Bông Hồng 29 - Đức Tin Và Tình Yêu
MARIA SỐNG TRONG TIN YÊU
“Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: Họ hết rượu rồi.” (Ga 2: 1- 11)
Nước Ý có nhiều làng mạc rải rác khắp các chân đồi. Nghề canh nông căn bản của họ là ngành trồng nho. Rất nhiều cộng đoàn đã sống bằng nghề trồng nho và làm rượu nho. Vì thế họ đã sản xuất ra những loại rượu nho ngon nhất thế giới.
Nhưng điều đã làm cho rượu nho của mỗi làng độc đáo chính là công thức pha chế riêng tư của họ. Dân chúng trồng nho riêng, làm rượu riêng, rồi đổ rượu nho chung vào với nhau trong một cái thùng rượu bằng gỗ vĩ đại đặt ngay giữa trung tâm làng. Kết quả là họ đã xáo trộn nhiều loại rượu nho lại với nhau và làm thành một loại rượu nho thơm ngon hảo hạng.
Một năm kia, cả làng bị mất mùa nho. Một trong những nhà sản xuất rượu nho đã quyết định không muốn chia sẻ rượu nho của mình với người khác. Anh muốn bán riêng rượu của mình. Và thay vì đổ rượu của mình vào thùng rượu giữa làng, anh đã đổ nước lạnh vào, vì nghĩ rằng một chút nước lã pha trong cái thùng rượu vĩ đại thì chẳng đáng kể, không mấy ai quan tâm!
Rượu nho chứa trong thùng gỗ càng lâu càng ngon và quý. Sau khi gom lại từ dân làng, rượu được chứa trong thùng gỗ vĩ đại đến 7 năm. Cuối năm thứ 7, dân làng quy tụ nhau lại cùng với những người buôn bán rượu chuyên nghiệp khắp nơi trên thế giới tuôn về để mở thùng rượu nho ra thương lượng giá cả. Đây là một biến cố vô cùng quan trọng của dân làng, vì lợi tức của việc bán rượu là nguồn tài trợ chính của họ.
Khi thùng rượu gỗ được khui ra nếm thử thì hỡi ôi, toàn nước lã! Điều lạ lùng là dường như mọi người trong làng vào năm mất mùa đó đã có cùng một tư tưởng như nhau: đổ nước lã vào thùng làm của chung, còn rượu nho giữ lại cho riêng mình. Nguyên một thùng gỗ vĩ đại toàn nước lã, không phải rượu!
Sự ích kỷ đã không thể làm cho nước trở thành rượu. Nhưng tình yêu làm được. Tình yêu có khả năng phi thường đưa dẫn con người đến gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng Tối Cao đầy quyền uy sẽ biến nước trở nên rượu, rồi sau này, rượu thành ra máu, nuôi sống nhân loại. Đó là tình yêu của Đức Maria.
Thánh Luca diễn tả Mầu Nhiệm Nhập Thể xảy ra từ đức tin của Đức Maria, với hai tiếng “xin vâng” trong câu chuyện Thiên Thần Truyền Tin (Lc 1: 26-38). Đức tin này là hạt giống được gieo vào tâm hồn Đức Maria. Thánh Gioan đã dùng câu chuyện phép lạ biến nước trở nên rượu ở Tiệc Cưới Cana (Ga 2:1-11) để trình bày hạt giống đức tin của Đức Maria đã mọc lên như cây bám rễ sâu vào lòng đất. Rồi sau này, rượu đó sẽ trở nên máu của Người, trong Bàn Tiệc Thánh Thể và khi bị treo trên Thập Giá, bị đâm vào cạnh sườn, máu đó đã chảy ra nguồn cứu độ. Đức tin trung kiên của Đức Maria, người Mẹ Hiền Mẫu đứng bên cạnh con của mình, đã phát sinh hoa trái là ơn cứu rỗi cho nhân loại (Ga 19:25-27).
Đức Maria đã không chỉ đóng vai trò người Mẹ thể lý của Chúa Giêsu, mà còn đóng một vai trò tích cực trong công cuộc cứu rỗi nhân loại của Chúa Giêsu (Lumen Gentium đoạn 58). Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế “đem sự sống đến cho thế gian” (Lumen Gentium đoạn 53). Mẹ là “Người Phụ Nữ, bà Evà mới, Mẹ của các sinh linh, Mẹ của Chúa Kitô toàn diện” (GLCG # 726). Mẹ “đã cộng tác bằng Đức Ái của mình vào việc sinh ra các tín hữu trong Giáo Hội” (GLCG #963). Mẹ “đã can thiệp vào lịch sử nhân loại cách không thể tưởng tượng được về mặt siêu việt cũng như về mặt người phàm…” (ĐGH Gioan Phaolô II, TVNNTB, Cầu Nguyện, Sự Cầu Bầu Từ Mẫu của Đức Maria).
1- Tình yêu dẫn đến gặp gỡ Thiên Chúa:
Khởi đầu đức tin của Đức Maria là một ân huệ của Thiên Chúa trao ban (Lc 1:30). Nhưng rồi đức tin đó đã tăng trưởng trong cuộc đời của Đức Maria qua sức mạnh của tình yêu, tình mẫu tử sâu đậm của một người mẹ. Hẳn không ai biết người con bằng người mẹ. Bởi mẹ con thường thông tri với nhau bằng cả sự sống, tâm trí và linh hồn.
Ngành Y Khoa tân tiến hiện nay đã chứng minh cho công chúng trông thấy ngay trên màn ảnh truyền hình: một thai nhi có đủ mắt, mũi, tai, miệng… đã lộ nét mặt tươi cươi khi nghe mẹ nó cười, và tỏ ra sợ hãi, khi nghe mẹ nó giận dữ. Ngay từ trong lòng mẹ, đứa trẻ đã quen thuộc với tiếng nói của mẹ nó. Khi chào đời, khi đau, khi đói, khi khóc, khi buồn ngủ... nhờ tiếng mẹ ru êm đềm, vỗ về, đem lại cái tình cảm trìu mến. Đứa trẻ lớn lên về tinh thần lẫn thể xác qua sự liên hệ gắn bó chặt chẽ với người mẹ.
Những nhà tâm lý xã hội học ngày nay đều công nhận rằng có những thiệt thòi và bất thường tâm lý xảy ra nơi những trẻ em mồ côi, những trẻ em của các cha mẹ ly dị, hay các cha mẹ phải đi làm vất vả, không có đủ thời giờ trực tiếp săn sóc và giáo dục các em! Bảo đảm rằng Đức Maria đã không gửi Chúa Giêsu vào nhà trẻ hay trao cho bất cứ người vú nuôi nào coi sóc!
Sự gắn bó chặt chẽ giữa cha mẹ và Hài Nhi Giêsu ở Nagiarét trong thời ẩn dật được Thánh Kinh ghi rõ là: “Còn Hài Nhi, ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2:40). Chỉ có một biến cố xẩy ra khi Giêsu lên 12 tuổi, ở lại trong đền thờ ba ngày, đàm đạo với các thầy Do Thái, nhưng sau đó “Người trở về Nagiarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2:51). Còn Đức Maria, Mẹ Người thì “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2:51).
Dựa vào các dữ kiện trên cho chúng ta biết rằng Đức Maria, Mẹ của Hài Nhi Giêsu hằng linh cảm được sự siêu việt nơi con của mình. Điều này được Gioan diễn tả khá rõ ràng trong Tiệc Cưới Cana: “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: ‘Họ hết rượu rồi.’” (Ga 2:3). Đa số các nhà chú giải Thánh Kinh đều đồng ý rằng câu nói này có tính cách yêu cầu một điều gì hơn là chỉ diễn tả một sự kiện!
Ở cuối câu chuyện Gioan nói: “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilêa và bày tỏ vinh quang của Người.” (Ga 2:11). Chúa Giêsu chưa làm phép lạ bao giờ, như vậy làm sao Đức Maria biết được Chúa Giêsu có uy quyền mà bày tỏ? Đây chính là do cảm nghiệm nội tâm, cái linh cảm, dẫn tới sự tin tưởng của một người mẹ. Người mẹ sống rất gắn bó với người con, nên luôn nhậy cảm với bất cứ sự gì có liên quan đến đời sống và số phận của con mình.
Tình yêu tưới gội cho hạt giống đức tin phát triển và hoa trái là phép lạ đã xảy ra. Đọc tiểu sử cuộc đời của các thánh cũng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa thường tự thông tri chính Ngài cho những linh hồn nào có trái tim cầu nguyện, tâm tình đạo đức, và những tình cảm yêu thương khao khát muốn tìm kiếm Ngài. Những tình cảm thánh thiện này dẫn đưa con người vào sự hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa.
Chẳng hạn Thánh Tâm Chúa Giêsu đã được mặc khải ra cho Thánh Nữ Magarita. Lòng Thương Xót Chúa mặc khải cho Thánh Nữ Maria Faustina một trong những đoạn như sau: “Ngày 30 tháng 11 năm 1936, Mẹ Thiên Chúa đã dạy tôi chuẩn bị cho ngày đại lễ Giáng Sinh… Mẹ phán bảo tôi: Con gái của Mẹ, con hãy nỗ lực sống thinh lặng và khiêm tốn đến với Chúa Giêsu, Đấng liên lỉ ngự trong linh hồn con... Mẹ sẽ xin cho con ơn giữ được đời sống nội tâm đến độ con sẽ không bao giờ ra khỏi đời sống ấy… Con hãy liên lỉ ở lại với Người nơi tâm hồn con.” (Nhật Ký, Lòng Thương Xót Chúa Nơi Linh Hồn Tôi, số 785).
2- Tình yêu đối với nhân loại:
Đức Maria yêu cầu Chúa Giêsu làm phép lạ để làm gì? Để giúp cho chủ nhà hay để Chúa Giêsu biểu tỏ tình yêu và uy quyền của Ngài cho nhân loại biết?
Chúa Giêsu đã trả lời Mẹ Người rằng: “Giờ của con chưa đến “ (Ga 2:4). Cũng câu này ở Ga 7: 6, Chúa Giêsu đã dùng để trả lời cho những người anh em họ hàng. Họ yêu cầu Ngài làm phép lạ để chứng tỏ Ngài là Đấng Thiên Sai. Chúa đã từ chối không làm vì họ thiếu đức tin! Vì thiếu niềm tin nên họ đã yêu cầu Ngài biểu tỏ. Còn Đức Maria, vì hoàn toàn tin tưởng nên mới yêu cầu!
Bởi đức tin Đức Maria đã biết Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, và nghĩ rằng giây phút đã điểm cho Ngài biểu tỏ sự hiện diện của Ngài với nhân loại. Lời yêu cầu của Đức Maria đóng góp vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa vì tình yêu thương nhân loại. Do đó Chúa Giêsu đã làm phép lạ. Một phép lạ vĩ đại với số lượng rượu quá lớn lao, sáu chum đá rượu, khoảng 720 lít.
Nếu chỉ nhằm giúp cho gia chủ thiếu rượu đãi khách, họ đâu cần nhiều đến thế! Phép lạ hóa bánh ra nhiều ở Ga 6:1- 15 cũng xảy ra giống như vậy. Số bánh, rượu, dư thừa và phong phú là biểu tượng của thời đại Đấng Thiên Sai đã đến. Thật phù hợp với lời Cựu Ước đã nói tiên tri về rượu trong thời đại Thiên Sai (Am 9:13-14; Ge 2:24; 3:18).
Nhưng chúng ta cũng công nhận rằng Đức Maria rất tế nhị và có lòng thương gia chủ vì họ nghèo, nên đã gặp khó khăn thiếu rượu. Đối với phong tục của người Trung Đông, tiệc cưới không đủ rượu cho khách là một sự sỉ nhục lớn cho đôi tân hôn. Dứt khoát là mất vui! Đức Maria sống ở Nagiarét cũng rất nghèo, nên thông cảm với hoàn cảnh của những người nghèo. Tuy nhiên, tình thương này chỉ là cơ hội cho một mục đích vĩ đại và cao cả hơn, tình yêu đối với sự cứu rỗi của toàn thể nhân loại.
3- Tình yêu đối với Các Tông Đồ:
Thánh Gioan kể phép lạ nước biến thành rượu ở tiệc cưới Cana ngay sau việc Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên
đi theo Ngài. Đó là các ông Phêrô, Anrê, Philípphê và Nathanaen (Ga 1:35 -51).
Chắc chắn không phải chỉ vì mình mà Đức Maria yêu cầu phép lạ! Đức tin của Đức Maria không cần đến phép lạ. Đây chính là để củng cố đức tin của các Tông Đồ đầu tiên vừa mới đi theo Chúa Giêsu, Ngài đã dẫn họ đến dự tiệc cưới. Niềm tin của họ còn rất yếu đuối, dễ bị lung lạc. Vì thế, để kết thúc câu chuyện Thánh Gioan đã viết: “Các môn đệ đã tin vào Người” (Ga 2:11). Gioan không nói đến đức tin của Đức Maria, vì hiểu rằng Đức Maria đã có đức tin rồi. Ở đây, Gioan đồng tình với Luca, từ khởi điểm của Mầu Nhiệm Nhập Thể cho tới khi bắt đầu Sứ Vụ Công Khai của Chúa Giêsu: Đức Maria đã tin tưởng trước tất cả các Tông Đồ. Đức tin của Đức Maria đã khơi nguồn và dẫn dắt niềm tin của các Tông Đồ vào Chúa Giêsu.
4- Đức Tin gặp thử thách:
Thế nhưng, đức tin của Đức Maria không phải là một đức tin yên tĩnh, an bình, không gặp thử thách. Tại Tiệc Cưới Cana, cũng như lúc Thiên Thần Truyền Tin, đức tin đó gặp thử thách sóng gió.
“Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến.” (Ga 2:4). Rõ ràng, câu trả lời của Chúa Giêsu có vẻ không chú ý đến lời yêu cầu của Mẹ Người. Các nhà chú giải đã đồng ý rằng Chúa Giêsu đã gọi Mẹ Người là “Thưa bà”, một tiếng gọi rất kính trọng của thời Tân Ước. Tiếng gọi dành cho bà “Evà Mới”. Nhưng câu trả lời hơi lạ tai. Không có một người con nào trả lời với mẹ như vậy bao giờ!
Thực ra, Chúa Giêsu nói “Giờ của con chưa đến” để ám chỉ về cuộc thương khó và sống lại của Người, được coi như là cao điểm của thời đại Thiên Sai. Nhưng liệu tại Tiệc Cưới Cana, Đức Maria có hiểu được như vậy không? Dù sao, Đức Maria cũng đã chịu vâng phục hoàn toàn theo Thánh Ý của Thiên Chúa mà không cãi lại khi nói với giai nhân rằng: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2:5). Phải tin tưởng lắm Đức Maria mới quả quyết như vậy!
Một tác giả Tin Lành đã viết như sau: “Chúng ta phải cố gắng hiểu câu nói của Đức Maria với các đầy tớ ở tiệc cưới: ‘Người bảo gì các anh cứ việc làm theo’. Đây thường được coi như một linh tính tiên đoán rằng con của bà sắp làm một việc gì. Chẳng lẽ lại không đúng hơn để hiểu lời này như một hành động của sự tin tưởng nơi Chúa Giêsu? Bà đã đặt hoàn toàn tin tưởng nơi Ngài mà chẳng lẽ lại không hiểu điều Chúa Giêsu ám chỉ về ‘Giờ của Ngài’ và điều Ngài sắp làm. Đây là thái độ của đức tin giống như Luca diễn tả: ‘Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói’ (Lc 1:38). Đây chính là sau khi Đức Maria đã diễn tả sự tin tưởng hoàn toàn của bà nơi Ngài mà Chúa Giêsu có thể thực hiện phép lạ do sự mong ước của bà. Bằng việc diễn tả đức tin của bà nơi Chúa Giêsu, Đức Maria đã vội vã hay đúng hơn là nhận ra trước sự đang đến của ‘Giờ của Chúa Giêsu’”. (P. LeFort, Les Structions de L’Église Militante Selon Saint Jean, Gevena 1970, p. 155).
Dĩ nhiên, câu chuyện Tiệc Cưới Cana là sự biểu tỏ vinh quang thiên tính của Chúa Giêsu với tình yêu và uy quyền của Ngài. Đây là câu chuyện của Kitô Học. Nhưng Thánh Gioan đã bắt đầu câu chuyện bằng việc nhấn mạnh đến sự tham dự và can thiệp của thân mẫu Chúa Giêsu (Ga 1: 1-2). Phải, không có Thánh Mẫu Học thì cũng không có Kitô Học. Đức Maria chính là con đường và là vị thầy để học hỏi về Chúa Giêsu Kitô như ĐGH Gioan Phaolô II đã khởi xướng trong Tông Huấn Kinh Mân Côi, Rosarium Virginis Mariae:
“Dấu lạ đầu tiên mà Đức Kitô thực hiện - biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana - rõ ràng giới thiệu Đức Maria dưới dáng vẻ của một thầy dạy, khi Đức Maria thúc giục các đầy tớ làm điều Đức Giêsu chỉ bảo: ‘Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo’ (Ga 2: 5). Chúng ta có thể tưởng tượng rằng Mẹ Maria cũng đã làm như thế đối với các môn đệ sau khi Đức Giêsu lên trời, khi Mẹ hiệp lòng hiệp ý cùng với họ mong chờ Chúa Thánh Thần và nâng đỡ họ trong sứ vụ đầu tiên của họ.” (Học Hỏi Đức Kitô từ Mẹ Maria, số 14).
Linh mục Mark Link S.J. đã ví tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì như hai đường ray xe lửa. Tìm được cái này sẽ thấy cái kia. Đức tin và tình yêu liên kết với nhau như tim với óc, như xác với hồn. Đây chính là con đường tu đức của Đức Maria như ĐGH Gioan Phaolô II đã nói, qua tình yêu mến Đức Maria, chúng ta sẽ tin vào Chúa Giêsu Kitô. Càng yêu mến Đức Maria tha thiết, đức tin của chúng ta càng trở nên sâu đậm.
MARIA SỐNG TRONG TIN YÊU
“Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: Họ hết rượu rồi.” (Ga 2: 1- 11)
Nước Ý có nhiều làng mạc rải rác khắp các chân đồi. Nghề canh nông căn bản của họ là ngành trồng nho. Rất nhiều cộng đoàn đã sống bằng nghề trồng nho và làm rượu nho. Vì thế họ đã sản xuất ra những loại rượu nho ngon nhất thế giới.
Nhưng điều đã làm cho rượu nho của mỗi làng độc đáo chính là công thức pha chế riêng tư của họ. Dân chúng trồng nho riêng, làm rượu riêng, rồi đổ rượu nho chung vào với nhau trong một cái thùng rượu bằng gỗ vĩ đại đặt ngay giữa trung tâm làng. Kết quả là họ đã xáo trộn nhiều loại rượu nho lại với nhau và làm thành một loại rượu nho thơm ngon hảo hạng.
Một năm kia, cả làng bị mất mùa nho. Một trong những nhà sản xuất rượu nho đã quyết định không muốn chia sẻ rượu nho của mình với người khác. Anh muốn bán riêng rượu của mình. Và thay vì đổ rượu của mình vào thùng rượu giữa làng, anh đã đổ nước lạnh vào, vì nghĩ rằng một chút nước lã pha trong cái thùng rượu vĩ đại thì chẳng đáng kể, không mấy ai quan tâm!
Rượu nho chứa trong thùng gỗ càng lâu càng ngon và quý. Sau khi gom lại từ dân làng, rượu được chứa trong thùng gỗ vĩ đại đến 7 năm. Cuối năm thứ 7, dân làng quy tụ nhau lại cùng với những người buôn bán rượu chuyên nghiệp khắp nơi trên thế giới tuôn về để mở thùng rượu nho ra thương lượng giá cả. Đây là một biến cố vô cùng quan trọng của dân làng, vì lợi tức của việc bán rượu là nguồn tài trợ chính của họ.
Khi thùng rượu gỗ được khui ra nếm thử thì hỡi ôi, toàn nước lã! Điều lạ lùng là dường như mọi người trong làng vào năm mất mùa đó đã có cùng một tư tưởng như nhau: đổ nước lã vào thùng làm của chung, còn rượu nho giữ lại cho riêng mình. Nguyên một thùng gỗ vĩ đại toàn nước lã, không phải rượu!
Sự ích kỷ đã không thể làm cho nước trở thành rượu. Nhưng tình yêu làm được. Tình yêu có khả năng phi thường đưa dẫn con người đến gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng Tối Cao đầy quyền uy sẽ biến nước trở nên rượu, rồi sau này, rượu thành ra máu, nuôi sống nhân loại. Đó là tình yêu của Đức Maria.
Thánh Luca diễn tả Mầu Nhiệm Nhập Thể xảy ra từ đức tin của Đức Maria, với hai tiếng “xin vâng” trong câu chuyện Thiên Thần Truyền Tin (Lc 1: 26-38). Đức tin này là hạt giống được gieo vào tâm hồn Đức Maria. Thánh Gioan đã dùng câu chuyện phép lạ biến nước trở nên rượu ở Tiệc Cưới Cana (Ga 2:1-11) để trình bày hạt giống đức tin của Đức Maria đã mọc lên như cây bám rễ sâu vào lòng đất. Rồi sau này, rượu đó sẽ trở nên máu của Người, trong Bàn Tiệc Thánh Thể và khi bị treo trên Thập Giá, bị đâm vào cạnh sườn, máu đó đã chảy ra nguồn cứu độ. Đức tin trung kiên của Đức Maria, người Mẹ Hiền Mẫu đứng bên cạnh con của mình, đã phát sinh hoa trái là ơn cứu rỗi cho nhân loại (Ga 19:25-27).
Đức Maria đã không chỉ đóng vai trò người Mẹ thể lý của Chúa Giêsu, mà còn đóng một vai trò tích cực trong công cuộc cứu rỗi nhân loại của Chúa Giêsu (Lumen Gentium đoạn 58). Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế “đem sự sống đến cho thế gian” (Lumen Gentium đoạn 53). Mẹ là “Người Phụ Nữ, bà Evà mới, Mẹ của các sinh linh, Mẹ của Chúa Kitô toàn diện” (GLCG # 726). Mẹ “đã cộng tác bằng Đức Ái của mình vào việc sinh ra các tín hữu trong Giáo Hội” (GLCG #963). Mẹ “đã can thiệp vào lịch sử nhân loại cách không thể tưởng tượng được về mặt siêu việt cũng như về mặt người phàm…” (ĐGH Gioan Phaolô II, TVNNTB, Cầu Nguyện, Sự Cầu Bầu Từ Mẫu của Đức Maria).
1- Tình yêu dẫn đến gặp gỡ Thiên Chúa:
Khởi đầu đức tin của Đức Maria là một ân huệ của Thiên Chúa trao ban (Lc 1:30). Nhưng rồi đức tin đó đã tăng trưởng trong cuộc đời của Đức Maria qua sức mạnh của tình yêu, tình mẫu tử sâu đậm của một người mẹ. Hẳn không ai biết người con bằng người mẹ. Bởi mẹ con thường thông tri với nhau bằng cả sự sống, tâm trí và linh hồn.
Ngành Y Khoa tân tiến hiện nay đã chứng minh cho công chúng trông thấy ngay trên màn ảnh truyền hình: một thai nhi có đủ mắt, mũi, tai, miệng… đã lộ nét mặt tươi cươi khi nghe mẹ nó cười, và tỏ ra sợ hãi, khi nghe mẹ nó giận dữ. Ngay từ trong lòng mẹ, đứa trẻ đã quen thuộc với tiếng nói của mẹ nó. Khi chào đời, khi đau, khi đói, khi khóc, khi buồn ngủ... nhờ tiếng mẹ ru êm đềm, vỗ về, đem lại cái tình cảm trìu mến. Đứa trẻ lớn lên về tinh thần lẫn thể xác qua sự liên hệ gắn bó chặt chẽ với người mẹ.
Những nhà tâm lý xã hội học ngày nay đều công nhận rằng có những thiệt thòi và bất thường tâm lý xảy ra nơi những trẻ em mồ côi, những trẻ em của các cha mẹ ly dị, hay các cha mẹ phải đi làm vất vả, không có đủ thời giờ trực tiếp săn sóc và giáo dục các em! Bảo đảm rằng Đức Maria đã không gửi Chúa Giêsu vào nhà trẻ hay trao cho bất cứ người vú nuôi nào coi sóc!
Sự gắn bó chặt chẽ giữa cha mẹ và Hài Nhi Giêsu ở Nagiarét trong thời ẩn dật được Thánh Kinh ghi rõ là: “Còn Hài Nhi, ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2:40). Chỉ có một biến cố xẩy ra khi Giêsu lên 12 tuổi, ở lại trong đền thờ ba ngày, đàm đạo với các thầy Do Thái, nhưng sau đó “Người trở về Nagiarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2:51). Còn Đức Maria, Mẹ Người thì “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2:51).
Dựa vào các dữ kiện trên cho chúng ta biết rằng Đức Maria, Mẹ của Hài Nhi Giêsu hằng linh cảm được sự siêu việt nơi con của mình. Điều này được Gioan diễn tả khá rõ ràng trong Tiệc Cưới Cana: “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: ‘Họ hết rượu rồi.’” (Ga 2:3). Đa số các nhà chú giải Thánh Kinh đều đồng ý rằng câu nói này có tính cách yêu cầu một điều gì hơn là chỉ diễn tả một sự kiện!
Ở cuối câu chuyện Gioan nói: “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilêa và bày tỏ vinh quang của Người.” (Ga 2:11). Chúa Giêsu chưa làm phép lạ bao giờ, như vậy làm sao Đức Maria biết được Chúa Giêsu có uy quyền mà bày tỏ? Đây chính là do cảm nghiệm nội tâm, cái linh cảm, dẫn tới sự tin tưởng của một người mẹ. Người mẹ sống rất gắn bó với người con, nên luôn nhậy cảm với bất cứ sự gì có liên quan đến đời sống và số phận của con mình.
Tình yêu tưới gội cho hạt giống đức tin phát triển và hoa trái là phép lạ đã xảy ra. Đọc tiểu sử cuộc đời của các thánh cũng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa thường tự thông tri chính Ngài cho những linh hồn nào có trái tim cầu nguyện, tâm tình đạo đức, và những tình cảm yêu thương khao khát muốn tìm kiếm Ngài. Những tình cảm thánh thiện này dẫn đưa con người vào sự hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa.
Chẳng hạn Thánh Tâm Chúa Giêsu đã được mặc khải ra cho Thánh Nữ Magarita. Lòng Thương Xót Chúa mặc khải cho Thánh Nữ Maria Faustina một trong những đoạn như sau: “Ngày 30 tháng 11 năm 1936, Mẹ Thiên Chúa đã dạy tôi chuẩn bị cho ngày đại lễ Giáng Sinh… Mẹ phán bảo tôi: Con gái của Mẹ, con hãy nỗ lực sống thinh lặng và khiêm tốn đến với Chúa Giêsu, Đấng liên lỉ ngự trong linh hồn con... Mẹ sẽ xin cho con ơn giữ được đời sống nội tâm đến độ con sẽ không bao giờ ra khỏi đời sống ấy… Con hãy liên lỉ ở lại với Người nơi tâm hồn con.” (Nhật Ký, Lòng Thương Xót Chúa Nơi Linh Hồn Tôi, số 785).
2- Tình yêu đối với nhân loại:
Đức Maria yêu cầu Chúa Giêsu làm phép lạ để làm gì? Để giúp cho chủ nhà hay để Chúa Giêsu biểu tỏ tình yêu và uy quyền của Ngài cho nhân loại biết?
Chúa Giêsu đã trả lời Mẹ Người rằng: “Giờ của con chưa đến “ (Ga 2:4). Cũng câu này ở Ga 7: 6, Chúa Giêsu đã dùng để trả lời cho những người anh em họ hàng. Họ yêu cầu Ngài làm phép lạ để chứng tỏ Ngài là Đấng Thiên Sai. Chúa đã từ chối không làm vì họ thiếu đức tin! Vì thiếu niềm tin nên họ đã yêu cầu Ngài biểu tỏ. Còn Đức Maria, vì hoàn toàn tin tưởng nên mới yêu cầu!
Bởi đức tin Đức Maria đã biết Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, và nghĩ rằng giây phút đã điểm cho Ngài biểu tỏ sự hiện diện của Ngài với nhân loại. Lời yêu cầu của Đức Maria đóng góp vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa vì tình yêu thương nhân loại. Do đó Chúa Giêsu đã làm phép lạ. Một phép lạ vĩ đại với số lượng rượu quá lớn lao, sáu chum đá rượu, khoảng 720 lít.
Nếu chỉ nhằm giúp cho gia chủ thiếu rượu đãi khách, họ đâu cần nhiều đến thế! Phép lạ hóa bánh ra nhiều ở Ga 6:1- 15 cũng xảy ra giống như vậy. Số bánh, rượu, dư thừa và phong phú là biểu tượng của thời đại Đấng Thiên Sai đã đến. Thật phù hợp với lời Cựu Ước đã nói tiên tri về rượu trong thời đại Thiên Sai (Am 9:13-14; Ge 2:24; 3:18).
Nhưng chúng ta cũng công nhận rằng Đức Maria rất tế nhị và có lòng thương gia chủ vì họ nghèo, nên đã gặp khó khăn thiếu rượu. Đối với phong tục của người Trung Đông, tiệc cưới không đủ rượu cho khách là một sự sỉ nhục lớn cho đôi tân hôn. Dứt khoát là mất vui! Đức Maria sống ở Nagiarét cũng rất nghèo, nên thông cảm với hoàn cảnh của những người nghèo. Tuy nhiên, tình thương này chỉ là cơ hội cho một mục đích vĩ đại và cao cả hơn, tình yêu đối với sự cứu rỗi của toàn thể nhân loại.
3- Tình yêu đối với Các Tông Đồ:
Thánh Gioan kể phép lạ nước biến thành rượu ở tiệc cưới Cana ngay sau việc Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên
đi theo Ngài. Đó là các ông Phêrô, Anrê, Philípphê và Nathanaen (Ga 1:35 -51).
Chắc chắn không phải chỉ vì mình mà Đức Maria yêu cầu phép lạ! Đức tin của Đức Maria không cần đến phép lạ. Đây chính là để củng cố đức tin của các Tông Đồ đầu tiên vừa mới đi theo Chúa Giêsu, Ngài đã dẫn họ đến dự tiệc cưới. Niềm tin của họ còn rất yếu đuối, dễ bị lung lạc. Vì thế, để kết thúc câu chuyện Thánh Gioan đã viết: “Các môn đệ đã tin vào Người” (Ga 2:11). Gioan không nói đến đức tin của Đức Maria, vì hiểu rằng Đức Maria đã có đức tin rồi. Ở đây, Gioan đồng tình với Luca, từ khởi điểm của Mầu Nhiệm Nhập Thể cho tới khi bắt đầu Sứ Vụ Công Khai của Chúa Giêsu: Đức Maria đã tin tưởng trước tất cả các Tông Đồ. Đức tin của Đức Maria đã khơi nguồn và dẫn dắt niềm tin của các Tông Đồ vào Chúa Giêsu.
4- Đức Tin gặp thử thách:
Thế nhưng, đức tin của Đức Maria không phải là một đức tin yên tĩnh, an bình, không gặp thử thách. Tại Tiệc Cưới Cana, cũng như lúc Thiên Thần Truyền Tin, đức tin đó gặp thử thách sóng gió.
“Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến.” (Ga 2:4). Rõ ràng, câu trả lời của Chúa Giêsu có vẻ không chú ý đến lời yêu cầu của Mẹ Người. Các nhà chú giải đã đồng ý rằng Chúa Giêsu đã gọi Mẹ Người là “Thưa bà”, một tiếng gọi rất kính trọng của thời Tân Ước. Tiếng gọi dành cho bà “Evà Mới”. Nhưng câu trả lời hơi lạ tai. Không có một người con nào trả lời với mẹ như vậy bao giờ!
Thực ra, Chúa Giêsu nói “Giờ của con chưa đến” để ám chỉ về cuộc thương khó và sống lại của Người, được coi như là cao điểm của thời đại Thiên Sai. Nhưng liệu tại Tiệc Cưới Cana, Đức Maria có hiểu được như vậy không? Dù sao, Đức Maria cũng đã chịu vâng phục hoàn toàn theo Thánh Ý của Thiên Chúa mà không cãi lại khi nói với giai nhân rằng: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2:5). Phải tin tưởng lắm Đức Maria mới quả quyết như vậy!
Một tác giả Tin Lành đã viết như sau: “Chúng ta phải cố gắng hiểu câu nói của Đức Maria với các đầy tớ ở tiệc cưới: ‘Người bảo gì các anh cứ việc làm theo’. Đây thường được coi như một linh tính tiên đoán rằng con của bà sắp làm một việc gì. Chẳng lẽ lại không đúng hơn để hiểu lời này như một hành động của sự tin tưởng nơi Chúa Giêsu? Bà đã đặt hoàn toàn tin tưởng nơi Ngài mà chẳng lẽ lại không hiểu điều Chúa Giêsu ám chỉ về ‘Giờ của Ngài’ và điều Ngài sắp làm. Đây là thái độ của đức tin giống như Luca diễn tả: ‘Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói’ (Lc 1:38). Đây chính là sau khi Đức Maria đã diễn tả sự tin tưởng hoàn toàn của bà nơi Ngài mà Chúa Giêsu có thể thực hiện phép lạ do sự mong ước của bà. Bằng việc diễn tả đức tin của bà nơi Chúa Giêsu, Đức Maria đã vội vã hay đúng hơn là nhận ra trước sự đang đến của ‘Giờ của Chúa Giêsu’”. (P. LeFort, Les Structions de L’Église Militante Selon Saint Jean, Gevena 1970, p. 155).
Dĩ nhiên, câu chuyện Tiệc Cưới Cana là sự biểu tỏ vinh quang thiên tính của Chúa Giêsu với tình yêu và uy quyền của Ngài. Đây là câu chuyện của Kitô Học. Nhưng Thánh Gioan đã bắt đầu câu chuyện bằng việc nhấn mạnh đến sự tham dự và can thiệp của thân mẫu Chúa Giêsu (Ga 1: 1-2). Phải, không có Thánh Mẫu Học thì cũng không có Kitô Học. Đức Maria chính là con đường và là vị thầy để học hỏi về Chúa Giêsu Kitô như ĐGH Gioan Phaolô II đã khởi xướng trong Tông Huấn Kinh Mân Côi, Rosarium Virginis Mariae:
“Dấu lạ đầu tiên mà Đức Kitô thực hiện - biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana - rõ ràng giới thiệu Đức Maria dưới dáng vẻ của một thầy dạy, khi Đức Maria thúc giục các đầy tớ làm điều Đức Giêsu chỉ bảo: ‘Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo’ (Ga 2: 5). Chúng ta có thể tưởng tượng rằng Mẹ Maria cũng đã làm như thế đối với các môn đệ sau khi Đức Giêsu lên trời, khi Mẹ hiệp lòng hiệp ý cùng với họ mong chờ Chúa Thánh Thần và nâng đỡ họ trong sứ vụ đầu tiên của họ.” (Học Hỏi Đức Kitô từ Mẹ Maria, số 14).
Linh mục Mark Link S.J. đã ví tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì như hai đường ray xe lửa. Tìm được cái này sẽ thấy cái kia. Đức tin và tình yêu liên kết với nhau như tim với óc, như xác với hồn. Đây chính là con đường tu đức của Đức Maria như ĐGH Gioan Phaolô II đã nói, qua tình yêu mến Đức Maria, chúng ta sẽ tin vào Chúa Giêsu Kitô. Càng yêu mến Đức Maria tha thiết, đức tin của chúng ta càng trở nên sâu đậm.