CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN. C

XIN CHÚA BIẾN ĐỔI LÒNG CON

(Lc 18, 9-14)
  • Tuần này chúng ta tiếp tục đề tài cầu nguyện, nhưng nhìn từ khía cạnh khác. Tuần trước, kiên trì nài nỉ. Tuần này thái độ, trong dụ ngôn người thu thuế và người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện. Nhìn chung, câu chuyện thật buồn và mang tính cảnh giác cao, không nên tự mãn kể công, nhưng phải chân thật thú nhận tội lỗi tự đáy tâm can.
Thưa quý vị,

Người biệt phái trong Tin Mừng hôm nay dự tính bắt bí Đức Chúa Trời. Trong lời cầu nguyện, ông ta khoe với Ngài là ông ta vượt xa người Do thái khác về lòng đạo đức. Theo luật lệ thì chỉ buộc ăn chay trong ngày đền tội (the Day of Atonement). Nhưng ông ăn chay một tuần hai ngày. Cũng theo luật lệ thì người Do Thái chỉ buộc nộp thuế thập phân trên súc vật và thực phẩm quý báu. Đằng này, ông nộp trên mọi thu nhập của gia đình. Như thế không những ông nộp thuế để duy trì đền thờ, các hoạt động tôn giáo mà còn góp phần vào công việc từ thiện, bác ái. Ai có thể chê bai ông được? Cứ theo tiêu chuẩn ngày nay thì chúng ta phải xếp ông vào bậc ân nhân trong giáo xứ, đáng nêu gương cho tín hữu khác noi theo. Nhưng khi ra khỏi đền thờ lại bị Chúa Giêsu đánh giá không được nên “công chính” như người thu thuế. Vì ông đã đi sai con đường Ngài muốn. Tức con đường chân thật mà mọi người phải có trước mặt Đức Chúa Trời. Ông đã tự lừa dối khi cầu nguyện. Ông đã nâng mình lên làm gương mẫu cho người khác, trong khi trước mặt Giavê mọi người chỉ là tội nhân, phải khiêm nhường ăn năn thống hối.

Câu chuyện thật đáng sợ, làm các tín hữu năng đi nhà thờ phải nổi da gà, sởn tóc gáy, lạnh xương sống. Bởi chúng ta cũng hành động như ông Biệt phái, cũng bỏ tiền rộng rãi vào giỏ lạc quyên, cũng đóng góp to lớn vào quỹ xây dựng thánh đường, các công trình nhà xứ, các hội từ thiện bác ái. Hơn nữa chúng ta cũng từng xung phong trong các công việc chung. Vậy thì còn thiếu điều chi? Thực tế chúng ta đã được hàng xứ công nhận, chiếm được lòng tin cậy của họ và có thể là chỗ dựa cho nhiều người. Tất cả đều là gương mẫu. Vậy mà dụ ngôn hôm nay vẫn ám chỉ về chúng ta, vẫn làm cho chúng ta nao nao. Cho nên cần xem lại cách sống đạo của mình, thái độ của mình đối với người khác, nhất là các động lực thúc đẩy mình thi hành bổn phận đạo đức. Chúng ta gia nhập đoàn hội nhằm mục tiêu nào? Để tiến bộ thiêng liêng hay để khoe khoang, dùng người khác như bàn đạp ngõ hầu đạt tới danh vọng, địa vị, tiền tài. Xin hãy suy nghĩ kỹ hơn về ý nghĩa dụ ngôn, để nó soi sáng mình, nhất là tâm hồn cầu nguyện của mình.

Trước hết, một vài lời bênh vực ông Biệt phái. Trong xã hội Do Thái lúc ấy, các Biệt phái là những cột trụ đức tin trong đạo Môsê. Tình hình chính trị thì rõ ràng dân chúng phải sống khốn đốn dưới sự cai trị của người La- mã, và ảnh hưởng nặng nề của văn hoá ngoại lai, vô đạo. Nhiều ngươi Do Thái đã thoái hoá, lơ là lề luật tôn giáo, chạy theo nếp sống xa hoa vật chất, tương tự như một bộ phận tín hữu trong các đô thị lớn của chúng ta ngày nay. Việc giữ đạo của họ thực chất chỉ còn cái vỏ bên ngoài, bên trong là tiền bạc, dục vọng, tham sân si nặng nề. Trong bối cảnh đó, đảng Biệt phái quả là can đảm, đáng khâm phục, bởi họ sống chống lại trào lưu, tuân giữ lề luật Môisê, truyền thống của cha ông một cách nghiêm ngặt. Như vậy đáng lẽ họ được Chúa Giêsu yêu mến, lượng giá cao. Nhưng thực tế lại bị Chúa chê bai. Người Biệt phái trong dụ ngôn xem ra vượt xa lòng đạo đức của người tín hữu Do thái tốt, nhưng lại làm sai lạc ý nghĩa về Thiên Chúa và không biết trái tim Giavê nằm ở đâu. Chúa Giêsu chỉ cho ông (và cả chúng ta) trái tim Ngài nằm ở con người thu thuế hối cải. Rõ ràng hợp lý cách lạ lùng, không ai có thể tưởng tượng tới được. Xin lưu ý tính khoe khoang trong lời cầu nguyện của người Biệt phái, Phúc âm mô tả: “Ông ta đứng thẳng nguyện thầm rằng: Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” Ông ta đâu có cầu nguyện, ông kể công trước mặt Đức Chúa Trời. Lời cầu của ông không hướng về Thiên Chúa, không mở lòng ra cho Ngài, không xin ơn tha thứ tội lỗi mà ông đã xúc phạm rất nhiều trong quá trình sống. Ông khoe mình và các việc lành ông đã thực hiện, ông kiêu ngạo, chỉ thích nghe kể về mình, bằng lòng với nếp sống “đạo đức” của mình, khinh dễ kẻ khác, cái nhìn của ông ta không thoát khỏi bản thân, tức trệch hướng. Chính ra ông phải nhìn lên Thượng đế để nhận ra lòng thương xót của Ngài trên bản thân ông. Đây cũng là cái lỗi chung của mọi tín hữu. Chúng ta thường xuyên không tạ ơn, ca ngợi Thiên Chúa khi cầu nguyện mà chỉ tập trung về mình, cầu xin cho các nhu cầu của mình hay của thân nhân, trong khi chính yếu chúng ta phải xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến… như Chúa Giêsu đã dạy trong kinh Lạy Cha.

Một trong các lý do cầu nguyện là để lắng nghe tiếng Chúa nói trong linh hồn, lay động chúng ta khỏi u mê, say đắm thế gian. Tức cầu nguyện để thay đổi mình, làm cho mình ý thức hơn về lòng thương xót của Chúa. Đấng đã kiên nhẫn tha thứ cho mình rất nhiều. Từ đó chúng ta rộng lòng cảm thông và tha thứ cho người khác. Họ cũng đang vật lộn để thay đổi bản thân. Người Pharisêu không nhận ra được giới hạn của mình, hay của nhân loại nói chung. Ông đã không nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa bao la, sẵn sàng tha thứ cho những ai thật lòng sám hối. Cho nên ông đã vội vàng phán đoán sai lệch về người thu thuế. Trong khi đó người thu thuế ý thức được mình tội lỗi, cần đến Thiên Chúa xót thương, giúp đỡ mình thoát khỏi tình trạng khốn khó. Ông không thể tự thân thoát ra khỏi ngục tù. Ông cầu xin Giavê tha thứ. Tâm trí ông hướng về trời cao, chứ không về mình, tin tưởng Thiên Chúa sẽ ra tay cứu giúp. Và bởi vì cầu nguyện thay đổi con người, cho nên hậu quả của hai người khác nhau. Người Pharisêu ở trong tình trạng cũ, không đổi thay. Người thu thuế trở về nhà thì được nên công chính. Ông đã ở trong tương giao hợp lý với Thiên Chúa. Mắt ông đã được mở rộng. Trái lại, người Biệt phái vẫn còn trong u tối của mình. Đây là bài học lớn cho mỗi tín hữu. Khi cầu nguyện chúng ta phải thay đổi, không đổi thay kể như không cầu nguyện. Câu nói của Chúa Giêsu chỉ rõ như vậy: “Người này khi trở xuống mà về nhà, thì được nên công chính rồi, còn người kia thì không”. Tức là ông vẫn y nguyên như cũ, vẫn tự lừa dối mình trong đường “thánh thiện” luật định, không thay đổi chi cả. Các tác giả chú giải thánh kinh đều đồng ý như vậy. Ví dụ J. Pirot viết bằng tiếng Pháp: “C’est-à-dire dans l’illusion de sa propre justice” (nghĩa là trong ảo tưởng về sự công chính riêng của mình) chứ không phải là sự công chính Đức Chúa Trời mặc cho nhờ bửu huyết của Chúa Giêsu. Nói cách khác, chưa được Chúa thương xót tha tội. Cho nên việc cải hoá khi nguyện cầu là tối quan trọng cho người tín hữu, bất kỳ là ai, giáo dân hay các đấng, các bậc tu sĩ, linh mục.

Thường thường, sau khi chữa lành một ai, Chúa Giêsu tuyên bố: “Lòng tin của ngươi đã chữa ngươi.” Như vậy đức tin là căn bản cho người ta nhận được ơn lành. Nó cho phép chúng ta tin cậy vào sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng Thiên Chúa về phe với mình. Ngài muốn cho chúng ta được lành mạnh. Tuy nhiên trong câu chuyện hôm nay, người thu thuế được Chúa thương tha thứ. Cuộc đời ông thay đổi lớn lao trong tâm hồn, nhưng chẳng có dấu chỉ nào bên ngoài. Khi hai người bước ra khỏi đền thờ, dáng điệu họ hoàn toàn giống như lúc họ tới. Thiên hạ vẫn trông thấy họ như ngươi bình thường. Ông Biệt phái vẫn đạo mạo, được dân chúng kính nể, ông về nhà ăn chay hai ngày một tuần, thứ hai và thứ sáu, nộp thuế thập phân rộng rãi trên nguồn lợi gia đình, giữ nghiêm ngặt các luật lệ tôn giáo. Còn người thu thuế, có lẽ cũng vẫn như trước. Nhưng chúng ta có thể dự đoán ông đã thay đổi nếp sống, tin tưởng rằng mình đã được Thiên Chúa thứ tha. Hạnh kiểm của ông khá hơn, đối xử với vợ con, tha nhân hiền hậu hơn theo tiêu chuẩn của lòng Chúa xót thương mà ông đã nhận được. Phúc âm không kể ra điều này, tất cả những chi chúng ta biết được là bề ngoài ông không thay đổi, vẫn bị đồng bào khinh bỉ như kẻ thu thuế tội lỗi. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã tuyên bố ông được công chính hoá, làm bạn hữu với Thiên Chúa, ở trong tương giao tốt lành với Ngài.

Căn cứ vào lời cầu nguyện của hai người, chúng ta nhận ra được sự khác biệt, nêu rõ tâm trạng của từng nhân vật trước tôn nhan Thiên Chúa. Người Biệt phái nói: “Tôi xin tạ ơn Chúa, tôi không như bao kẻ khác, tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của tôi”. Tất cả 5 chữ tôi, một sự khoe khoang không thể tưởng tượng, ông làm chủ lời cầu nguyện của mình. Còn người thu thuế khiêm nhường hơn, lời cầu xin của ông rất ngắn, chỉ vỏn vẹn như sau: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Ông không làm chủ mà chỉ là kẻ thụ ơn lòng xót thương của Thiên Chúa. Ông mở rộng lòng ra để đón nhận tình yêu Thiên Chúa vào lòng. Hai tâm trạng trái ngược nhau. Người Biệt phái bộc lộ mình là người tự cao, tự đại, điều khiển cuộc sống theo ý mình, là chủ trong tương giao với Thiên Chúa, không có chỗ cho Ngài hành động trong sinh hoạt của mình. Chúa Giêsu không ưa thái độ này, Ngài năng nêu tên họ như kẻ giả hình. Tôi đếm trong Phúc âm tất cả 15 lần: “Khốn cho các ngươi, hỡi những người Pharisêu và ký lục, các ngươi giả hình,…. (Lc 11,42). Trong cuộc sống riêng tư, có lẽ chúng ta vẫn thường mắc phải não trạng biệt phái, vụ hình thức, ích kỉ và tham lam. Bởi lẽ chất liệu để làm nên biệt phái vẫn còn đầy ắp trong Giáo Hội. Phải khó khăn lắm mới có thể lương thiện với ơn gọi của mình. Chúng ta cần Lời Chúa để gọt giũa tâm hồn. Vì Lời Ngài giải phóng ta khỏi lầm lạc, tự kiêu, ảo tưởng. Thực sự, đây là lúc chúng ta phải tỏ ra thành thật với chính mình và nhận ra ý định của Thiên Chúa muốn tưới gội ơn lành cho chúng ta, nhờ sự dẫn dắt của dụ ngôn hôm nay. Chúng ta luôn thất bại về luân lý trước mặt Thiên Chúa, không sống đúng với chương trình Ngài dự định cho mình! Vậy không thể nhận vị trí của người Biệt phái được: “Tôi không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình hoặc như tên thu thuế kia”. Câu thành ngữ thêm vào: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Thánh Luca đã nhắc đến một trường hợp khác, tức dụ ngôn các khách mời dự tiệc cưới (14,15). Thánh Matthêu viết khác đi một chút: “Những kẻ đứng trước tiên sẽ phải xuống hạng chót và kẻ hạng chót sẽ được lên hàng đầu.” Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can, sẽ lượng giá chúng ta theo tiêu chuẩn của Ngài, chứ không phải của thế gian. Ngài thấu rõ mọi hành động của chúng ta là do tư tưởng thực sự nào, chứ không phải dáng vẻ bên ngoài.

Do đó, xin thành thực với chính mình trước Thánh thể trong thánh lễ hôm nay. Chẳng một ai trong chúng ta là hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa. Thánh thể không phải là chỗ để chúng ta lừa dối mình, sống trong ảo tưởng, vụ lợi mà là nơi để bày tỏ tấm lòng thành thật, lương thiện. Chúng ta đến trước mặt Chúa là để xin ơn tha thứ tội lỗi, ca tụng lòng thương xót của Ngài. Ngài ban lương thực để trợ giúp chúng ta thay đổi cuộc sống cho am hợp với đường lối Phúc âm hơn. Mặc dù bề ngoài không có chi đổi thay. Nhưng lương tâm được Ngài thanh luyện, dẫn dắt, trên con đường thánh thiện thực sự. Nhờ đó các hành vi bên ngoài có sự tiến bộ. Chúng ta sẽ trở nên lương thiện, ngay chính, bác ái, công bằng hơn. Bớt đi nhưng thói giả hình, lường gạt, quanh co, những tính hư nết xấu; rượu chè say sưa, ươn lười, hưởng thụ, ghen tương,… Nguyên do là bởi lúc này Thiên Chúa là chủ thể các lời cầu nguyện của chúng ta, chứ không phải đứng nghe chúng ta khoe khoang thành tích. Chúng ta sẽ là kẻ thụ hưởng ơn lành biến đổi, giống như người thu thuế trở về nhà được nên công chính. Có lẽ đó là ước nguyện của mọi tín hữu ngày nay vậy. Amen.