Bông Hồng 25 - MARIA và Đức Chúa Thánh Thần.

THỨ BA

ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

“Khi đến ngày Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho.” (Cv 2:1-4).

Sách Công Vụ Tông Đồ diễn tả về sự kiện Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống qua những biểu tượng của lửa và gió ngự trên các Thánh Tông Đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần. Lửa và gió (GLCG #691, 696) mang một sức mạnh vô hình biểu tượng cho sự hoạt động của Chúa Thánh Thần. Đó là những nguồn năng lượng vật chất vô cùng phong phú, không bao giờ cạn, và luôn mới mẻ để diễn tả về các ơn lành của Chúa Thánh Thần.

Trong buổi học hỏi Lời Chúa bàn về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, một phụ nữ đã diễn tả cảm tưởng như sau: “Tôi phải nói thật với các bạn rằng Chúa Thánh Thần là kinh nghiệm gần gũi nhất của tôi về Thiên Chúa. Kinh nghiệm của chúng ta về Thần Khí giống như đeo cặp mắt kính. Lần duy nhất chúng ta thực sự nhìn vào cặp mắt kính là khi chúng ta đi tìm kiếm nó. Những cặp mắt kính không phải là để được trông thấy cho có vẻ trí thức hay đẹp, nhưng là để được nhìn thấy qua chúng, để đọc được chữ, xem thấy hình ảnh trên ti vi… Chúng đóng vai trò tốt nhất khi chúng ta không chú ý tới chúng. Chúng ta quan sát chúng kỹ lưỡng để lấy đi những vết đốm dơ bẩn trên đôi mắt kính. Nhưng khi cặp mắt kiếng được đặt nằm thoải mái trên sống mũi rồi, chúng ta không còn ý thức về chúng nữa. Công việc tốt nhất được thực hiện khi, qua chúng, chúng ta có thể xem thấy phim ảnh hay đọc được chữ. Chúng ta không nhìn thấy đôi kính khi mang chúng trên mắt, nhưng khi mang chúng vào chúng ta nhìn thấy sự vật. Đức Chúa Thánh Thần cũng giống như vậy. Đi tìm kiếm Chúa Thánh Thần và phàn nàn rằng chúng ta không tìm thấy Ngài thì giống như than phiền rằng chúng ta không nhìn thấy cặp mắt kiếng đang khi đeo chúng trên mắt.”

Chúng ta lãnh nhận ơn lành của Chúa Thánh Thần khi chịu Phép Rửa Tội, Thêm Sức và các bí tích khác để sống xứng đáng là con cái của Thiên Chúa suốt cuộc đời (GLCG #1087, 1120). Đồng thời, sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần còn được ghi nhận qua những ơn đoàn sủng khác nhau, trong những vai trò và tác vụ riêng, vì ích lợi của đời sống gia đình, cộng đoàn, và Giáo Hội (Tông Thư Tertio Millennio Adveniente, số 45).

Thần học gia Karl Rahner, trong cuốn Pfingten entgegengehen, Freiburg, Basel, Wien 1986, tr. 86, đã viết lại những kinh nghiệm cá nhân về sự hoạt động của Chúa Thánh Thần tùy theo những hoàn cảnh của mỗi người:

“Khi nhận lãnh trách nhiệm và chu toàn tới nơi tới chốn. Và cả khi làm việc mà không nhìn thấy kết quả. Khi cảm thấy sự thong dong tự do của mình khộng bị giới hạn. Khi phải chấp nhận trong giờ phút đen tối sợ hãi như bước khởi đầu cho một giai đoạn được chúc phúc, mặc dù không hiểu nổi sự việc đã, đang và sẽ đến. Khi bình thản chấp nhận thất vọng trong đời sống hằng ngày xảy đến, dù phải chịu đựng tới cùng sức. Khi kiên nhẫn cầu nguyện trong thinh lặng, trong u tối, vì tin rằng thế nào cũng được nhận lời, mặc dù không có dấu hiệu thấy hiệu quả của lời cầu xin kêu khấn. Khi chấp nhận từ bỏ không có điều kiện gì, vì tin rằng chính sự từ bỏ mang lại chiến thắng thật sự cho đời sống. Khi trong cuộc sống hằng ngày bình thản và sẵn sàng chấp nhận sự rủi ro bất trắc xảy đến. Và còn rất nhiều cảnh huống trong đời sống mỗi người… Tất cả những điều đó là ân đức của Thiên Chúa. Ân đức này người Kitô hữu chúng ta gọi là ơn của Đức Chúa Thánh Thần.” (VietCatholic News 29/5/2004. Lm Nguyễn Ngọc Long dịch).

Phúc Âm đã diễn tả ơn Chúa Thánh Thần xuống trên Đức Trinh Nữ Maria qua hai sự kiện rất quan trọng: lúc Ngôi Lời Nhập Thể và Sinh Nhật của Giáo Hội.

1- Ngôi Lời Nhập Thể:

Những khó khăn trong sự liên hệ giữa thánh Giuse và Đức Maria được Mátthêu giải quyết như sau: “Trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:18), với lời xác nhận của thánh Giuse: “người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:20). Trong Phúc Âm Luca, những thắc mắc và lo âu của Đức Maria về việc mang thai được giải quyết êm đẹp vì “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1:35).

Như vậy, chính do hiệu quả hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi Đức Maria mà Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa xuống thế làm người đã được thực hiện. Qua ơn Chúa Thánh Thần này, Đức Maria cũng đã dưỡng dục Người, đã khích lệ Người trong sứ vụ rao giảng công khai, đã đứng dưới chân thập giá, đã tin tưởng Người sẽ Phục Sinh. Trong vai trò làm Mẹ Đấng Cứu Thế, một vai trò rất vinh phúc như sứ thần đã nói: “Kính chào Đấng đầy ơn phúc” (Lc 1:28), nhưng cũng là một trách nhiệm rất nặng nề, tự sức mình Đức Maria không thể nào thực hiện nổi “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết…” (Lc 1:34). Đức Maria đã hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chu toàn sứ mạng Thiên Chúa đã trao ban. Thật là một sự nghiệp cao quý, một vai trò lớn lao!

2- Sinh Nhật của Giáo Hội:

Đối với Đức Maria, biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Mẹ đã xảy ra lần thứ hai, khi Đức Maria quy tụ Giáo Hội lại để xúc tiến các nỗ lực truyền giáo. Sách Công Vụ Tông Đồ đã ghi lại vai trò quan trọng của Đức Maria đối với Giáo Hội Sơ Khai như sau: “Tất cả các tông đồ đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu, và với anh em của Đức Giêsu” (Cv 1:14).

Đức Maria và các Tông Đồ đã được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong tinh thần cầu nguyện và biết lắng nghe như lời Chúa Giêsu đã nói: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.” (Ga 14: 26; Lc 12:12).

Nếu không có tinh thần cầu nguyện, Chúa Thánh Thần không thể hướng dẫn chúng ta được. Việc dạy dỗ đòi hỏi phải biết lắng nghe, nếu không chịu nghe, Chúa Thánh Thần cũng không thể dạy bảo chúng ta được. Trong thời đại đề cao quyền tự do dân chủ và phong trào đấu tranh cho quyền của phụ nữ thường rơi vào những cực đoan quá khích, thiếu tinh thần cầu nguyện và biết lắng nghe. Đức Maria là một tấm gương sáng ngời cho chúng ta noi theo để được tràn đầy ơn phúc và luôn sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Qua Kinh Mân Côi này, chúng ta hãy dùng lời khuyên của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong tông thư Tiến Tới Thiên Niêm Kỷ Thứ Ba để suy niệm như sau:

“Đức Maria, Đấng thụ thai Ngôi Lời Nhập Thể nhờ Thánh Thần, và là Đấng đã tiếp tục phó thác trọn cuộc sống mình cho tác động của Thánh Thần, sẽ được chiêm ngắm và noi gương đặc biệt… vì Mẹ là người phụ nữ trung thành với tiếng nói của Thánh Thần, một phụ nữ biết thinh lặng và lắng nghe, một người phụ nữ biết hy vọng, biết đón nhận Thánh ý Thiên Chúa, như Abraham, “vẫn hy vọng dù xem ra chẳng có gì để hy vọng” (Rm 4:18). Mẹ đã mặc lấy trọn vẹn tâm tư của những người nghèo của Chúa, trở thành mẫu gương chói ngời cho những ai đặt trọn niềm tin thác vào các lời hứa của Thiên Chúa.” (Tertio Millennio Adveniente, số 48).