Bông Hồng 31- Sống Thánh Lễ Với Đức Maria.
Trong quyển sách “Hymn of The Universe” -“Hoàn Vũ Ca,” Cha Teilhard de Chardin đã viết bài “The Mass on The World”-“ Thánh Lễ Trên Địa Cầu” nhân dịp tham dự cuộc thám hiểm khoa học ở sa mạc Gobi bên Trung Hoa lục địa. Đó là ngày Lễ Chúa Biến Hình năm 1923, ngài ao ước được dâng lễ nhưng không có bánh, không có rượu. Trong lúc khắc khoải được dâng Thánh Lễ, ngài đã dùng chính bản thân và cuộc đời mình, cùng với lao công và khổ đau của cả nhân loại kết hợp lại làm thành chiếc bánh của lễ tiến dâng trên bàn thờ là quả địa cầu:
“Ôi, lạy Chúa, lại một lần nữa - mặc dù lần này không phải là ở trong những khu rừng trên bờ sông Aisne, nhưng là trong những nơi hoang vu của Á Châu - con không có bánh, không rượu, cũng chẳng có bàn thờ để dâng lễ. Vượt qua những biểu tượng này, con sẽ dâng chính bản thân con lên cõi uy nghiêm của vũ trụ hiện thực đây. Con, linh mục của Chúa, sẽ lấy toàn thể địa cầu làm bàn thờ, và trên đó con sẽ dâng Chúa tất cả vất vả nhọc nhằn và đau khổ của trần gian.” (trang 19).
Trong cuốn “The Priest”, được viết vào năm 1917, ngài cũng đã suy niệm rằng: Qua tiến trình nhập thể, Đức Kitô biến tấm bánh thành thân thể Ngài, hành động của Ngài không bị giới hạn trong tấm bánh mà vượt qua đó bao trọn cả vũ trụ. Qua một nguyên tố của vũ trụ là tấm bánh, Ngài lôi kéo toàn thể vũ trụ và con người vào Ngài.
Từ cơ bản, Giáo Hội luôn coi cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một hy tế. Dĩ nhiên“Thánh Lễ Trên Địa Cầu” của cha Teilhard de Chardin và tất cả mọi Thánh Lễ đều liên hệ với hy tế của Chúa Giêsu Kitô dâng hiến trên đồi Calvê qua cái chết của Người, với sự hiện diện của Đức Maria dưới chân cây thập giá như Thánh Gioan diễn tả (Ga 19: 25-30).
Thế nhưng, theo Thánh Luca, hy tế đó không chỉ bắt đầu bằng cái chết của Đức Giêu trên đồi Calvê nhưng đã khởi đi từ Mầu Nhiệm Nhập Thể, qua việc sinh ra làm thân phận con người nghèo khổ (Lc 1:31). Và cả cuộc đời của Đức Giêsu là hy tế dâng lên Thiên Chúa Cha. Theo cha Eugene Laverdière, trong cuốn Dining in the Kingdom of God, trang 10, Đức Maria đặt Đức Giêsu nằm trong máng của gia súc ăn (Lc 2:7), mang tính cách biểu tượng. Đức Maria đã dâng hiến Con mình với cả cuộc đời thấp hèn và nghèo khổ như một hy tế.
Quả thế, trong Thông Điệp “Ecclesia de Eucharistia,” ĐGH Gioan Phaolô II đã gọi Bí Thích Thánh Thể là một “hy tế theo nghĩa đen”. Nhưng trước hết, đó là “sự dâng hiến trong tình yêu và vâng phục cho đến nỗi hy sinh cả mạng sống (Ga 10:17-18) tiên vàn là sự dâng hiến cho Chúa Cha.” (số 13).
Thái độ của Đức Maria và dấu chỉ Hài Nhi nằm trong máng ăn của chiên bò lừa mạc khải cho các mục đồng biết rằng Người là Đấng Cứu Thế và là Thiên Chúa (Lc 2:11-12), mang những ám chỉ ngụ ý sâu xa về những bữa tiệc sẽ được Chúa Giêsu cử hành, nhất là Bữa Tiệc Ly và Bàn tiệc Thánh Thể. Cuộc đời dâng hiến của Chúa Giêsu đã bắt đầu ngay từ lúc sinh ra đến khi tự hiến thân mình trên đồi Calvê là một hy tế dâng lên Thiên Chúa Cha với sự hiện diện và thông hiệp của Đức Maria.
I- PHÚC ÂM LUCA VÀ BÀN TIỆC THÁNH THỂ:
Lịch sử của dân Thiên Chúa trong Cựu Ước là lịch sử của những cuộc hành trình. Bắt đầu từ việc Thiên Chúa gọi tổ phụ Áp-ra-ham (St 12:1), đến Mô-sê dẫn dân Chúa rời bỏ Ai Cập đi vào cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc tiến về miền đất hứa (Xh 13:37). Trong cuộc hành trình dài này, Thiên Chúa đã nuôi dưỡng họ bằng các bữa ăn với Man-na và chim cút (Xh 16:13-16).
Theo các học giả thánh kinh, Phúc Âm của Thánh Luca cũng là bản tường thuật về những CUỘC HÀNH TRÌNH và CÁC BỮA TIỆC. Trong cuộc hành trình ba năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã có tất cả mười bữa tiệc được kể lại. Tất cả các biến cố quan trọng đều xảy ra xung quanh mười bữa tiệc này. Mặc dù mỗi cuộc hành trình và các bữa tiệc đều có một bài học thiêng liêng riêng, nhưng tựu chung đều quy hướng về cuộc hành trình đi lên Giêrusalem để hoàn tất cuộc đời hiến dâng với Bữa Tiệc Ly và Bàn Tiệc Thánh Thể là cao điểm. Do đó, nguồn gốc của Bí Tích Thánh Thể hệ tại hằng loạt những biến cố dài và phức tạp trong suốt cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu.
Xét về Kitô học, trong cuốn Dining in the Kingdom of God, cha Eugene Laverdière đã phân chia ra ba loại bữa tiệc: những bữa tiệc với Đức Giêsu là Tiên Tri, những bữa tiệc với Đức Giêsu là Đức Kitô, và những bữa tiệc với Đức Giêsu là Thiên Chúa.
A- NHỮNG BỮA TIỆC VỚI CHÚA GIÊSU LÀ TIÊN TRI:
1- Tại nhà ông Lêvi (5:27-39): sau khi kêu gọi các môn đệ đầu tiên để thành lập Giáo Hội và làm những phép lạ chữa bệnh tật, Chúa Giêsu cử hành bữa tiệc tại nhà một người thu thuế. Bàn tiệc Thánh Thể là một biến cố truyền giáo, một lời kêu mời những người tội lỗi sám hối, trở về với Thiên Chúa.
2- Tại nhà ông Simon Pharisiêu (7:36-50): Chúa Giêsu bào chữa cho một người đàn bà tội lỗi sau này đã trở thành một môn đệ với tình yêu thật lớn lao. Bàn tiệc Thánh Thể là một biến cố hòa giải, vươn tới những người tội lỗi ăn năn sám hối để trở về với lòng quảng đại, yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa.
3- Hóa bánh ra nhiều tại Bét-xai-đa (9:10-17): mười hai môn đệ phải đối diện với nhu cầu của 5000 người. Các ông đã muốn đuổi họ ra về. Chúa Giêsu ra lệnh phải nuôi dưỡng họ bằng năm ổ bánh và hai con cá. Bàn tiệc Thánh Thể là một sứ mạng của chính Chúa Giêsu và Giáo Hội.
4- Tại nhà bà Mácta (10:38-42): trên cuộc hành trình tiến đến cuộc thương khó, Chúa Giêsu đã quan tâm đến những vấn đề mục vụ, những thái độ trong cộng đoàn của các môn đệ và đời sống của Giáo Hội. Bàn tiệc Thánh Thể có liên hệ đến các việc mục vụ xã hội, đời sống nội tâm, thái độ đối với nhau, và nhất là việc lắng nghe Lời Chúa.
5- Tại nhà ông Pharisiêu (11:37-54): Chúa Giêsu đề cao sự thanh tẩy nội tâm hơn nghi thức bề ngoài. Phẩm chất để tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể chính là lòng yêu mến Thiên Chúa và thương yêu tha nhân.
6- Tại nhà ông thủ lãnh nhóm Pharisiêu (14:1-24): tại đây những người bạn bè, thân nhân, và khách giàu có được mời đến tham dự. Chúa Giêsu đã đưa ra những tiêu chuẩn mới, những người khách được mời phải tìm nơi thấp nhất, những người chủ phải mời những người nghèo và bị bỏ rơi. Bàn tiệc Thánh Thể không loại trừ một ai.
7- Tại nhà ông Gia-kêu (19:1-10): Gia-kêu là một người thu thuế giàu có mời Chúa Giêsu vào nhà dùng bữa với quyết định sẽ thi hành sự công bình và rộng lượng đối với người nghèo. Bàn tiệc Thánh Thể là một biến cố cứu độ. Đón tiếp Chúa Giêsu vào đòi hỏi phải sống công bằng, đền bù bất công, và làm phúc bố thí.
B- NHỮNG BỮA TIỆC VỚI CHÚA GIÊSU LÀ ĐỨC KITÔ:
Những bữa tiệc với Chúa Giêsu là tiên tri đã dẫn đến những bữa tiệc với Chúa Giêsu là Đức Kitô: BỮA TIỆC LY (22:14-18) và BÀN TIỆC THÁNH THỂ (22: 19-20). Chúa Giêsu tự hiến thân mình làm hy tế theo ý Thiên Chúa Cha (22:42). Cuộc đời và chính con người của Chúa Giêsu là một tấm bánh hy sinh cho nhân loại: “Rồi Người CẦM LẤY bánh, dâng lời CHÚC TỤNG, BẺ RA, TRAO BAN cho các ông và nói: Đây là mình Thầy, hy sinh vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.” (22:19).
Bàn tiệc Thánh Thể là bữa tiệc hiệp thông. Tấm bánh được bẻ ra, chia sẻ sự sống, hạnh phúc, niềm vui, sức mạnh và tình yêu của Thiên Chúa cho con người, để con người kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và với nhau qua Mình và Máu Đức Kitô.
Sách Giáo Lý Công Giáo, số 1329 viết: “Bẻ bánh là nghi thức riêng của bữa ăn Do Thái, được Chúa Giêsu dùng khi Ngài làm phép và phân phối bánh với tư cách là người chủ tọa bàn ăn, nhất là tại Bữa Tiệc Ly. Đó là cử chỉ làm cho các môn đệ nhận ra Ngài sau khi Ngài sống lại, và các Kitô hữu đầu tiên đã dùng từ này để chỉ các cuộc hội họp Thánh Lễ của mình. Họ muốn nói lên rằng tất cả những anh em ăn cùng một tấm bánh bẻ ra, là Chúa Kitô, đều hiệp thông với Ngài và làm thành một thân thể duy nhất với Ngài.” (1 Cr 10:16-17).
Bàn tiệc Thánh Thể diễn tả tuyệt đỉnh tình yêu cao vời của Thiên Chúa dành cho con người. Chúa Giêsu là Thiên Chúa đã trao ban tất cả những gì Người có cho chúng ta mà không giữ lại điều gì riêng cho Người. Người trao ban hoàn toàn như thánh Phaolô đã diễn tả: “Chúa Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2: 6-8).
Nơi Chúa Giêsu mọi sự đều là của lễ, từ lúc sinh ra nhập thể nằm trong máng ăn của chiên bò lừa, đến các lời giảng dạy, các phép lạ, từ các hành vi cử chỉ đến chính mạng sống của Người hy sinh trên thập giá. Bàn tiệc Thánh Thể là hy tế tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu Kitô (Dt 9:12-14).
C- NHỮNG BỮA TIỆC VỚI CHÚA GIÊSU LÀ THIÊN CHÚA:
Những bữa tiệc với Chúa Giêsu là tiên tri, là Đức Kitô đã dẫn đến những bữa tiệc với Chúa Giêsu là Thiên Chúa qua câu chuyện của hai môn đệ trên đường Emmau (24:13-35). Câu chuyện này đã tổng hợp tất cả các yếu tố như đã trình bày ở trên. Với tư cách là tiên tri, Chúa Giêsu đã dùng Thánh Kinh để cắt nghĩa cho họ, đã bẻ bánh như Người đã làm nơi Bàn Tiệc Ly và Lập Phép Thánh Thể. Tâm hồn họ đã bừng cháy lên, mắt họ đã mở ra và nhận ra Người là Thiên Chúa.
Bàn tiệc sau cùng là Người đã hiện ra với cộng đoàn các Tông Đồ ở Giêrusalem để củng cố đức tin và giúp họ nhận ra rằng chính Thiên Chúa sống lại cũng đã phải trải qua cuộc thương khó và sự chết (24:36-53).
II- ĐỨC MARIA THEO KHUÔN MẪU CỦA ĐỨC KITÔ
Đức Maria đã tham dự các bữa tiệc nào với Chúa Giêsu? Đối với Thánh Gioan Đức Maria đã đóng một vai trò rất
tích cực và chủ yếu trong Tiệc Cưới Cana: “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: Họ hết rượu rồi…” (Ga2:3). Tiệc cưới Cana biểu tỏ vinh quang của Chúa Giêsu cho các môn đệ tin theo qua sự thỉnh cầu của Đức Maria. Đây là bàn tiệc của thời đại cứu độ, nhưng cũng là dấu chỉ của BÀN TIỆC THIÊN QUỐC. Cùng với Chúa Giêsu, Đức Maria đã mang lại ơn cứu rỗi cho nhân loại (Lumen Gentium, đoạn 58). Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế “đem sự sống đến cho thế gian” (Lumen Gentium, đoạn 53). Mẹ là “Người Phụ Nữ, bà Evà mới, Mẹ của các sinh linh, Mẹ của Chúa Kitô toàn diện” (GLCG #726).
Đối với Thánh Luca, tuy không nói rõ ràng, nhưng đã diễn tả bản thân và cuộc đời của Đức Maria là một hy tế. Sau lời truyền tin của Thiên Thần, Đức Maria đã chấp nhận dâng hiến cả con người và cuộc đời cho chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa: “Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (1: 38). Trong Thông Điệp “Giáo Hội của Bí Tích Thánh Thể,” chương 6, ĐGH Gioan Phaolô II đã gọi Đức Maria là “Người Phụ Nữ của Thánh Thể”. Không chỉ nguyên ở đồi Calvê, mà suốt cuộc đời sống bên cạnh Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đã mang lấy “chiều kích hy tế của Thánh Thể” (đoạn 56). Giống như Chúa Giêsu Kitô, Đức Maria đã là một tấm bánh được Thiên Chúa cầm lấy, chúc tụng, bẻ ra, và trao ban.
CẦM LẤY: Có nghĩa là được chọn lựa và yêu thương: “Hỡi Đấng đầy ân phước” (1:28) “vì Bà đẹp lòng Thiên Chúa” (1:30).
CHÚC TỤNG: Không có gì cao quý hơn điều bà Êlisabét đã ngợi khen Đức Maria: “Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy?” (1:43). Chính Đức Maria cũng đã cảm nghiệm thấy rằng: “Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (1:48). Và Chúa Giêsu đã chúc tụng Mẹ Người khi có người nói rằng: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! Nhưng Người đáp lại: Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (11:27 - 28).
BẺ RA: Truyền Thống đã gọi những đau khổ của Đức Maria là “Bẩy Sự Thương Khó”. Bắt đầu từ lời tiên tri của ông Simêon: “Còn chính Bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà” (2:35). Tiếp đến là những biến cố chạy trốn sang Ai Cập (Mt 2: 13-14), thất lạc Chúa Giêsu trong đền thờ (2: 43-45), và cả cuộc đời của người mẹ đã hiệp thông chặt chẽ với những đau khổ của con.
TRAO BAN: Đức Maria đã trao ban cung lòng mình làm đền thờ cho Đấng Cứu Thế ngự trị: “Và này đây Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai..” (1:31). Và khi đứng dưới chân thập giá Đức Maria lại trao ban Chúa Giêsu cho Thiên Chúa Cha để ôm lấy nhân loại vào lòng mình: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người… Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: Thưa Bà, đây là con của Bà. Rồi Người nói với môn đệ: Đây là mẹ của anh.” (Ga 19:25 - 27).
III- DÂNG THÁNH LỄ VỚI MẸ MARIA:
Sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, tầng trời mở ra và có tiếng phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Mt 4:17; Mc 1:11). Khi nhận phép rửa tội chúng ta cũng trở thành “một tạo vật mới” (2 Cr 5:7), con cái Thiên Chúa (Gl 4:5-7), một chi thể của Chúa Kitô và cùng thừa hưởng gia tài với Ngài (Rm 8:17) (GLCG # 1265). Vì thế, thánh Phaolô đã gọi các tín hữu là thánh: “Kính gửi tất cả anh em ở Roma, những người được Thiên Chúa yêu thương, được gọi là thánh” (Rm 1:7; 1 Cr 1:2).
Theo cha Henry Nouwen trong cuốn “Life of the Beloved,” cũng đã cho rằng mỗi người chúng ta, qua phép rửa tội, chúng ta chia sẻ vào chiếc bánh được Thiên Chúa CẦM LẤY, CHÚC TỤNG, BẺ RA, và TRAO BAN (1Cr 10:16-17).
Cuộc sống xã hội với những cạnh tranh, va chạm và đè bẹp lẫn nhau dễ làm cho con người mất đi ý nghĩa cao quý của hình ảnh này, và mang lấy những ý nghĩ tiêu cực về chính mình như một con người không mấy tốt đẹp. Người ta thường than thân trách phận mình là vô phước, xấu xí, vô danh tiểu tốt, bất tài, vô dụng, vô giá trị, đáng khinh tởm, số mạt rệp… Từ đó họ dễ trở nên mất tự trọng, thiếu tự tin nơi chính phẩm giá và nhân cách của mình, để rồi phải vay mượn giá trị nơi bên ngoài mình như tiền bạc, của cải vật chất, sự thành công nơi nghề nghiệp, danh vọng và quyền hành.
Khi con người bị vong thân, họ có thể bị biến thành các tội phạm, và là nạn nhân của xã hội duy vật. Tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể, cùng với Đức Maria, chúng ta được kêu gọi ý thức về phẩm giá của mình với một niềm vui, ca ngợi và tạ ơn của những người đã được Thiên Chúa CẦM LẤY, tức là được tuyển chọn và yêu thương.
“Ta đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta! (Is 43:1) Từ đời đời, trước khi tạo thành vũ trụ, Ta đã chọn ngươi (Ep 1:4). Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng thương xót (Gr 31:3). Ta đã nâng các ngươi từ trong lòng mẹ, đã hứng các người từ lúc chưa chào đời (Is 46:3). Ta đã ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta (Is 49:16). Vì trước mắt Ta, ngươi thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và thương mến (Is 43:4). Bất cứ ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi (2 Sm 7:9). Ta đã đếm từng sợi tóc trên đầu ngươi (Lc 12:7). Đức Chúa sẽ không ngừng dẫn dắt ngươi, giữa đồng khô cỏ cháy, Người sẽ cho ngươi được no lòng; xương cốt ngươi, Người sẽ cho cứng cáp. Ngươi sẽ như thửa vườn được tưới đẫm, như mạch suối không cạn nước bao giờ” (Is 59:11).
Ý thức mình là con cái Thiên Chúa mới chỉ là bước khởi điểm. Cuộc hành trình tinh thần phải là hành động để trở nên con cái Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã diễn tả con đường trở nên hoàn thiện này như sau: “Ôi lạy Chúa, linh hồn con không yên nghỉ cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.” Đó là sự thể hiện liên tục ơn gọi làm con cái Thiên Chúa trong ý nghĩ, lời nói và hành động suốt cuộc đời. Thế nhưng đời sống con người lại có những giây phút đầy khó khăn, những giây phút cảm thấy bất hạnh hơn là PHÚC LÀNH. Ngay chính những giây phút bề ngoài xem ra bất hạnh này, ta phải sống với phúc lành của Thiên Chúa.
Cộng đoàn của Luca đến tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể gồm những người nghèo khổ, thấp kém, bị bách hại, khinh miệt và đủ mọi sự bất hạnh. Nhưng họ đã trở nên con cái Thiên Chúa bằng đời sống đức tin can đảm. Vì thế Chúa Giêsu đã chúc lành cho họ: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Trời là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:20 - 23).
Tấm bánh là Chúa Kitô đã bị BẺ GÃY RA: chịu đau khổ và trở nên hy tế. Thánh Phaolô đã nhắc nhở điều này với tín hữu ở Corintô rằng: “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?” (1 Cr 10:16). Tất cả những người con cái Thiên Chúa được mời gọi đến tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể cũng được mời gọi dâng hiến những đau khổ làm hy tế cho Thiên Chúa.
Đau khổ gắn liền với đời sống tinh thần, tình cảm và thể xác của con người. Để sống trọn vẹn là con người, chúng ta phải biết chấp nhận đau khổ, vì nó là một thực tại sâu xa và độc đáo nhất của mỗi cá thể. Nó ẩn sâu trong cõi tâm linh, nên không ai tâm sự đau khổ với người không quen biết. Nó độc đáo bởi mỗi cá nhân phải chịu đau khổ một cách khác nhau. Chính Đức Kitô đã nhắc cho hai môn đệ trên đường Emmau rằng: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24:26).
Khi đặt đau khổ và đổ vỡ dưới sự chúc lành của Thiên Chúa, chúng ta sẽ có thái độ thành thật, và thẳng thắn để dễ dàng tiến đến sự phục hồi, và chữa lành. Chúng ta sẽ nhìn đau khổ một cách thân thiện hơn, vì đó là phương tiện phát sinh ơn cứu rỗi. Giống như Đức Maria đứng dưới chân thập giá đã hiệp thông với đau khổ của Chúa Giêsu để trở thành “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc”. Qua đau khổ, chúng ta sẽ được thanh luyện và thánh hóa để tiến bước sâu xa hơn vào ơn cứu rỗi và phúc lành của Thiên Chúa. Do đó, ơn gọi của con cái Thiên Chúa là phải lôi kéo đau khổ ra khỏi sự bất hạnh và nguyền rủa để đưa nó vào ánh sáng của phúc lành và ơn sủng.
Bàn Tiệc Thánh Thể là hy tế tình yêu tự hiến, là cuộc vượt qua đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu cùng với Đức Maria, cũng đã trở nên của Giáo Hội và của tất cả các tín hữu đến tham dự Thánh Lễ.
Như tấm bánh, chúng ta được CẦM LẤY, CHÚC LÀNH, và BẺ RA là để TRAO BAN. Đời sống làm con cái Thiên Chúa là cho đi vì ích lợi của tha nhân. Con người đạt được hạnh phúc thực sự khi biết cho đi dù chỉ là một nụ cười, một cái bắt tay, một nụ hôn, một lời nói yêu thương, một món quà, một phần của cuộc sống, hay tất cả cuộc đời. Cuộc đời của người con cái Thiên Chúa là cuộc đời hiến dâng để phục vụ tha nhân, gia đình, quốc gia, Giáo Hội và Thiên Chúa.
Đức Maria đặt Chúa Giêsu nằm trong máng của gia súc ăn (Lc 2:7) là một biểu tượng của sự trao ban và cho đi. Người đã trở nên của ăn không những cho con người và cho muôn loài sinh vật trên vũ trụ.
Nói đến cho đi người ta thường nghĩ về vật chất, những cái mình có. Nhưng cái quý giá nhất là sự hiện diện và chính con người của mình. Điều này gồm cả những khả năng của mình nữa. Nhiều khi lại là những đau khổ được chia sẻ để làm gia tăng sức mạnh và hy vọng cho tha nhân.
Người Việt Nam vẫn duy trì một giá trị truyền thống gia đình rất cao quý. Đó là sự hy sinh, trao ban và cho đi một cách vô điều kiện của các cha mẹ đối với con cái. Để bảo vệ sự sống và hạnh phúc của gia đình, tất cả mọi thành phần trong gia đình cũng phải biết cho đi vì ích lợi chung. Biểu tượng của sự cho đi và chia sẻ này được thể hiện qua các bữa ăn gia đình.
Theo phong tục Việt Nam, bữa ăn gia đình rất quan trọng. Người ta thường nói:“Trời đánh tránh bữa ăn.” Bữa ăn gia đình biểu tượng cho sự sống và tinh thần đoàn kết của gia đình. Ngoài những thành phần của gia đình, khách quý mới được mời tham dự bàn ăn. Do đó, bữa ăn còn biểu tỏ sự hiếu khách đối với người khách được mời (Lc 24:29). Tất cả mọi người quy tụ xung quanh bàn ăn, chia sẻ cùng một thức ăn. Thức ăn ngon miệng và no đủ thì cùng nhau hưởng, nếu nhạt nhẽo và thiếu thốn thì cùng nhau chịu. Giống như một tấm bánh được bẻ ra và chia sẻ cho mọi người.
Ngồi vào bàn ăn là lúc người ta biểu tỏ sự thân tình, cởi mở nhất. Đó là cửa ngỏ để bước vào cõi lòng, để bàn bạc và thông cảm với nhau, tạo nên sự đoàn kết, liên đới, niềm vui và bình an. Bởi thế, theo Phúc âm diễn tả, khi đã trở nên thân tình, hai môn đệ trên đường Emmau đã mời Đức Giêsu dùng bữa với họ, và trong bữa ăn họ đã nhận ra Người là Thiên Chúa khi Người ngồi vào bàn ăn, cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, và trao cho họ. (Lc 24: 30-31).
Những kinh nghiệm chúng ta đang sống qua bữa ăn gia đình, cũng là những ý nghĩa được rút ra từ các cộng đoàn của Luca qua những tường thuật về các bữa tiệc được diễn tả trong Phúc âm Thánh Luca. Độc giả của Phúc âm Luca là những người dân ngoại trở lại Kitô giáo. Họ là những người nghèo đói, đau khổ, thấp hèn, bị xã hội khinh miệt, bắt bớ và chèn ép. Họ đã quy tụ lại với nhau để cử hành Bàn Tiệc Thánh Thể trong niềm tin yêu. Họ đã sống đáp ứng lại những đòi hỏi của bàn tiệc trong lời nói và việc làm. Sống Thánh Thể là sống đời sống Kitô hữu. Bàn Tiệc Thánh Thể chính là biến cố của Phúc âm. Vì là biến cố của Phúc âm, nên nguồn gốc của nó trải rộng ra khắp nơi trong toàn bộ Phúc âm. Và cũng như Phúc âm, ý nghĩa của Bàn Tiệc Thánh Thể được nhìn dưới nhiều khía cạnh.
Theo Thánh Luca, cuộc đời và bản thân của Chúa Giêsu là một người nghèo khổ đã cùng sống và đồng hành với cộng đoàn của Luca. Người đã dùng những kinh nghiệm của họ qua các bữa tiệc để sáng lập nên BÀN TIỆC THÁNH THỂ và dẫn đưa con người bước vào BÀN TIỆC THIÊN QUỐC (Lc 22:30).
Cùng chia sẻ sứ mạng này với Chúa Giêsu, Đức Maria cũng đã trở nên tấm bánh hy tế dâng lên Thiên Chúa Cha trong Bàn Tiệc Thánh Thể. Máu Thịt của Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể cũng chính là Máu Thịt của Đức Maria được chia sẻ và thông phần qua Mầu Nhiệm Nhập Thể khi Thiên Thần truyền tin: “Và này đây Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1:31). “Ngôi Lời mặc lấy xác phàm” (Ga 1:14), và chính Con Người Nhập Thể này đã trao ban sự sống cho trần thế (Ga 6:51).
Thánh Augutinô, khi chú giải Thánh Vịnh 98, câu 9 đã nói: “Từ xác thân của Maria, Chúa đã mặc lấy xác phàm, trong xác phàm ấy Chúa đi giảng dậy và Ngài trao ban cũng chính xác thân ấy cho chúng ta làm của ăn để ta được cứu chuộc; không ai lãnh nhận Mình Thánh đó mà không tôn thờ Chúa trước…”
Trong tuyển tập Thần Học, Thánh Tôma Aquinas đã so sánh cuộc cưu mang Thánh Tử Giêsu trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria là một mầu nhiệm giống như sự biến đổi của bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể.
Thần học gia Peter Chrysologus cũng diễn tả như sau: “Chúa Kitô là bánh được gieo vào cung lòng Trinh Nữ Maria, được dậy men trong xác thân của Mẹ Maria, được nhào luyện trong sự thương khó, được nung nấu trong lò là huyệt mộ, được lưu trữ trong Giáo Hội, được phơi bày trên bàn thờ để thành bánh trời cho mọi người hàng ngày” (Thánh Thể và Mẹ Maria Theo Truyền Thống Kitô Giáo, Lm Anthony Nguyễn Hữu Quảng, SDB, VietCatholic CD 2003)
Trong Thông Điệp “Giáo Hội Của Bí Tích Thánh Thể,” “Ecclesia de Eucharista,” ĐGH Gioan Phaolô II đã dành nguyên chương sáu để nói lên vai trò đặc biệt của Đức Maria trong Bàn Tiệc Thánh Thể: “Đức Maria có thể dẫn chúng ta hướng về Bí Tích rất thánh này bởi vì chính ngài có một liên hệ sâu xa với Bí Tích này” (đoạn 53).
Sự liên hệ đó bắt đầu qua mầu nhiệm Nhập Thể: “Đức Maria đã dâng hiến cung lòng trinh bạch để Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể” (đoạn 55). Tiếng “Xin Vâng” của Đức Maria cũng là tiếng thưa “Amen” của chúng ta khi rước lấy Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu. Đức Maria chính là “nhà tạm” thứ nhất trong lịch sử khi mang Ngôi Lời trong cung lòng vào dịp thăm viếng bà chị họ Êlisabéth (đoạn 55).
Khi thành lập Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các Tông Đồ: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22: 19). “Hãy làm việc này” không phải chỉ là việc cử hành nghi thức mà thôi, nhưng còn là một bổn phận phải trở nên một tấm bánh được cầm lấy, chúc tụng, bẻ ra và trao ban như Chúa Giêsu, Đức Maria, các Tông Đồ và tất cả các Kitô hữu tiên khởi đã làm.
Bởi thế, trong Tông Huấn “Marialis Cultus” (Việc Tôn Sùng Mẹ Maria), ĐGH Gioan Phaolô II đã khích lệ các Kitô hữu theo gương mẫu của Đức Maria sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu: “Hãy sống Bí Tích Thánh Thể bằng chính niềm tin và tình yêu của Mẹ Maria, một trinh nữ lắng nghe, một trinh nữ nguyện cầu, một trinh nữ hiến dâng, một hiền mẫu trinh nguyên, một trinh nữ gương mẫu và cũng là bà thầy của lòng tôn thờ thiêng liêng trong cuộc sống thường ngày, đã biến đổi chính Mẹ thành của lễ hiến dâng đẹp lòng Thiên Chúa.”
Cùng là hy tế trên BÀN TIỆC THÁNH THỂ với Chúa Giêsu, Đức Maria, Giáo Hội và các Kitô hữu tham dự Thánh Lễ cũng sẽ được mời tham dự vào BÀN TIỆC THIÊN QUỐC. Nơi Bàn Tiệc Thiên Quốc này, chúng ta sẽ nghe Đức Maria và Giáo Hội hát vang lên lời “Ngợi Khen”, “Magnificat”: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu Tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới... Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của ăn đầy dư…” (Lc 1: 46- 53).
Trong quyển sách “Hymn of The Universe” -“Hoàn Vũ Ca,” Cha Teilhard de Chardin đã viết bài “The Mass on The World”-“ Thánh Lễ Trên Địa Cầu” nhân dịp tham dự cuộc thám hiểm khoa học ở sa mạc Gobi bên Trung Hoa lục địa. Đó là ngày Lễ Chúa Biến Hình năm 1923, ngài ao ước được dâng lễ nhưng không có bánh, không có rượu. Trong lúc khắc khoải được dâng Thánh Lễ, ngài đã dùng chính bản thân và cuộc đời mình, cùng với lao công và khổ đau của cả nhân loại kết hợp lại làm thành chiếc bánh của lễ tiến dâng trên bàn thờ là quả địa cầu:
“Ôi, lạy Chúa, lại một lần nữa - mặc dù lần này không phải là ở trong những khu rừng trên bờ sông Aisne, nhưng là trong những nơi hoang vu của Á Châu - con không có bánh, không rượu, cũng chẳng có bàn thờ để dâng lễ. Vượt qua những biểu tượng này, con sẽ dâng chính bản thân con lên cõi uy nghiêm của vũ trụ hiện thực đây. Con, linh mục của Chúa, sẽ lấy toàn thể địa cầu làm bàn thờ, và trên đó con sẽ dâng Chúa tất cả vất vả nhọc nhằn và đau khổ của trần gian.” (trang 19).
Trong cuốn “The Priest”, được viết vào năm 1917, ngài cũng đã suy niệm rằng: Qua tiến trình nhập thể, Đức Kitô biến tấm bánh thành thân thể Ngài, hành động của Ngài không bị giới hạn trong tấm bánh mà vượt qua đó bao trọn cả vũ trụ. Qua một nguyên tố của vũ trụ là tấm bánh, Ngài lôi kéo toàn thể vũ trụ và con người vào Ngài.
Từ cơ bản, Giáo Hội luôn coi cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một hy tế. Dĩ nhiên“Thánh Lễ Trên Địa Cầu” của cha Teilhard de Chardin và tất cả mọi Thánh Lễ đều liên hệ với hy tế của Chúa Giêsu Kitô dâng hiến trên đồi Calvê qua cái chết của Người, với sự hiện diện của Đức Maria dưới chân cây thập giá như Thánh Gioan diễn tả (Ga 19: 25-30).
Thế nhưng, theo Thánh Luca, hy tế đó không chỉ bắt đầu bằng cái chết của Đức Giêu trên đồi Calvê nhưng đã khởi đi từ Mầu Nhiệm Nhập Thể, qua việc sinh ra làm thân phận con người nghèo khổ (Lc 1:31). Và cả cuộc đời của Đức Giêsu là hy tế dâng lên Thiên Chúa Cha. Theo cha Eugene Laverdière, trong cuốn Dining in the Kingdom of God, trang 10, Đức Maria đặt Đức Giêsu nằm trong máng của gia súc ăn (Lc 2:7), mang tính cách biểu tượng. Đức Maria đã dâng hiến Con mình với cả cuộc đời thấp hèn và nghèo khổ như một hy tế.
Quả thế, trong Thông Điệp “Ecclesia de Eucharistia,” ĐGH Gioan Phaolô II đã gọi Bí Thích Thánh Thể là một “hy tế theo nghĩa đen”. Nhưng trước hết, đó là “sự dâng hiến trong tình yêu và vâng phục cho đến nỗi hy sinh cả mạng sống (Ga 10:17-18) tiên vàn là sự dâng hiến cho Chúa Cha.” (số 13).
Thái độ của Đức Maria và dấu chỉ Hài Nhi nằm trong máng ăn của chiên bò lừa mạc khải cho các mục đồng biết rằng Người là Đấng Cứu Thế và là Thiên Chúa (Lc 2:11-12), mang những ám chỉ ngụ ý sâu xa về những bữa tiệc sẽ được Chúa Giêsu cử hành, nhất là Bữa Tiệc Ly và Bàn tiệc Thánh Thể. Cuộc đời dâng hiến của Chúa Giêsu đã bắt đầu ngay từ lúc sinh ra đến khi tự hiến thân mình trên đồi Calvê là một hy tế dâng lên Thiên Chúa Cha với sự hiện diện và thông hiệp của Đức Maria.
I- PHÚC ÂM LUCA VÀ BÀN TIỆC THÁNH THỂ:
Lịch sử của dân Thiên Chúa trong Cựu Ước là lịch sử của những cuộc hành trình. Bắt đầu từ việc Thiên Chúa gọi tổ phụ Áp-ra-ham (St 12:1), đến Mô-sê dẫn dân Chúa rời bỏ Ai Cập đi vào cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc tiến về miền đất hứa (Xh 13:37). Trong cuộc hành trình dài này, Thiên Chúa đã nuôi dưỡng họ bằng các bữa ăn với Man-na và chim cút (Xh 16:13-16).
Theo các học giả thánh kinh, Phúc Âm của Thánh Luca cũng là bản tường thuật về những CUỘC HÀNH TRÌNH và CÁC BỮA TIỆC. Trong cuộc hành trình ba năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã có tất cả mười bữa tiệc được kể lại. Tất cả các biến cố quan trọng đều xảy ra xung quanh mười bữa tiệc này. Mặc dù mỗi cuộc hành trình và các bữa tiệc đều có một bài học thiêng liêng riêng, nhưng tựu chung đều quy hướng về cuộc hành trình đi lên Giêrusalem để hoàn tất cuộc đời hiến dâng với Bữa Tiệc Ly và Bàn Tiệc Thánh Thể là cao điểm. Do đó, nguồn gốc của Bí Tích Thánh Thể hệ tại hằng loạt những biến cố dài và phức tạp trong suốt cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu.
Xét về Kitô học, trong cuốn Dining in the Kingdom of God, cha Eugene Laverdière đã phân chia ra ba loại bữa tiệc: những bữa tiệc với Đức Giêsu là Tiên Tri, những bữa tiệc với Đức Giêsu là Đức Kitô, và những bữa tiệc với Đức Giêsu là Thiên Chúa.
A- NHỮNG BỮA TIỆC VỚI CHÚA GIÊSU LÀ TIÊN TRI:
1- Tại nhà ông Lêvi (5:27-39): sau khi kêu gọi các môn đệ đầu tiên để thành lập Giáo Hội và làm những phép lạ chữa bệnh tật, Chúa Giêsu cử hành bữa tiệc tại nhà một người thu thuế. Bàn tiệc Thánh Thể là một biến cố truyền giáo, một lời kêu mời những người tội lỗi sám hối, trở về với Thiên Chúa.
2- Tại nhà ông Simon Pharisiêu (7:36-50): Chúa Giêsu bào chữa cho một người đàn bà tội lỗi sau này đã trở thành một môn đệ với tình yêu thật lớn lao. Bàn tiệc Thánh Thể là một biến cố hòa giải, vươn tới những người tội lỗi ăn năn sám hối để trở về với lòng quảng đại, yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa.
3- Hóa bánh ra nhiều tại Bét-xai-đa (9:10-17): mười hai môn đệ phải đối diện với nhu cầu của 5000 người. Các ông đã muốn đuổi họ ra về. Chúa Giêsu ra lệnh phải nuôi dưỡng họ bằng năm ổ bánh và hai con cá. Bàn tiệc Thánh Thể là một sứ mạng của chính Chúa Giêsu và Giáo Hội.
4- Tại nhà bà Mácta (10:38-42): trên cuộc hành trình tiến đến cuộc thương khó, Chúa Giêsu đã quan tâm đến những vấn đề mục vụ, những thái độ trong cộng đoàn của các môn đệ và đời sống của Giáo Hội. Bàn tiệc Thánh Thể có liên hệ đến các việc mục vụ xã hội, đời sống nội tâm, thái độ đối với nhau, và nhất là việc lắng nghe Lời Chúa.
5- Tại nhà ông Pharisiêu (11:37-54): Chúa Giêsu đề cao sự thanh tẩy nội tâm hơn nghi thức bề ngoài. Phẩm chất để tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể chính là lòng yêu mến Thiên Chúa và thương yêu tha nhân.
6- Tại nhà ông thủ lãnh nhóm Pharisiêu (14:1-24): tại đây những người bạn bè, thân nhân, và khách giàu có được mời đến tham dự. Chúa Giêsu đã đưa ra những tiêu chuẩn mới, những người khách được mời phải tìm nơi thấp nhất, những người chủ phải mời những người nghèo và bị bỏ rơi. Bàn tiệc Thánh Thể không loại trừ một ai.
7- Tại nhà ông Gia-kêu (19:1-10): Gia-kêu là một người thu thuế giàu có mời Chúa Giêsu vào nhà dùng bữa với quyết định sẽ thi hành sự công bình và rộng lượng đối với người nghèo. Bàn tiệc Thánh Thể là một biến cố cứu độ. Đón tiếp Chúa Giêsu vào đòi hỏi phải sống công bằng, đền bù bất công, và làm phúc bố thí.
B- NHỮNG BỮA TIỆC VỚI CHÚA GIÊSU LÀ ĐỨC KITÔ:
Những bữa tiệc với Chúa Giêsu là tiên tri đã dẫn đến những bữa tiệc với Chúa Giêsu là Đức Kitô: BỮA TIỆC LY (22:14-18) và BÀN TIỆC THÁNH THỂ (22: 19-20). Chúa Giêsu tự hiến thân mình làm hy tế theo ý Thiên Chúa Cha (22:42). Cuộc đời và chính con người của Chúa Giêsu là một tấm bánh hy sinh cho nhân loại: “Rồi Người CẦM LẤY bánh, dâng lời CHÚC TỤNG, BẺ RA, TRAO BAN cho các ông và nói: Đây là mình Thầy, hy sinh vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.” (22:19).
Bàn tiệc Thánh Thể là bữa tiệc hiệp thông. Tấm bánh được bẻ ra, chia sẻ sự sống, hạnh phúc, niềm vui, sức mạnh và tình yêu của Thiên Chúa cho con người, để con người kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và với nhau qua Mình và Máu Đức Kitô.
Sách Giáo Lý Công Giáo, số 1329 viết: “Bẻ bánh là nghi thức riêng của bữa ăn Do Thái, được Chúa Giêsu dùng khi Ngài làm phép và phân phối bánh với tư cách là người chủ tọa bàn ăn, nhất là tại Bữa Tiệc Ly. Đó là cử chỉ làm cho các môn đệ nhận ra Ngài sau khi Ngài sống lại, và các Kitô hữu đầu tiên đã dùng từ này để chỉ các cuộc hội họp Thánh Lễ của mình. Họ muốn nói lên rằng tất cả những anh em ăn cùng một tấm bánh bẻ ra, là Chúa Kitô, đều hiệp thông với Ngài và làm thành một thân thể duy nhất với Ngài.” (1 Cr 10:16-17).
Bàn tiệc Thánh Thể diễn tả tuyệt đỉnh tình yêu cao vời của Thiên Chúa dành cho con người. Chúa Giêsu là Thiên Chúa đã trao ban tất cả những gì Người có cho chúng ta mà không giữ lại điều gì riêng cho Người. Người trao ban hoàn toàn như thánh Phaolô đã diễn tả: “Chúa Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2: 6-8).
Nơi Chúa Giêsu mọi sự đều là của lễ, từ lúc sinh ra nhập thể nằm trong máng ăn của chiên bò lừa, đến các lời giảng dạy, các phép lạ, từ các hành vi cử chỉ đến chính mạng sống của Người hy sinh trên thập giá. Bàn tiệc Thánh Thể là hy tế tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu Kitô (Dt 9:12-14).
C- NHỮNG BỮA TIỆC VỚI CHÚA GIÊSU LÀ THIÊN CHÚA:
Những bữa tiệc với Chúa Giêsu là tiên tri, là Đức Kitô đã dẫn đến những bữa tiệc với Chúa Giêsu là Thiên Chúa qua câu chuyện của hai môn đệ trên đường Emmau (24:13-35). Câu chuyện này đã tổng hợp tất cả các yếu tố như đã trình bày ở trên. Với tư cách là tiên tri, Chúa Giêsu đã dùng Thánh Kinh để cắt nghĩa cho họ, đã bẻ bánh như Người đã làm nơi Bàn Tiệc Ly và Lập Phép Thánh Thể. Tâm hồn họ đã bừng cháy lên, mắt họ đã mở ra và nhận ra Người là Thiên Chúa.
Bàn tiệc sau cùng là Người đã hiện ra với cộng đoàn các Tông Đồ ở Giêrusalem để củng cố đức tin và giúp họ nhận ra rằng chính Thiên Chúa sống lại cũng đã phải trải qua cuộc thương khó và sự chết (24:36-53).
II- ĐỨC MARIA THEO KHUÔN MẪU CỦA ĐỨC KITÔ
Đức Maria đã tham dự các bữa tiệc nào với Chúa Giêsu? Đối với Thánh Gioan Đức Maria đã đóng một vai trò rất
tích cực và chủ yếu trong Tiệc Cưới Cana: “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: Họ hết rượu rồi…” (Ga2:3). Tiệc cưới Cana biểu tỏ vinh quang của Chúa Giêsu cho các môn đệ tin theo qua sự thỉnh cầu của Đức Maria. Đây là bàn tiệc của thời đại cứu độ, nhưng cũng là dấu chỉ của BÀN TIỆC THIÊN QUỐC. Cùng với Chúa Giêsu, Đức Maria đã mang lại ơn cứu rỗi cho nhân loại (Lumen Gentium, đoạn 58). Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế “đem sự sống đến cho thế gian” (Lumen Gentium, đoạn 53). Mẹ là “Người Phụ Nữ, bà Evà mới, Mẹ của các sinh linh, Mẹ của Chúa Kitô toàn diện” (GLCG #726).
Đối với Thánh Luca, tuy không nói rõ ràng, nhưng đã diễn tả bản thân và cuộc đời của Đức Maria là một hy tế. Sau lời truyền tin của Thiên Thần, Đức Maria đã chấp nhận dâng hiến cả con người và cuộc đời cho chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa: “Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (1: 38). Trong Thông Điệp “Giáo Hội của Bí Tích Thánh Thể,” chương 6, ĐGH Gioan Phaolô II đã gọi Đức Maria là “Người Phụ Nữ của Thánh Thể”. Không chỉ nguyên ở đồi Calvê, mà suốt cuộc đời sống bên cạnh Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đã mang lấy “chiều kích hy tế của Thánh Thể” (đoạn 56). Giống như Chúa Giêsu Kitô, Đức Maria đã là một tấm bánh được Thiên Chúa cầm lấy, chúc tụng, bẻ ra, và trao ban.
CẦM LẤY: Có nghĩa là được chọn lựa và yêu thương: “Hỡi Đấng đầy ân phước” (1:28) “vì Bà đẹp lòng Thiên Chúa” (1:30).
CHÚC TỤNG: Không có gì cao quý hơn điều bà Êlisabét đã ngợi khen Đức Maria: “Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy?” (1:43). Chính Đức Maria cũng đã cảm nghiệm thấy rằng: “Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (1:48). Và Chúa Giêsu đã chúc tụng Mẹ Người khi có người nói rằng: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! Nhưng Người đáp lại: Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (11:27 - 28).
BẺ RA: Truyền Thống đã gọi những đau khổ của Đức Maria là “Bẩy Sự Thương Khó”. Bắt đầu từ lời tiên tri của ông Simêon: “Còn chính Bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà” (2:35). Tiếp đến là những biến cố chạy trốn sang Ai Cập (Mt 2: 13-14), thất lạc Chúa Giêsu trong đền thờ (2: 43-45), và cả cuộc đời của người mẹ đã hiệp thông chặt chẽ với những đau khổ của con.
TRAO BAN: Đức Maria đã trao ban cung lòng mình làm đền thờ cho Đấng Cứu Thế ngự trị: “Và này đây Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai..” (1:31). Và khi đứng dưới chân thập giá Đức Maria lại trao ban Chúa Giêsu cho Thiên Chúa Cha để ôm lấy nhân loại vào lòng mình: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người… Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: Thưa Bà, đây là con của Bà. Rồi Người nói với môn đệ: Đây là mẹ của anh.” (Ga 19:25 - 27).
III- DÂNG THÁNH LỄ VỚI MẸ MARIA:
Sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, tầng trời mở ra và có tiếng phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Mt 4:17; Mc 1:11). Khi nhận phép rửa tội chúng ta cũng trở thành “một tạo vật mới” (2 Cr 5:7), con cái Thiên Chúa (Gl 4:5-7), một chi thể của Chúa Kitô và cùng thừa hưởng gia tài với Ngài (Rm 8:17) (GLCG # 1265). Vì thế, thánh Phaolô đã gọi các tín hữu là thánh: “Kính gửi tất cả anh em ở Roma, những người được Thiên Chúa yêu thương, được gọi là thánh” (Rm 1:7; 1 Cr 1:2).
Theo cha Henry Nouwen trong cuốn “Life of the Beloved,” cũng đã cho rằng mỗi người chúng ta, qua phép rửa tội, chúng ta chia sẻ vào chiếc bánh được Thiên Chúa CẦM LẤY, CHÚC TỤNG, BẺ RA, và TRAO BAN (1Cr 10:16-17).
Cuộc sống xã hội với những cạnh tranh, va chạm và đè bẹp lẫn nhau dễ làm cho con người mất đi ý nghĩa cao quý của hình ảnh này, và mang lấy những ý nghĩ tiêu cực về chính mình như một con người không mấy tốt đẹp. Người ta thường than thân trách phận mình là vô phước, xấu xí, vô danh tiểu tốt, bất tài, vô dụng, vô giá trị, đáng khinh tởm, số mạt rệp… Từ đó họ dễ trở nên mất tự trọng, thiếu tự tin nơi chính phẩm giá và nhân cách của mình, để rồi phải vay mượn giá trị nơi bên ngoài mình như tiền bạc, của cải vật chất, sự thành công nơi nghề nghiệp, danh vọng và quyền hành.
Khi con người bị vong thân, họ có thể bị biến thành các tội phạm, và là nạn nhân của xã hội duy vật. Tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể, cùng với Đức Maria, chúng ta được kêu gọi ý thức về phẩm giá của mình với một niềm vui, ca ngợi và tạ ơn của những người đã được Thiên Chúa CẦM LẤY, tức là được tuyển chọn và yêu thương.
“Ta đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta! (Is 43:1) Từ đời đời, trước khi tạo thành vũ trụ, Ta đã chọn ngươi (Ep 1:4). Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng thương xót (Gr 31:3). Ta đã nâng các ngươi từ trong lòng mẹ, đã hứng các người từ lúc chưa chào đời (Is 46:3). Ta đã ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta (Is 49:16). Vì trước mắt Ta, ngươi thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và thương mến (Is 43:4). Bất cứ ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi (2 Sm 7:9). Ta đã đếm từng sợi tóc trên đầu ngươi (Lc 12:7). Đức Chúa sẽ không ngừng dẫn dắt ngươi, giữa đồng khô cỏ cháy, Người sẽ cho ngươi được no lòng; xương cốt ngươi, Người sẽ cho cứng cáp. Ngươi sẽ như thửa vườn được tưới đẫm, như mạch suối không cạn nước bao giờ” (Is 59:11).
Ý thức mình là con cái Thiên Chúa mới chỉ là bước khởi điểm. Cuộc hành trình tinh thần phải là hành động để trở nên con cái Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã diễn tả con đường trở nên hoàn thiện này như sau: “Ôi lạy Chúa, linh hồn con không yên nghỉ cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.” Đó là sự thể hiện liên tục ơn gọi làm con cái Thiên Chúa trong ý nghĩ, lời nói và hành động suốt cuộc đời. Thế nhưng đời sống con người lại có những giây phút đầy khó khăn, những giây phút cảm thấy bất hạnh hơn là PHÚC LÀNH. Ngay chính những giây phút bề ngoài xem ra bất hạnh này, ta phải sống với phúc lành của Thiên Chúa.
Cộng đoàn của Luca đến tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể gồm những người nghèo khổ, thấp kém, bị bách hại, khinh miệt và đủ mọi sự bất hạnh. Nhưng họ đã trở nên con cái Thiên Chúa bằng đời sống đức tin can đảm. Vì thế Chúa Giêsu đã chúc lành cho họ: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Trời là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:20 - 23).
Tấm bánh là Chúa Kitô đã bị BẺ GÃY RA: chịu đau khổ và trở nên hy tế. Thánh Phaolô đã nhắc nhở điều này với tín hữu ở Corintô rằng: “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?” (1 Cr 10:16). Tất cả những người con cái Thiên Chúa được mời gọi đến tham dự Bàn Tiệc Thánh Thể cũng được mời gọi dâng hiến những đau khổ làm hy tế cho Thiên Chúa.
Đau khổ gắn liền với đời sống tinh thần, tình cảm và thể xác của con người. Để sống trọn vẹn là con người, chúng ta phải biết chấp nhận đau khổ, vì nó là một thực tại sâu xa và độc đáo nhất của mỗi cá thể. Nó ẩn sâu trong cõi tâm linh, nên không ai tâm sự đau khổ với người không quen biết. Nó độc đáo bởi mỗi cá nhân phải chịu đau khổ một cách khác nhau. Chính Đức Kitô đã nhắc cho hai môn đệ trên đường Emmau rằng: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24:26).
Khi đặt đau khổ và đổ vỡ dưới sự chúc lành của Thiên Chúa, chúng ta sẽ có thái độ thành thật, và thẳng thắn để dễ dàng tiến đến sự phục hồi, và chữa lành. Chúng ta sẽ nhìn đau khổ một cách thân thiện hơn, vì đó là phương tiện phát sinh ơn cứu rỗi. Giống như Đức Maria đứng dưới chân thập giá đã hiệp thông với đau khổ của Chúa Giêsu để trở thành “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc”. Qua đau khổ, chúng ta sẽ được thanh luyện và thánh hóa để tiến bước sâu xa hơn vào ơn cứu rỗi và phúc lành của Thiên Chúa. Do đó, ơn gọi của con cái Thiên Chúa là phải lôi kéo đau khổ ra khỏi sự bất hạnh và nguyền rủa để đưa nó vào ánh sáng của phúc lành và ơn sủng.
Bàn Tiệc Thánh Thể là hy tế tình yêu tự hiến, là cuộc vượt qua đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu cùng với Đức Maria, cũng đã trở nên của Giáo Hội và của tất cả các tín hữu đến tham dự Thánh Lễ.
Như tấm bánh, chúng ta được CẦM LẤY, CHÚC LÀNH, và BẺ RA là để TRAO BAN. Đời sống làm con cái Thiên Chúa là cho đi vì ích lợi của tha nhân. Con người đạt được hạnh phúc thực sự khi biết cho đi dù chỉ là một nụ cười, một cái bắt tay, một nụ hôn, một lời nói yêu thương, một món quà, một phần của cuộc sống, hay tất cả cuộc đời. Cuộc đời của người con cái Thiên Chúa là cuộc đời hiến dâng để phục vụ tha nhân, gia đình, quốc gia, Giáo Hội và Thiên Chúa.
Đức Maria đặt Chúa Giêsu nằm trong máng của gia súc ăn (Lc 2:7) là một biểu tượng của sự trao ban và cho đi. Người đã trở nên của ăn không những cho con người và cho muôn loài sinh vật trên vũ trụ.
Nói đến cho đi người ta thường nghĩ về vật chất, những cái mình có. Nhưng cái quý giá nhất là sự hiện diện và chính con người của mình. Điều này gồm cả những khả năng của mình nữa. Nhiều khi lại là những đau khổ được chia sẻ để làm gia tăng sức mạnh và hy vọng cho tha nhân.
Người Việt Nam vẫn duy trì một giá trị truyền thống gia đình rất cao quý. Đó là sự hy sinh, trao ban và cho đi một cách vô điều kiện của các cha mẹ đối với con cái. Để bảo vệ sự sống và hạnh phúc của gia đình, tất cả mọi thành phần trong gia đình cũng phải biết cho đi vì ích lợi chung. Biểu tượng của sự cho đi và chia sẻ này được thể hiện qua các bữa ăn gia đình.
Theo phong tục Việt Nam, bữa ăn gia đình rất quan trọng. Người ta thường nói:“Trời đánh tránh bữa ăn.” Bữa ăn gia đình biểu tượng cho sự sống và tinh thần đoàn kết của gia đình. Ngoài những thành phần của gia đình, khách quý mới được mời tham dự bàn ăn. Do đó, bữa ăn còn biểu tỏ sự hiếu khách đối với người khách được mời (Lc 24:29). Tất cả mọi người quy tụ xung quanh bàn ăn, chia sẻ cùng một thức ăn. Thức ăn ngon miệng và no đủ thì cùng nhau hưởng, nếu nhạt nhẽo và thiếu thốn thì cùng nhau chịu. Giống như một tấm bánh được bẻ ra và chia sẻ cho mọi người.
Ngồi vào bàn ăn là lúc người ta biểu tỏ sự thân tình, cởi mở nhất. Đó là cửa ngỏ để bước vào cõi lòng, để bàn bạc và thông cảm với nhau, tạo nên sự đoàn kết, liên đới, niềm vui và bình an. Bởi thế, theo Phúc âm diễn tả, khi đã trở nên thân tình, hai môn đệ trên đường Emmau đã mời Đức Giêsu dùng bữa với họ, và trong bữa ăn họ đã nhận ra Người là Thiên Chúa khi Người ngồi vào bàn ăn, cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, và trao cho họ. (Lc 24: 30-31).
Những kinh nghiệm chúng ta đang sống qua bữa ăn gia đình, cũng là những ý nghĩa được rút ra từ các cộng đoàn của Luca qua những tường thuật về các bữa tiệc được diễn tả trong Phúc âm Thánh Luca. Độc giả của Phúc âm Luca là những người dân ngoại trở lại Kitô giáo. Họ là những người nghèo đói, đau khổ, thấp hèn, bị xã hội khinh miệt, bắt bớ và chèn ép. Họ đã quy tụ lại với nhau để cử hành Bàn Tiệc Thánh Thể trong niềm tin yêu. Họ đã sống đáp ứng lại những đòi hỏi của bàn tiệc trong lời nói và việc làm. Sống Thánh Thể là sống đời sống Kitô hữu. Bàn Tiệc Thánh Thể chính là biến cố của Phúc âm. Vì là biến cố của Phúc âm, nên nguồn gốc của nó trải rộng ra khắp nơi trong toàn bộ Phúc âm. Và cũng như Phúc âm, ý nghĩa của Bàn Tiệc Thánh Thể được nhìn dưới nhiều khía cạnh.
Theo Thánh Luca, cuộc đời và bản thân của Chúa Giêsu là một người nghèo khổ đã cùng sống và đồng hành với cộng đoàn của Luca. Người đã dùng những kinh nghiệm của họ qua các bữa tiệc để sáng lập nên BÀN TIỆC THÁNH THỂ và dẫn đưa con người bước vào BÀN TIỆC THIÊN QUỐC (Lc 22:30).
Cùng chia sẻ sứ mạng này với Chúa Giêsu, Đức Maria cũng đã trở nên tấm bánh hy tế dâng lên Thiên Chúa Cha trong Bàn Tiệc Thánh Thể. Máu Thịt của Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể cũng chính là Máu Thịt của Đức Maria được chia sẻ và thông phần qua Mầu Nhiệm Nhập Thể khi Thiên Thần truyền tin: “Và này đây Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1:31). “Ngôi Lời mặc lấy xác phàm” (Ga 1:14), và chính Con Người Nhập Thể này đã trao ban sự sống cho trần thế (Ga 6:51).
Thánh Augutinô, khi chú giải Thánh Vịnh 98, câu 9 đã nói: “Từ xác thân của Maria, Chúa đã mặc lấy xác phàm, trong xác phàm ấy Chúa đi giảng dậy và Ngài trao ban cũng chính xác thân ấy cho chúng ta làm của ăn để ta được cứu chuộc; không ai lãnh nhận Mình Thánh đó mà không tôn thờ Chúa trước…”
Trong tuyển tập Thần Học, Thánh Tôma Aquinas đã so sánh cuộc cưu mang Thánh Tử Giêsu trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria là một mầu nhiệm giống như sự biến đổi của bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể.
Thần học gia Peter Chrysologus cũng diễn tả như sau: “Chúa Kitô là bánh được gieo vào cung lòng Trinh Nữ Maria, được dậy men trong xác thân của Mẹ Maria, được nhào luyện trong sự thương khó, được nung nấu trong lò là huyệt mộ, được lưu trữ trong Giáo Hội, được phơi bày trên bàn thờ để thành bánh trời cho mọi người hàng ngày” (Thánh Thể và Mẹ Maria Theo Truyền Thống Kitô Giáo, Lm Anthony Nguyễn Hữu Quảng, SDB, VietCatholic CD 2003)
Trong Thông Điệp “Giáo Hội Của Bí Tích Thánh Thể,” “Ecclesia de Eucharista,” ĐGH Gioan Phaolô II đã dành nguyên chương sáu để nói lên vai trò đặc biệt của Đức Maria trong Bàn Tiệc Thánh Thể: “Đức Maria có thể dẫn chúng ta hướng về Bí Tích rất thánh này bởi vì chính ngài có một liên hệ sâu xa với Bí Tích này” (đoạn 53).
Sự liên hệ đó bắt đầu qua mầu nhiệm Nhập Thể: “Đức Maria đã dâng hiến cung lòng trinh bạch để Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể” (đoạn 55). Tiếng “Xin Vâng” của Đức Maria cũng là tiếng thưa “Amen” của chúng ta khi rước lấy Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu. Đức Maria chính là “nhà tạm” thứ nhất trong lịch sử khi mang Ngôi Lời trong cung lòng vào dịp thăm viếng bà chị họ Êlisabéth (đoạn 55).
Khi thành lập Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các Tông Đồ: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22: 19). “Hãy làm việc này” không phải chỉ là việc cử hành nghi thức mà thôi, nhưng còn là một bổn phận phải trở nên một tấm bánh được cầm lấy, chúc tụng, bẻ ra và trao ban như Chúa Giêsu, Đức Maria, các Tông Đồ và tất cả các Kitô hữu tiên khởi đã làm.
Bởi thế, trong Tông Huấn “Marialis Cultus” (Việc Tôn Sùng Mẹ Maria), ĐGH Gioan Phaolô II đã khích lệ các Kitô hữu theo gương mẫu của Đức Maria sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu: “Hãy sống Bí Tích Thánh Thể bằng chính niềm tin và tình yêu của Mẹ Maria, một trinh nữ lắng nghe, một trinh nữ nguyện cầu, một trinh nữ hiến dâng, một hiền mẫu trinh nguyên, một trinh nữ gương mẫu và cũng là bà thầy của lòng tôn thờ thiêng liêng trong cuộc sống thường ngày, đã biến đổi chính Mẹ thành của lễ hiến dâng đẹp lòng Thiên Chúa.”
Cùng là hy tế trên BÀN TIỆC THÁNH THỂ với Chúa Giêsu, Đức Maria, Giáo Hội và các Kitô hữu tham dự Thánh Lễ cũng sẽ được mời tham dự vào BÀN TIỆC THIÊN QUỐC. Nơi Bàn Tiệc Thiên Quốc này, chúng ta sẽ nghe Đức Maria và Giáo Hội hát vang lên lời “Ngợi Khen”, “Magnificat”: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu Tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới... Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của ăn đầy dư…” (Lc 1: 46- 53).