Chúa Thánh Thần và Phép Thánh Thể (Phần II)
Từ Bỏ Con Người Củ Để Vác Lên Một Con Người Mới (Taking Off The Old Man, Putting On The New)
Giờ đây, chúng ta có thể kết luận rằng câu chuyện về Ngày Lễ Ngũ Tuần chính là một kiểu mô hình về sứ vụ rao giảng tin mừng của Giáo Hội. Việc rao giảng ấy được bắt đầu bằng những dấu chỉ về sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần. Trong khi các phép lạ vẫn cứ tiếp tục xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội, phần lớn không có ai được biết đến nhiều, có lẽ là vì một phép lạ quá phổ biến chính là cuộc sống của chúng ta, vốn đã được hoán chuyển bởi tình yêu thương của Thiên Chúa.
Chúng ta đôi lúc quá nghi ngờ và dè dặt khi phải lắng nghe những nhà rao giảng tin mừng trên truyền hình vì rằng đã có lúc họ nói dối, phỉnh lừa, có quan hệ tình ái lăng nhăng, những người mà rồi sau đó, được tái sinh trở lại, và giờ đây họ đang sống bằng một cuốc sống chân chính, thánh thiện, trong sạch và đạo đức. Cho dẫu sự thật có như thế nào đi chăng nữa, và trong bất kỳ tình huống nào đi chăng nữa, chúng ta đều biết rằng ơn huệ của Thiên Chúa có đủ sức để hoán chuyển con người qua những phép lạ diệu kỳ của Ngài.
Chúng ta được sinh ra và có mặt tại trần gian này là để làm chứng cho Chúa Kitô, thông qua những đổi thay của cuộc sống chúng ta; do thế, chúng ta phải biết cách từ bỏ những cung cách sống tội lỗi, vì nó đã đẩy lùi đi cung cách sống của tình yêu. Thông qua cuộc sống của tình yêu này, chúng ta có thể giúp Chúa Thánh Thần trong việc lan truyền sứ điệp của Chúa Kitô đến cho tất cả mọi người. Điều quan trọng là chúng ta phải biết đảm nhận sứ vụ lan truyền Tin Mừng này đến cho mọi dân nước. Giống y hệt như các tông đồ xưa, vốn dĩ có ánh lửa cháy trên đầu họ khi họ cùng tụ tập trong một căn nhà, thì nay chúng ta cũng vậy, tất cả chúng ta đều đã được Chúa Thánh Thần trao phó để làm chứng về Chúa Kitô.
Sự Làm Chứng Một Cách Thầm Lặng (Silent Witness)
Một cuộc sống, vốn súng đúng theo thần khí của Chúa Thánh Thần, lại chính là một cuộc sống, được dựa trên những giá trị và những điều răn của Thiên Chúa. Thì cuộc sống đó, hoàn toàn trái ngược hẳn với những giá trị của xã hội, của thế giới. Mọi người không thể nào chịu được khi thấy sự hiếu khách, sự đoàn kết và rộng lượng của những người Kitô giáo. Họ không thể nào chịu được khi thấy được một sự hòa bình và niềm hy vọng bền lâu của những người Kitô giáo, ngay cả trong những lúc gian lao, thách thử, tra tấn, đày đọa và cực hình. Họ không thể nào chịu được khi nhận thấy được những cam kết của người Kitô giáo về sự sống, về sự trong sạch, giản dị và khó nghèo. Ở đây chúng ta có ba người, vốn chỉ âm thầm, giản đơn sống để làm chứng cho việc Chúa Kitô đang hiện diện nơi thế giới này.
Những cam kết của Mẹ Têrêsa thành Calcutta cho những người nghèo đã làm chứng cho tình yêu của Mẹ dành cho Chúa Kitô, và đem tình yêu đó đến với cho hàng chục chiệu người trên thế giới. Harry Wu, một người gốc Trung Hoa, đã sống trong tù tội hàng chục thế kỷ chỉ vì đơn giản là ông đã bày tỏ niềm tin của ông vào Chúa Kitô. Ông không ghét bỏ nhưng luôn yêu thương và cầu nguyện cho những ai đã tống giam ông trong suốt ngần ấy năm trời dài đăng đẳng. A.C. Green, một ngôi sao bóng rổ 34 tuổi chơi cho đội Dallas Mavericks, người đã công khai tuyên bố rằng anh ta vẫn còn trong trắng, trinh nguyên và sẽ giữ như vậy mãi, cho đến khi anh lập gia đình.
Thì cuộc sống của những cá nhân này đã làm chứng cho đức tin của họ, hơn là bằng những lời nói sáo rỗng. Những gì mà họ đã làm, thì họ cũng đã làm bởi vì họ chính là những người Kitô giáo. Họ đã sống đúng với thông điệp về một tình yêu biết hy sinh mà Chúa Kitô đã dạy qua việc Ngài bị đóng đinh trên cây thập giá. Họ chính là những dấu chỉ về sự hy sinh của tình yêu Chúa Kitô.
Kết Cấu Của Phép Bí Tích Qua Việc Chúa Bị Đóng Đinh và Ngày Lễ Ngũ Tuần (Sacramental Structure of The Crucifixion and Pentecost)
Các phép bí tích chính là những dấu chỉ, không phải chỉ là những dấu chỉ để hướng về một điều gì đó không thôi đâu. Các phép bí tích rất độc nhất vô nhị vì lẽ các phép bí tích cũng chính là nguyên do để báo hiệu một điều gì đó. Cái chết của Chúa Kitô trên cây thập giá và sự Phục Sinh của Ngài, cả hai sự kiện ấy, đã tạo nên một dấu chỉ mạnh mẽ về tình yêu của Thiên Chúa dành cho loài người chúng ta; và cũng để từ đó, giúp sản sinh trong chính bản thân chúng ta một tình yêu dịu vợi đó.
Khi những người Kitô giáo nói, “Tôi tin rằng Thiên Chúa chính là tình yêu và rằng Ngài yêu thương tôi,” thì họ nói nhiều về điều đó hơn là việc nói rằng: “Thiên Chúa nói Ngài yêu tôi.” Và bằng cách nói lên những lời như thế, họ muốn cho thấy đã có một sự đổi thay trong họ. Một đoạn kinh thánh trích từ sách Isaắc diễn tả cách làm thế nào mà tình yêu diệu vợi của Thiên Chúa đã làm đổi thay chúng ta bằng việc Ngài yêu thương chúng ta: “Vì cũng như mưa với tuyết từ trời sa xuống, tất không lùi lại về trời, nếu đã không thấm nhuận đất đai, nếu không làm cho đất sinh sản, nẩy chồi, và cho người gieo có giống, cùng bánh cho người ta ăn. Cũng vậy, lời của Ta, một khi đã xuất từ miệng Ta, sẽ không về lại với Ta, hư luống, nếu không thực hiện điều Ta đã muốn, nếu không đạt được sự Ta sai làm.” (Trích Sách Ysaya, chương 55, từ câu 10 đến câu 11).
Tình Yêu Kết Trái (Fruitful Love)
Chúa Giêsu Kitô chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa, Người vốn là Tình Yêu (theo Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan, chương 4 câu 8). Lời ấy sẽ không trở lại về Thiên Chúa Cha nếu như chưa hiện thực mục đích mà Ngài được gởi xuống trần gian, và mục đích đó chính là chia sẽ cho chúng ta một cuộc sống yêu thương của chính Thiên Chúa.
Tình Yêu Mang Đến Nhiều Điều Tốt Đẹp (Love Brings Good Things)
Thậm chí nếu đó chỉ là một tình yêu thuần túy của con người, thì đơn giản là tình yêu đó không chỉ chứa đựng những ngôn từ về sự cảm mến sâu sắc đến từ trái tim. Một người yêu mong muốn cho người yêu của mình được hạnh phúc hơn và hưởng thụ nhiều điều tốt đẹp hơn. Và như là lời của bài ca “Nếu Bạn Đang Yêu, Thì Hãy Cho Tôi Biết Được Tình Yêu Đó” (If You are in Love, Show Me) từ cuốn phim My Fair Lady nói rằng, người được yêu muốn thấy được sự biểu lộ của tình yêu đó.
Chúng ta hiểu được sự thật này để hiểu rõ được kết cấu của phép bí tích là nhằm kết hiệp việc Chúa Kitô chịu đóng đinh vào ngày Phục Sinh của Ngài. Trên cây thập giá, Chúa Giêsu hoàn toàn tỏ lộ cho tình yêu trọn vẹn của Ngài dành cho chúng ta. Ngài nói, ngay cả trong những lúc mập mờ, không rõ ràng, thì Ngài vẫn yêu thương chúng ta. Thế nhưng, cái chết của Ngài đã mang đến cho chúng ta những điều tốt đẹp nào? Làm sao mà chúng ta có thể tốt đẹp hơn? Làm sao mà chúng ta có thể được phong phú và dồi dào bằng chính việc phải chịu cực hình và sự chết của Người Con Một Ngài?
Thưa, chính là nhờ vào hồng ân của Chúa Thánh Thần mà chúng ta khám phá ra được trọn ý nghĩa về tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại. Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Chúa Kitô nói với chúng ta rằng Ngài yêu thương chúng ta; vào ngày Lễ Ngũ Tuần, chúng ta cảm nhận được tình yêu thương của Ngài bằng việc đón nhận Chúa Thánh Thần như là hoa trái về sự hy sinh của Chúa Kitô.
Hai sự kiện này, diễn ra cùng lúc và đồng thời với nhau, để cho thấy được nguyên nhân của việc chúng ta được sẽ chia trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao chúng ta nói rằng hai sự kiện đó chính là một “kết cấu của phép bí tích.”
Sự Ra Đi và Trở Lại
Toàn bộ nhiệm thể của Giáo Hội chính là để minh chứng cho sự cứu chuộc “liên lũy”, cho sự ra đi của Thiên Chúa và sự trở lại của Chúa Thánh Thần. Trong Lá Thư Hiến Chế về Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị viết:
“Một mặt là sứ vụ cứu chuộc liên lũy của Người Con Một, Người đã xuống trần gian, được sinh hạ bởi Đức Nữ Đồng Trinh do chính quyền năng của Chúa Thánh Thần; và mặt kia, cũng chính là sứ vụ liên lũy, nhịp nhàng của Chúa Thánh Thần, như đã được Chúa Kitô tỏ bày. Qua sự ra đi của Chúa Con, Chúa Thánh Thần lại đến và Ngài cứ tiếp tục đến như là Người Bào Chữa và như là Thần Khí của sự thật.” (Trích Dominum et Vivificantem 63).
Sự Làm Chứng Khéo Léo (Artistic Witness)
Sự kết liên huyền nhiệm giữa việc Chúa Kitô hy tế và sự trở lại của Chúa Thánh Thần vẫn thường được diễn tả một cách khéo léo, mỹ thuật tại các ngôi thánh đường khi hình một con chim bồ câu được mô tả bên trên cung thánh, bên trên bàn thờ là nơi diễn ra sự hy tế của Chúa Kitô. Biểu trưng này cho thấy rằng cứ mỗi lần Phép Thánh Thể được cử hành để tái diễn lại sự hy tế của Chúa Kitô thì đó lại chính là một mùa Phục Sinh mới cho Giáo Hội, qua đó, không những chúng ta cảm nghiệm được sự ra đi và đến của Ngôi Lời Thiên Chúa, mà kết quả của việc ra đi ấy lại chính là sự trở lại của Chúa Thánh Thần.
Bà Maria Madalêna (Mary Magdalene)
Cảm nghiệm của bà Maria Madalêna vào buổi sáng Chủ Nhật Phục Sinh cho thấy được một điều gì đó quan trọng về cảm nghiệm của chúng ta nơi Phép Thánh Thể.
Sau khi Thiên Chúa bị đóng đinh, bà Maria Madalêna đến để xức dầu cho thi hài của Thiên Chúa, và khi bà đến bà khám phá ngôi mồ đã trống vắng. Rồi thì bà thấy được Chúa Giêsu, nhưng bà lại nghĩ Ngài chỉ là một ông thợ làm vườn tầm thường nào đó, và bà đã hỏi Ngài chỉ cho bà biết về nơi cất dấu thi hài của Chúa Kitô. Khi Chúa Giêsu gọi tên bà, bà mới nhận ra người làm vườn ấy chính là Ngài, và bằng cử chỉ yêu thương, và lòng kính trọng, bà đã quàng tay bà ôm lấy chân của Chúa Giêsu, cho đến khi nào bà nghe Ngài nói: “Đừng cầm Ta lại! vì Ta chưa lên cùng Cha Ta, nhưng hãy đi gặp anh em Ta và nói với họ: Ta lên cùng Cha Ta, và cũng là Cha các ngươi; Thiên Chúa của Ta và cũng là Thiên Chúa của các ngươi.” (Trích Sách Gioan, chương 20, câu 17).
Bà Maria Madalêna đã cảm nghiệm được về sự mất mát khi bị mất Chúa Kitô; bà sung sướng, hồi hộp vì sự xuất hiện của Ngài; và đã để cho Ngài ra đi, và rồi sở hữu được lấy Ngài qua sự trở lại của Chúa Thánh Thần vào ngày Lễ Ngũ Tuần.
Mẹ Maria, Đức Nữ Đồng Trinh (Mary, The Virgin Mother)
Mẹ Maria, Đức Nữ Đồng Trinh cũng có cảm nghiệm tương tự. Cảm nghiệm đầu tiên của Mẹ về việc mất Chúa Kitô khi một cậu bé trai Giêsu ở lại bên thành Giêrusalem thay vì phải trở về nhà cùng với Cha Mẹ Ngài. Mẹ Maria và Thánh Giuse đi tìm Ngài trong vòng 3 ngày liền trước khi cả hai tìm thấy Ngài đang giảng cho các vị bô lão trong đền thờ (theo như Sách Luca, chương 2, từ câu 41 đến 52).
Qua rất nhiều cách, người con của Mẹ Maria vẫn luôn là một sự bí hiểm đối với Mẹ; Mẹ cũng đã có không ít khó khăn khi nhận biết được Ngài chính là ai. Thế rồi, lại qua những phép lạ mà Ngài đã thực hiện, và thông qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, Mẹ Maria, cũng vậy, khi đó Mẹ biết được Chúa Kitô chính là ai.
Và Mẹ cũng thế, Mẹ cũng đã cảm nghiệm được sự trở lại của Chúa Thánh Thần cùng với các môn đệ vào ngày Lễ Ngũ Tuần.
Cảm Nghiệm Song Song của Chúng Ta (Our Parallel Experience)
Nơi Thánh Lễ, chúng ta cũng có được một sự cảm nghiệm tương tự như của bà Maria Madalêna và của Đức Trinh Nữ Maria.
Trước khi lời thánh hóa chưa được đọc ra từ miệng của vị chủ tế, Chúa Giêsu không có hiện diện nơi đó; nhưng bằng quyền năng của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu lại đến y như thể là Ngài đến với bà Maria Madalêna vậy, bằng chính Mình và Máu thật của Ngài. Tuy nhiên, Ngài không thể ở lại cùng với chúng ta. Vì như Giáo Hội đã dạy chúng ta, sự hiện diện của Ngài nơi Phép Thánh Thể chỉ được kéo dài khi bánh và rượu được thánh hóa.
Trong việc Rước Lễ (Holy Communion), chúng ta đón nhận Ngài vào bên trong con người của chúng ta cùng với tất cả sự thương yêu và kính trọng giống như bà Maria Madalêna vậy, vì chúng ta biết rất rõ rằng chúng ta không thể nào cầm giữ Ngài lâu cho được, vì sự hiện diện của Ngài nơi Phép Thánh Thể sẽ tan biến đi.
Giống như cả bà Maria Madalêna và Mẹ Maria, Đức Nữ Đồng Trinh, chúng ta phải “để cho Ngài ra đi” để Ngài về trời với Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, chúng ta cũng còn biết được rằng Ngài không rời bỏ để chúng ta lại như những đứa trẻ mồ côi, vì Ngài ra đi, là để ban xuống cho chúng ta Chúa Thánh Thần.
Thì tới điểm này, chúng ta cần phải kết thúc việc thảo luận của chúng ta về việc cử hành Phép Thánh Thể như là một Mùa Phục Sinh mới, để đón nhận những hoa trái từ đó. Chúng ta có thể làm được điều này bằng cách nhìn vào những gì mà Chúa Thánh Thần đã tác động trong cuộc sống của chúng ta.
Ba Nhiệm Vụ của Chúa Thánh Thần (Three Roles of the Holy Spirit)
Chúa Thánh Thần đóng rất nhiều vai trò trong việc an ủi chúng ta về sự mất mát của việc Chúa Kitô về trời với Thiên Chúa Cha.
Chúa Thánh Thần chính là di sản kế thừa của chúng ta, nghĩa là, Ngài xác tín và bảo chứng cho chúng ta về những lời hứa của Chúa Kitô, vốn sẽ thành sự thật.
Chúa Thánh Thần chính là Nền Tảng về sự hy vọng của chúng ta, rằng chúng ta sẽ nhận được ơn chúc phúc cho một cuộc sống đời sau.
Và cuối cùng, Chúa Thánh Thần chính là người Bênh Vực, Bào Chữa (Paraclete), hay là Người Ủi An (Comforter); Ngài an ủi chúng ta trước những đau khổ, cùng cực mà chúng ta phải gánh chịu để chúng ta được vui mừng, hoan hỉ đón chờ phúc lành cho cuộc sống bất diệt đời sau.
Chúng ta sẽ chú tâm vào vai trò thứ ba này của Chúa Thánh Thần, vì lẽ, cảm nghiệm về tội lỗi, ma quỷ và sự đau khổ chính là một đe dọa nghiêm trọng và rất phổ quát đối với đức tin của chúng ta.
(Còn tiếp. ....)
Từ Bỏ Con Người Củ Để Vác Lên Một Con Người Mới (Taking Off The Old Man, Putting On The New)
Giờ đây, chúng ta có thể kết luận rằng câu chuyện về Ngày Lễ Ngũ Tuần chính là một kiểu mô hình về sứ vụ rao giảng tin mừng của Giáo Hội. Việc rao giảng ấy được bắt đầu bằng những dấu chỉ về sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần. Trong khi các phép lạ vẫn cứ tiếp tục xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội, phần lớn không có ai được biết đến nhiều, có lẽ là vì một phép lạ quá phổ biến chính là cuộc sống của chúng ta, vốn đã được hoán chuyển bởi tình yêu thương của Thiên Chúa.
Chúng ta đôi lúc quá nghi ngờ và dè dặt khi phải lắng nghe những nhà rao giảng tin mừng trên truyền hình vì rằng đã có lúc họ nói dối, phỉnh lừa, có quan hệ tình ái lăng nhăng, những người mà rồi sau đó, được tái sinh trở lại, và giờ đây họ đang sống bằng một cuốc sống chân chính, thánh thiện, trong sạch và đạo đức. Cho dẫu sự thật có như thế nào đi chăng nữa, và trong bất kỳ tình huống nào đi chăng nữa, chúng ta đều biết rằng ơn huệ của Thiên Chúa có đủ sức để hoán chuyển con người qua những phép lạ diệu kỳ của Ngài.
Chúng ta được sinh ra và có mặt tại trần gian này là để làm chứng cho Chúa Kitô, thông qua những đổi thay của cuộc sống chúng ta; do thế, chúng ta phải biết cách từ bỏ những cung cách sống tội lỗi, vì nó đã đẩy lùi đi cung cách sống của tình yêu. Thông qua cuộc sống của tình yêu này, chúng ta có thể giúp Chúa Thánh Thần trong việc lan truyền sứ điệp của Chúa Kitô đến cho tất cả mọi người. Điều quan trọng là chúng ta phải biết đảm nhận sứ vụ lan truyền Tin Mừng này đến cho mọi dân nước. Giống y hệt như các tông đồ xưa, vốn dĩ có ánh lửa cháy trên đầu họ khi họ cùng tụ tập trong một căn nhà, thì nay chúng ta cũng vậy, tất cả chúng ta đều đã được Chúa Thánh Thần trao phó để làm chứng về Chúa Kitô.
Sự Làm Chứng Một Cách Thầm Lặng (Silent Witness)
Một cuộc sống, vốn súng đúng theo thần khí của Chúa Thánh Thần, lại chính là một cuộc sống, được dựa trên những giá trị và những điều răn của Thiên Chúa. Thì cuộc sống đó, hoàn toàn trái ngược hẳn với những giá trị của xã hội, của thế giới. Mọi người không thể nào chịu được khi thấy sự hiếu khách, sự đoàn kết và rộng lượng của những người Kitô giáo. Họ không thể nào chịu được khi thấy được một sự hòa bình và niềm hy vọng bền lâu của những người Kitô giáo, ngay cả trong những lúc gian lao, thách thử, tra tấn, đày đọa và cực hình. Họ không thể nào chịu được khi nhận thấy được những cam kết của người Kitô giáo về sự sống, về sự trong sạch, giản dị và khó nghèo. Ở đây chúng ta có ba người, vốn chỉ âm thầm, giản đơn sống để làm chứng cho việc Chúa Kitô đang hiện diện nơi thế giới này.
Những cam kết của Mẹ Têrêsa thành Calcutta cho những người nghèo đã làm chứng cho tình yêu của Mẹ dành cho Chúa Kitô, và đem tình yêu đó đến với cho hàng chục chiệu người trên thế giới. Harry Wu, một người gốc Trung Hoa, đã sống trong tù tội hàng chục thế kỷ chỉ vì đơn giản là ông đã bày tỏ niềm tin của ông vào Chúa Kitô. Ông không ghét bỏ nhưng luôn yêu thương và cầu nguyện cho những ai đã tống giam ông trong suốt ngần ấy năm trời dài đăng đẳng. A.C. Green, một ngôi sao bóng rổ 34 tuổi chơi cho đội Dallas Mavericks, người đã công khai tuyên bố rằng anh ta vẫn còn trong trắng, trinh nguyên và sẽ giữ như vậy mãi, cho đến khi anh lập gia đình.
Thì cuộc sống của những cá nhân này đã làm chứng cho đức tin của họ, hơn là bằng những lời nói sáo rỗng. Những gì mà họ đã làm, thì họ cũng đã làm bởi vì họ chính là những người Kitô giáo. Họ đã sống đúng với thông điệp về một tình yêu biết hy sinh mà Chúa Kitô đã dạy qua việc Ngài bị đóng đinh trên cây thập giá. Họ chính là những dấu chỉ về sự hy sinh của tình yêu Chúa Kitô.
Kết Cấu Của Phép Bí Tích Qua Việc Chúa Bị Đóng Đinh và Ngày Lễ Ngũ Tuần (Sacramental Structure of The Crucifixion and Pentecost)
Các phép bí tích chính là những dấu chỉ, không phải chỉ là những dấu chỉ để hướng về một điều gì đó không thôi đâu. Các phép bí tích rất độc nhất vô nhị vì lẽ các phép bí tích cũng chính là nguyên do để báo hiệu một điều gì đó. Cái chết của Chúa Kitô trên cây thập giá và sự Phục Sinh của Ngài, cả hai sự kiện ấy, đã tạo nên một dấu chỉ mạnh mẽ về tình yêu của Thiên Chúa dành cho loài người chúng ta; và cũng để từ đó, giúp sản sinh trong chính bản thân chúng ta một tình yêu dịu vợi đó.
Khi những người Kitô giáo nói, “Tôi tin rằng Thiên Chúa chính là tình yêu và rằng Ngài yêu thương tôi,” thì họ nói nhiều về điều đó hơn là việc nói rằng: “Thiên Chúa nói Ngài yêu tôi.” Và bằng cách nói lên những lời như thế, họ muốn cho thấy đã có một sự đổi thay trong họ. Một đoạn kinh thánh trích từ sách Isaắc diễn tả cách làm thế nào mà tình yêu diệu vợi của Thiên Chúa đã làm đổi thay chúng ta bằng việc Ngài yêu thương chúng ta: “Vì cũng như mưa với tuyết từ trời sa xuống, tất không lùi lại về trời, nếu đã không thấm nhuận đất đai, nếu không làm cho đất sinh sản, nẩy chồi, và cho người gieo có giống, cùng bánh cho người ta ăn. Cũng vậy, lời của Ta, một khi đã xuất từ miệng Ta, sẽ không về lại với Ta, hư luống, nếu không thực hiện điều Ta đã muốn, nếu không đạt được sự Ta sai làm.” (Trích Sách Ysaya, chương 55, từ câu 10 đến câu 11).
Tình Yêu Kết Trái (Fruitful Love)
Chúa Giêsu Kitô chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa, Người vốn là Tình Yêu (theo Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan, chương 4 câu 8). Lời ấy sẽ không trở lại về Thiên Chúa Cha nếu như chưa hiện thực mục đích mà Ngài được gởi xuống trần gian, và mục đích đó chính là chia sẽ cho chúng ta một cuộc sống yêu thương của chính Thiên Chúa.
Tình Yêu Mang Đến Nhiều Điều Tốt Đẹp (Love Brings Good Things)
Thậm chí nếu đó chỉ là một tình yêu thuần túy của con người, thì đơn giản là tình yêu đó không chỉ chứa đựng những ngôn từ về sự cảm mến sâu sắc đến từ trái tim. Một người yêu mong muốn cho người yêu của mình được hạnh phúc hơn và hưởng thụ nhiều điều tốt đẹp hơn. Và như là lời của bài ca “Nếu Bạn Đang Yêu, Thì Hãy Cho Tôi Biết Được Tình Yêu Đó” (If You are in Love, Show Me) từ cuốn phim My Fair Lady nói rằng, người được yêu muốn thấy được sự biểu lộ của tình yêu đó.
Chúng ta hiểu được sự thật này để hiểu rõ được kết cấu của phép bí tích là nhằm kết hiệp việc Chúa Kitô chịu đóng đinh vào ngày Phục Sinh của Ngài. Trên cây thập giá, Chúa Giêsu hoàn toàn tỏ lộ cho tình yêu trọn vẹn của Ngài dành cho chúng ta. Ngài nói, ngay cả trong những lúc mập mờ, không rõ ràng, thì Ngài vẫn yêu thương chúng ta. Thế nhưng, cái chết của Ngài đã mang đến cho chúng ta những điều tốt đẹp nào? Làm sao mà chúng ta có thể tốt đẹp hơn? Làm sao mà chúng ta có thể được phong phú và dồi dào bằng chính việc phải chịu cực hình và sự chết của Người Con Một Ngài?
Thưa, chính là nhờ vào hồng ân của Chúa Thánh Thần mà chúng ta khám phá ra được trọn ý nghĩa về tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại. Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Chúa Kitô nói với chúng ta rằng Ngài yêu thương chúng ta; vào ngày Lễ Ngũ Tuần, chúng ta cảm nhận được tình yêu thương của Ngài bằng việc đón nhận Chúa Thánh Thần như là hoa trái về sự hy sinh của Chúa Kitô.
Hai sự kiện này, diễn ra cùng lúc và đồng thời với nhau, để cho thấy được nguyên nhân của việc chúng ta được sẽ chia trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao chúng ta nói rằng hai sự kiện đó chính là một “kết cấu của phép bí tích.”
Sự Ra Đi và Trở Lại
Toàn bộ nhiệm thể của Giáo Hội chính là để minh chứng cho sự cứu chuộc “liên lũy”, cho sự ra đi của Thiên Chúa và sự trở lại của Chúa Thánh Thần. Trong Lá Thư Hiến Chế về Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị viết:
“Một mặt là sứ vụ cứu chuộc liên lũy của Người Con Một, Người đã xuống trần gian, được sinh hạ bởi Đức Nữ Đồng Trinh do chính quyền năng của Chúa Thánh Thần; và mặt kia, cũng chính là sứ vụ liên lũy, nhịp nhàng của Chúa Thánh Thần, như đã được Chúa Kitô tỏ bày. Qua sự ra đi của Chúa Con, Chúa Thánh Thần lại đến và Ngài cứ tiếp tục đến như là Người Bào Chữa và như là Thần Khí của sự thật.” (Trích Dominum et Vivificantem 63).
Sự Làm Chứng Khéo Léo (Artistic Witness)
Sự kết liên huyền nhiệm giữa việc Chúa Kitô hy tế và sự trở lại của Chúa Thánh Thần vẫn thường được diễn tả một cách khéo léo, mỹ thuật tại các ngôi thánh đường khi hình một con chim bồ câu được mô tả bên trên cung thánh, bên trên bàn thờ là nơi diễn ra sự hy tế của Chúa Kitô. Biểu trưng này cho thấy rằng cứ mỗi lần Phép Thánh Thể được cử hành để tái diễn lại sự hy tế của Chúa Kitô thì đó lại chính là một mùa Phục Sinh mới cho Giáo Hội, qua đó, không những chúng ta cảm nghiệm được sự ra đi và đến của Ngôi Lời Thiên Chúa, mà kết quả của việc ra đi ấy lại chính là sự trở lại của Chúa Thánh Thần.
Bà Maria Madalêna (Mary Magdalene)
Cảm nghiệm của bà Maria Madalêna vào buổi sáng Chủ Nhật Phục Sinh cho thấy được một điều gì đó quan trọng về cảm nghiệm của chúng ta nơi Phép Thánh Thể.
Sau khi Thiên Chúa bị đóng đinh, bà Maria Madalêna đến để xức dầu cho thi hài của Thiên Chúa, và khi bà đến bà khám phá ngôi mồ đã trống vắng. Rồi thì bà thấy được Chúa Giêsu, nhưng bà lại nghĩ Ngài chỉ là một ông thợ làm vườn tầm thường nào đó, và bà đã hỏi Ngài chỉ cho bà biết về nơi cất dấu thi hài của Chúa Kitô. Khi Chúa Giêsu gọi tên bà, bà mới nhận ra người làm vườn ấy chính là Ngài, và bằng cử chỉ yêu thương, và lòng kính trọng, bà đã quàng tay bà ôm lấy chân của Chúa Giêsu, cho đến khi nào bà nghe Ngài nói: “Đừng cầm Ta lại! vì Ta chưa lên cùng Cha Ta, nhưng hãy đi gặp anh em Ta và nói với họ: Ta lên cùng Cha Ta, và cũng là Cha các ngươi; Thiên Chúa của Ta và cũng là Thiên Chúa của các ngươi.” (Trích Sách Gioan, chương 20, câu 17).
Bà Maria Madalêna đã cảm nghiệm được về sự mất mát khi bị mất Chúa Kitô; bà sung sướng, hồi hộp vì sự xuất hiện của Ngài; và đã để cho Ngài ra đi, và rồi sở hữu được lấy Ngài qua sự trở lại của Chúa Thánh Thần vào ngày Lễ Ngũ Tuần.
Mẹ Maria, Đức Nữ Đồng Trinh (Mary, The Virgin Mother)
Mẹ Maria, Đức Nữ Đồng Trinh cũng có cảm nghiệm tương tự. Cảm nghiệm đầu tiên của Mẹ về việc mất Chúa Kitô khi một cậu bé trai Giêsu ở lại bên thành Giêrusalem thay vì phải trở về nhà cùng với Cha Mẹ Ngài. Mẹ Maria và Thánh Giuse đi tìm Ngài trong vòng 3 ngày liền trước khi cả hai tìm thấy Ngài đang giảng cho các vị bô lão trong đền thờ (theo như Sách Luca, chương 2, từ câu 41 đến 52).
Qua rất nhiều cách, người con của Mẹ Maria vẫn luôn là một sự bí hiểm đối với Mẹ; Mẹ cũng đã có không ít khó khăn khi nhận biết được Ngài chính là ai. Thế rồi, lại qua những phép lạ mà Ngài đã thực hiện, và thông qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, Mẹ Maria, cũng vậy, khi đó Mẹ biết được Chúa Kitô chính là ai.
Và Mẹ cũng thế, Mẹ cũng đã cảm nghiệm được sự trở lại của Chúa Thánh Thần cùng với các môn đệ vào ngày Lễ Ngũ Tuần.
Cảm Nghiệm Song Song của Chúng Ta (Our Parallel Experience)
Nơi Thánh Lễ, chúng ta cũng có được một sự cảm nghiệm tương tự như của bà Maria Madalêna và của Đức Trinh Nữ Maria.
Trước khi lời thánh hóa chưa được đọc ra từ miệng của vị chủ tế, Chúa Giêsu không có hiện diện nơi đó; nhưng bằng quyền năng của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu lại đến y như thể là Ngài đến với bà Maria Madalêna vậy, bằng chính Mình và Máu thật của Ngài. Tuy nhiên, Ngài không thể ở lại cùng với chúng ta. Vì như Giáo Hội đã dạy chúng ta, sự hiện diện của Ngài nơi Phép Thánh Thể chỉ được kéo dài khi bánh và rượu được thánh hóa.
Trong việc Rước Lễ (Holy Communion), chúng ta đón nhận Ngài vào bên trong con người của chúng ta cùng với tất cả sự thương yêu và kính trọng giống như bà Maria Madalêna vậy, vì chúng ta biết rất rõ rằng chúng ta không thể nào cầm giữ Ngài lâu cho được, vì sự hiện diện của Ngài nơi Phép Thánh Thể sẽ tan biến đi.
Giống như cả bà Maria Madalêna và Mẹ Maria, Đức Nữ Đồng Trinh, chúng ta phải “để cho Ngài ra đi” để Ngài về trời với Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, chúng ta cũng còn biết được rằng Ngài không rời bỏ để chúng ta lại như những đứa trẻ mồ côi, vì Ngài ra đi, là để ban xuống cho chúng ta Chúa Thánh Thần.
Thì tới điểm này, chúng ta cần phải kết thúc việc thảo luận của chúng ta về việc cử hành Phép Thánh Thể như là một Mùa Phục Sinh mới, để đón nhận những hoa trái từ đó. Chúng ta có thể làm được điều này bằng cách nhìn vào những gì mà Chúa Thánh Thần đã tác động trong cuộc sống của chúng ta.
Ba Nhiệm Vụ của Chúa Thánh Thần (Three Roles of the Holy Spirit)
Chúa Thánh Thần đóng rất nhiều vai trò trong việc an ủi chúng ta về sự mất mát của việc Chúa Kitô về trời với Thiên Chúa Cha.
Chúa Thánh Thần chính là di sản kế thừa của chúng ta, nghĩa là, Ngài xác tín và bảo chứng cho chúng ta về những lời hứa của Chúa Kitô, vốn sẽ thành sự thật.
Chúa Thánh Thần chính là Nền Tảng về sự hy vọng của chúng ta, rằng chúng ta sẽ nhận được ơn chúc phúc cho một cuộc sống đời sau.
Và cuối cùng, Chúa Thánh Thần chính là người Bênh Vực, Bào Chữa (Paraclete), hay là Người Ủi An (Comforter); Ngài an ủi chúng ta trước những đau khổ, cùng cực mà chúng ta phải gánh chịu để chúng ta được vui mừng, hoan hỉ đón chờ phúc lành cho cuộc sống bất diệt đời sau.
Chúng ta sẽ chú tâm vào vai trò thứ ba này của Chúa Thánh Thần, vì lẽ, cảm nghiệm về tội lỗi, ma quỷ và sự đau khổ chính là một đe dọa nghiêm trọng và rất phổ quát đối với đức tin của chúng ta.
(Còn tiếp. ....)