Phần II: Mẹ Maria Tự Dâng Hiến Chính Mình Cho Thiên Chúa Cha
Giờ đây chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu đến Phần II của lời xác nhận mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã tuyên bố trong bài diễn văn của Ngài sau khi đọc kinh Truyền Tin vào ngày 5 tháng 6 năm 1983. Ngài nói rằng: “Mẹ Maria đã tự dâng hiến chính bản thân Mẹ cho Thiên Chúa Cha.” Bằng lời xác nhận này, chúng ta cũng có thể nói rằng việc đó hoàn toàn có liên quan đến thái độ nói lên lời “Xin Vâng” của Mẹ vào Ngày Lễ Truyền Tin. Câu trả lời “Xin Vâng” xuất phát từ chính trái tim Mẹ trên đồi Golgôtha để hiến dâng Người Con của Mẹ cho Thiên Chúa Cha; để hoàn thành việc cứu chuộc tổi lỗi của toàn thể nhân loại, vốn dĩ, không phải là một sự từ bỏ Người Con ấy hoàn toàn, nhưng là một sự từ bỏ để vâng theo thánh ý của Thiên Chúa Cha bằng chính việc tự hiến bản thân của Mẹ. Đúng ra là chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng giữa việc Mẹ Maria hiến dâng Người Con của Mẹ và việc Mẹ tự dâng hiến bản thân mình cho Thiên Chúa Cha-và sự khác biệt này đã được giải thích khá rõ bởi Đức Thánh Cha, vì chưng nó có liên quan đến việc dâng hiến hai con người khác nhau: một là con người với bản tính Thiên Chúa, và bên kia, chính là con người trần tục. Tuy nhiên, cả hai sự hiến dâng này, tuy là không cùng cấp độ, nhưng lại được diễn ra một cách đồng thời và gắn kết với nhau.
Chúng ta cũng đã xem xét qua bản văn viết nổi tiếng của Đức Cố Giáo Hoàng Bênêdictô XV qua Lá Thư Hiến Chế của Ngài về Inter Sodalicia qua cách nhìn của việc Mẹ Maria dâng hiến Chúa Kitô, thì giờ đây chúng ta cùng xem xét lại cũng qua bản văn ấy nhưng là ở dưới góc độ của việc Mẹ Maria tự hiến dâng chính bản thân của Mẹ và việc Mẹ “đã trả giá cho việc cứu rỗi của nhân loại” cùng với Chúa Kitô. Bản văn được viết ra như sau:
“Mẹ Maria đã phải chịu đau khổ, và Mẹ gần như đã chết lặng đi cùng với Người Con đang phải chịu cực hình, vì công cuộc cứu rỗi nhân loại, Mẹ đã từ bỏ quyền làm Mẹ của mình, để hiến dâng Người Con ấy, để làm xoa dịu đi sự công minh, chánh trực của Thiên Chúa, vì thế chúng ta cũng có thể nói một cách không ngoa rằng Mẹ đã cùng với Chúa Kitô cứu rỗi nhân loại.”
Chúng ta cần phải lưu ý rằng lời minh xác này, chẳng có liên quan gì đến sự kiện là tự chính bản thân Chúa Giêsu cũng đã đủ để cứu rỗi nhân loại; hay là việc Mẹ Maria, với tư cách là một con người thụ tạo, chẳng bao giờ có thể đưa ra một sự hy tế nào ngang bằng với Người Con mang bản tính Thiên Chúa của Mẹ. Hơn thế, điều mà Đức Cố Giáo Hoàng Bênêdictô XV đã tuyên bố chính là để nhấn mạnh đến sự tham gia tích cực của Mẹ Maria qua việc tự hy tế chính bản thân của Mẹ qua công cuộc cứu chuộc tại đồi Calvê. Như thể đó là cách để ca ngợi Mẹ, hai năm sau đó, trong bài giảng phong thánh của Ngài cho Thánh Gabriel của Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Margaret Maria Alcoque, Ngài nói rằng: “những đau đớn, cực hình của Chúa Giêsu không thể nào có thể tách rời với những sự đau khổ của Mẹ Maria.” Quả đúng như thế, những nổi đau đó rất dễ được phân biệt ra, tuy nhiên đó lại là những nổi đau không thể tách rời và cùng diễn ra giữa Chúa Kitô và Mẹ của Ngài, là Mẹ Maria.
Sự kết liên giữa nổi khổ đau cùng cực của Chúa Giêsu và Mẹ Maria cho công cuộc cứu rỗi loài người tội lỗi của chúng ta đã được trình bày một cách rõ ràng và đẹp đẽ bởi Chân Phước Cố Giáo Hoàng Piô XII trong Lá Thư Hiến Chế Vĩ Đại của Ngài về Trái Tim Cực Thánh của Thiên Chúa vào ngày 15 tháng 5 năm 1956, có tên là Haurietis Aquas, Ngài viết:
“Bằng ý chỉ của Thiên Chúa, Đức Nữ Đồng Trinh Maria được liên kết chặt chẽ với Chúa Kitô trong việc hoàn thành sứ mạng cứu rỗi nhân loại, để công cuộc cứu rỗi của chúng ta xuất phát từ tình yêu của Chúa Giêsu Kitô và sự đau khổ cùng cực của Ngài, vốn cũng được gắn kết mật thiết với tình yêu và sự khổ sầu của Người Mẹ Ngài.”
Thì trong đoạn văn kinh điển trên, từng chữ được cẩn thận suy xét và sắp đặt để đưa ra lời tuyên bố về công trình cứu chuộc và vai trò của Mẹ Maria có liên quan trong đó, thì đoạn văn ấy vẫn còn là một đoạn văn kinh điển được giải thích một cách rõ ràng và chính xác. Chân Phước Cố Giáo Hoàng Piô XII đã thú nhận rằng “công cuộc cứu rỗi chúng ta chính là xuất phát từ tình yêu của Chúa Kitô và sự khổ đau cực hình của Ngài,” (ex Iesu Christi caritate eiusque cruciatibus) mà sự khổ đau ấy “vốn cũng được gắn kết mật thiết với tình yêu và sự khổ sầu của Người Mẹ Ngài.” (cum amore doloribusque ipsius Matris intime consociatis). Trong tiếng La Tinh, giới từ “ex” nhằm ám chỉ đến Chúa Giêsu như là nguồn của công trình cứu chuộc loài người chúng ta, và ba chữ La Tinh khác là “cum” và “intime consociatis” là nhằ ám chỉ đến sự gắn bó mật thiết của Mẹ Maria với nguồn cứu chuộc của Chúa Giêsu. Cuối cùng, chúng ta hãy cùng lưu ý đến việc Ngài cố nhấn mạnh đến sự kiện về sự kết liên của Chúa Giêsu với Mẹ Maria cho công cuộc cứu rỗi của chúng ta đã được tiền định “bởi thánh ý của Thiên Chúa” (ex Dei voluntate).
Như chúng ta đã cùng chú ý rằng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị liên lũy nhấn mạnh rằng sự vâng phục của Mẹ Maria cho sự hy tế bằng máu của Người Con của Mẹ trên cây thập tự giá, chính là những dấu chỉ đã được tỏ lộ qua việc Mẹ nói lên lời “Xin Vâng” ngay lúc Sứ Thần truyền tin. Sự “Xin Vâng” vui sướng ấy, để đáp trả lại lời của Sứ Thần Gabriel đã trở nên một sự hy tế trên đồi Calvê, và đó là lý do tại sao mà Đức Thánh Cha nói tại Guayaquil vào ngày 31 tháng 1 năm 1985:
“Bị đóng đinh về mặt tinh thần cùng với Người Con đã chịu đóng đinh (như trong Sách Galilê, chương 2, câu 20 có đề cập đến), Mẹ đã lặng ngắm cái chết anh dũng vì tình yêu thương của Người Con với bản tính Thiên Chúa của Mẹ, Mẹ “đã đồng thuận trong tình yêu thương để hy tế (immolation) một Nạn Nhân mà Mẹ đã sinh hạ.”” (Lumen Gentium, 58).
Trông có vẽ là quá táo bạo đến mức mà Đức Thánh Cha nói về Mẹ Maria như là một Người “đã bị đóng đinh về mặt tinh thần cùng với Người Con đã chịu đóng đinh,” thì chúng ta phải lưu ý rằng trong bản văn chính thức của Ngài, Đức Thánh Cha có đưa ra lời chú dẫn về điểm này, chính là qua thư của Thánh Phaolô gởi cho các Tín Hữu Galatê, chương 2, câu 20, chính là nơi mà Ngài xác nhận rằng: “Tôi cũng đã chịu đóng đanh cùng với Chúa Kitô.” Nếu Thánh Phaolô tự có thể đưa ra lời nhận xét này, thì rõ ràng là có rất nhiều lý do chính đáng để xác nhận việc Mẹ Maria cũng đã chịu đóng đinh về mặt tinh thần nơi đồi Calvê. Nói đúng ra, việc trích lại những đoạn văn khác trong triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị để minh chứng cho sự hy tế của Mẹ Maria cùng với Chúa Kitô để cứu rỗi nhân loại, là một điều không mấy khó khăn cho lắm.
Chính vì thế, tôi muốn trích lại thêm một đoạn văn nữa, từ Lá Thư về Tông Huấn của Ngài vào ngày 11 tháng 2 năm 1984 có tên là Salvifici Doloris, vì rằng nó cũng có thể được xem như là một sự tóm tắt rất súc tích trong triều đại giáo hoàng của Ngài cũng như của những vị tiền nhiệm của Ngài ở chổ là: sự tóm tắt này cũng hoàn toàn chính xác đúng theo Phúc Âm và lịch sử-ở chổ là là, đứng bên cạnh của Chúa Kitô, tại nơi đầu tiên và đáng được vinh dự nhất, vẫn luôn là Mẹ của Ngài qua việc Mẹ đã gương mẫu vâng phục thánh ý của Thiên Chúa, suốt trọn cuộc đời của Mẹ, đến độ Mẹ phải hy sinh chính bản thân Mình, như Phúc Âm đã mô tả: “Trong Mẹ, sự đau khổ, quằn quại đã tích tụ và dâng lên tới cùng cực theo cách mà nó được gắn bó chặt chẽ đến nỗi đó không những là một bằng chứng về đức tin không hề thay đổi, lung lay của Mẹ mà còn là một sự đóng góp vào công trình cứu chuộc của toàn thể nhân loại... Chính tại đồi Calvê mà sự chịu đựng của Mẹ Maria, bên cạnh với sự chịu đựng của Chúa Giêsu, đã đạt đến đỉnh điểm mà cách nhìn tầm thường của con người không có thể nào hiểu rõ cho được, vì chưng đó chính là hoa trái huyền nhiệm và siêu nhiên để cứu chuộc cho toàn thể thế giới.” Việc Mẹ lên đồi Calvê và đứng ngay dưới chân của cây thập tự giá cùng với người môn đệ thân yêu chính là một điểm đặc biệt của việc cứu rỗi nhân loại qua chính cái chết của Người Con của Mẹ.
Một đoạn trích dẫn khác, cũng từ Salvifici Doloris có thể cung cấp cho chúng ta hiểu rõ hơn về bối cảnh của sự thật nhằm nhấn mạnh đến sự chịu đựng, nổi khổ đau của Mẹ Maria: “Những nổi đau khổ, cùng cực của Chúa Kitô là để tạo ra những điều tốt đẹp thông qua việc cứu rỗi thế giới. Điều tốt đẹp chính là ở chổ nó vô tận và ngàn đời. Không ai có thể thêm vào bất cứ một điều gì nữa.” Nhưng cũng đồng thời “sự khổ đau của Mẹ Maria trên đồi Calvê, bên cạnh với sự khổ đau của Chúa Giêsu,..... chính là hoa trái huyền nhiệm và siêu nhiên để cứu chuộc cho toàn thể thế giới.” Chính vì thế mà Đức Thánh Cha đã cẩn thận cân nhắc để nói lên điều đó, vốn dĩ chính là một sự xác nhận tiêu chuẩn về sự thật của Giáo Hội Công Giáo: Ngài xác nhận một nguyên lý rằng: chỉ sự khổ đau của Chúa Kitô không thôi cũng đã đủ cho công trình cứu rỗi thế giới, và việc hi sinh của Mẹ Maria, không hơn không kém, chính là “một sự đóng góp vào công trình cứu chuộc của toàn thể nhân loại.”
Phần III: Thánh Lễ - Sự Tưởng Nhớ Lại Về Sự Hy Tế của Thiên Chúa và của Mẹ Maria
Giờ thì chúng ta đã hiểu rõ được ở mức độ nào mà những lời nhận xét của Đức Thánh Cha về vai trò tích cực của Mẹ Maria trong công cuộc cứu rỗi, trong bài diễn văn xuất thần của Ngài nhân ngày Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu sau khi đọc Kinh Truyền Tin vào ngày 5 tháng 6 năm 1983, chúng ta hãy cùng quay trở lại phần kết luận mà Ngài nêu ra trong bản văn:
“Cứ mỗi lần cử hành Phép Thánh Thể chính là một sự tưởng nhớ lại việc Hy Tế và Ngày Lễ Vượt Qua để khôi phục lại sự sống cho toàn thể thế giới; cứ mỗi một thánh lễ, đặt chúng ta trong sự giao kết gần gũi với Mẹ, một người Mẹ mà sự hy sinh của Mẹ đã “trở nên hiện hữu” cũng giống như sự Hy Tế của Người Con Mẹ đã “trở nên hiện thực” ngay khi lời đọc thánh hóa của bánh và rượu được phát ra từ miệng của vị linh mục chủ tế. (cf. Trích Lược phần phát biểu về Phần Cử Hành Ngôi Lời của Đức Thánh Cha vào ngày 1 tháng 6 năm 1983, số 2, ORE 788:1).”
Sự hy sinh của Mẹ đã trở nên hiện hữu cũng giống như sự Hy Tế của Người Con Mẹ đã trở nên hiện thực. Điều này là hoàn toàn đúng, vì chưng trên tất cả, Chúa Giêsu chính là sự hy tế của Mẹ Maria; Mẹ đã thay mặt chúng ta, dâng hiến Ngài trên đồi Calvê cho Thiên Chúa Cha. Kế đến, việc hy sinh của Mẹ cũng hoàn toàn đúng, vì sự hy sinh đó được gắn kết một cách chặt chẽ với sự hy tế của Chúa Giêsu. Dĩ nhiên, là sự hy sinh của Mẹ là luôn là một sự hy sinh phụ và là hệ quả tất nhiên về sự hy tế của Chúa Giêsu, nhưng cả hai sự hy sinh ấy đều được diễn ra một cách đồng thời. Chính vì vậy mà Đức Thánh Cha đã dùng Sứ Điệp vào ngày 15 tháng 8 năm 1996 cho Hội Nghị Quốc Tế Lần Thứ 19 về Mẹ Maria để nhấn mạnh đến sự hiện diện và hy sinh của Mẹ Maria nơi đồi Calvê và trong Thánh Lễ:
“Mỗi một Thánh Lễ chính là một sự khai diễn lại qua cung cách không hề thắm máu, một sự hy sinh duy nhất và trọn vẹn, về cái chết của Chúa Kitô trên cây Thập Giá, mà Mẹ Maria đã cùng tham dự phần vào qua việc cùng hứng chịu về một nổi đau tinh thần của Người Con đang bị tra tấn, và bằng tình yêu thương mẫu từ Mẹ đã chấp nhận sự hy sinh của Con Mẹ và Mẹ đã dâng nổi sầu khổ của riêng Mẹ cho Thiên Chúa Cha (cf. Lumen gentium, n. 58).”
Chính vì thế khi chúng ta cử hành Phép Thánh Thể, chính là để làm sống và tưởng nhớ lại về Ngày Lễ Vượt Qua của Chúa Kitô, cũng như về nổi khổ đau chịu đựng của Mẹ Ngài, một Người Mẹ, xứng đáng là một mẫu gương mà không ai trong nhân loại có thể vượt qua được, cũng như là để khuyên dạy cho tất cả mọi tín hữu hãy biết đoàn kết mật thiết với sự hy tế của Con Mẹ, là Đấng Cứu Rỗi Nhân Loại.
Đức Ông Gioan O’Connor, trong phần triển khai về chủ đề Mẹ Maria như là người hiến tế của Chúa Giêsu trong quyển sách của Ngài có tên là “Sự Ẩn Hiện của Bánh Hằng Sống” (The Hidden Manna), Đức Ông đã mô tả Mẹ như là vị “tư tế chính của Phép Thánh Thể sau vị Thượng Tế chính là Chúa Giêsu,” Ngài viết như sau:
“Cùng chịu sự đau khổ, hành hạ với Người Con của Mẹ khi Người Con ấy chết trên cây thập giá, Mẹ đã hợp phần theo một trọn vẹn riêng bằng chính sự phục tùng, đức tin, niềm hy vọng và tấm lòng bác ái bỏng cháy của Mẹ để khôi phục lại sự sống siêu nhiên cho tất cả các linh hồn.” Và vì sự gắn bó keo sơn giữa Người Con và Người Mẹ quá “mật thiết và bền vững,” như là Công Đồng đã dạy, “Mẹ vẫn còn đứng bên Người Con ấy, và vì Người Con ấy và theo Người Con ấy, như là một vị tư tế chính của việc hy tế đó để cho Phép Thánh Thể được trở nên sống động, và hiện thực nơi trần thế. Vì chính Thiên Chúa là Người đã dâng hiến và được đón nhận qua mỗi một Bánh Thánh, để chính Ngài và kẻ đón nhận Ngài cùng đáp lên lời ngợi ca của việc Ngài tự hiến toàn bộ bản thần Ngài, để trong Ngài và với Ngài, Mẹ Maria đã và được hiến dâng qua mỗi lần cử hành Phép Thánh Thể, theo một cách hoàn toàn khác biệt và duy nhất để phản ánh vai trò của Mẹ trong việc cứu rỗi mà chính Người Con của Mẹ đã hoàn tất thay cho Mẹ và cho tất cả những người tội lỗi chúng ta.”
(Còn tiếp.....)