa. Chắc chắn lúc ban đầu, khi bị ép buộc, ông đã kháng cự không muốn vác, vì đây là một cực hình của tội nhân. Nhưng khi vác thập giá theo Chúa Giêsu rồi, do lòng thông cảm và yêu thương, ông đã trở nên người môn đệ đi theo Chúa Giêsu!
Trong sách Công Vụ Tông Đồ, Luca đã nhắc đến một hội đường của người Kyrênê ở Giêrusalem (Cv 6:9). Trong số những người đã tham gia đi rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu ở Antiôkhia, “có mấy người gốc Sýp và Kyrênê” (Cv 11:20), rồi có Lukiô người Kyrênê và Simon biệt hiệu là Đen (Cv 13:1) được coi như người lãnh đạo nhóm Kitô hữu ở Antiôkhia.
Theo các nhà chú giải thánh kinh, lời Chúa Giêsu dạy bảo cho những ai muốn làm môn đệ Người: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo “(Lc 9:23) đã được thánh Luca ghi nhận lại trong cộng đoàn theo truyền thống của chính Simon, người môn đệ đã vác thập giá đi theo sau Chúa Giêsu.
Để diễn tả cảnh Simon vác đỡ thập giá Chúa Giêsu, các họa sĩ đã vẽ hình Chúa Giêsu vác phần đầu của thập giá, còn Simon vác phần sau. Trong cuốn phim “The Passion of The Christ”, đạo diễn Mel Gibson đã để cho ông Simon cùng vác thập giá với Chúa Giêsu. Hai cánh tay của ông đan vào cánh tay của Chúa mà vác. Hai đôi mắt đã gặp gỡ nhau trong thông cảm, để rồi khi đến Núi Sọ, nơi hành quyết, ông Simon đã không muốn rời xa Người, nhưng đã gắn bó với Người đến nỗi tên lính La Mã phải kéo ông ra, lôi cổ đuổi đi. Đi được một quãng rất xa, ông còn quay lại nhìn Chúa Giêsu mà quyến luyến!
Những ai đã gặp gỡ Chúa Giêsu rồi, Người liền ban ơn cho họ có cơ hội để trở nên môn đệ của Người, hay ít ra cũng ăn năn hối cải để lãnh ơn cứu độ. Điều này thánh Luca đã diễn tả qua những người đã gặp gỡ Chúa Giêsu trên đường khổ giá như Simon gốc Kyrênê (Lc 23:26), tên trộm lành (Lc 23:40-43), viên đại đội trưởng đứng dưới chân thập giá đã cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa (Lc 23:47), và những người đứng xem đã đấm ngực ăn năn (Lc 23:48).
Nhờ Simon vác thập giá theo sau, Chúa Giêsu đi phía trước đã có cơ hội để an ủi những người phụ nữ đi theo Người. Dĩ nhiên, đám đông quần chúng đi theo tội nhân để nhạo cười, nhưng không nghi ngờ gì, có một số người phụ nữ rất thương mến Người. Trong số đó, có Đức Maria, Mẹ Người. Phúc âm không nói rõ chỗ nào và khi nào hai mẹ con gặp nhau. Phúc âm Gioan chỉ kể rằng: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (19:25). Đức Maria được mô tả là“Đấng đầy ơn sủng” (Lc 1:28), đã thưa “xin vâng” (Lc 1:38), có lẽ nào lại không can đảm bước theo mỗi bước chân đẫm máu của con mình trong giờ phút cuối cùng hay sao?
Truyền thống tin rằng đã có một cuộc gặp gỡ trực tiếp mặt đối mặt giữa hai Mẹ Con. Cuộc gặp gỡ này là một cuộc ngộ hợp, gặp gỡ mà hiểu nhau, thông cảm và tương đắc với nhau. Thực ra, Đức Maria không cần phải gặp gỡ trực tiếp về thể lý, hay lại gần Con Mẹ để làm gì. Gặp gỡ để bảo vệ Người ư? Cuộc đời của Mẹ và Đức Giêsu đã là một tấm bánh được bẻ ra và chia sẻ, chịu đau khổ và hiến dâng rồi! Mẹ cũng không cần phải lại gần để được an ủi, vì Mẹ biết rằng trong chính nỗi đau buồn này mà sự cứu rỗi nhân loại sẽ được thực hiện.
Dù vậy, Đức Maria có thể ở trong số những người phụ nữ đi theo Chúa Giêsu. Khi Người ngưng lại để nói với những người phụ nữ này, Mẹ đã biết rằng đối với Mẹ, Người không cần phải nói một lời nào nữa. Mẹ đã hiểu tất cả. Lời Người nói dành cho các người phụ nữ của thành Giêrusalem. Chúa Giêsu đã không muốn họ khóc thương cho số phận của Người. Bởi Người không cần an ủi. Hãy khóc thương cho chính họ và con cháu của họ!
Đức Maria cũng đã khóc, nhưng không khóc thương cho chính mình hay Con Mẹ, mà khóc cho con cháu của những người phụ nữ này, và con cháu của những người đã đem con Mẹ đến hành quyết trên Núi Sọ. Phần Đức Maria, Mẹ đã hoàn toàn chấp nhận thánh ý Thiên Chúa rồi, dù có phải đau khổ tan nát cõi lòng!
Vào giây phút này, vai trò của Đức Maria thật cao cả. Mẹ đã khóc cho tội lỗi của nhân loại. Sự đau khổ của Mẹ được kết hợp mật thiết với nỗi thống khổ của Con Mẹ để trở thành “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc”. Mẹ đã học được những giá trị mới của tình yêu. Yêu là cùng chịu đau khổ với người mình yêu. Vì yêu thương nhân loại, Đức Maria đã lãnh nhận những đau khổ khủng khiếp, mà lẽ ra chính loài người sẽ phải gánh chịu theo lẽ công bình của Thiên Chúa: “Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: Phúc thay những đàn bà hiếm hoi, những lòng dạ không sinh không đẻ, những kẻ không cho bú mớm! Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: Đổ xuống chúng tôi đi! Và nói với đồi cao: Phủ lấp chúng tôi đi! Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Lc 23: 29 - 31).
Nếu sự công bình của Thiên Chúa đòi hỏi người vô tội phải chịu đau khổ như vậy, thì đối với những người tội lỗi sẽ phải lãnh chịu ra sao? Nếu ngọn lửa công bình đốt cả những cây rừng xanh tươi, thì những cành cây khô sẽ ra như thế nào?
Vào giây phút đau khổ này, Đức Maria đã biết được mầu nhiệm lớn lao của Sự Cứu Chuộc. Một mặt Mẹ đã nhìn thấy tội lỗi của cả nhân loại, và đồng thời cũng nhận ra sức mạnh và giá trị vô biên của đau khổ làm giá cứu chuộc loài người. Xin Mẹ dẫn chúng con cùng đi với Mẹ bước vào chiều kích sâu thẳm của khổ đau để sinh ơn cứu chuộc cho chúng ta và toàn thể nhân loại.