NHÌN LÊN ẢNH MẸ (4)

(TIẾP THEO VÀ HẾT)

ÁNH MẮT ĐỨC MẸ LỘ-ĐỨC

Bà Chow Ching Lie sinh năm 1936 tại Thượng Hải, đến Paris năm 1964 để trình diễn đàn dương cầm và đã chiếm giải nhất tại Hàn Lâm Viện Am Nhạc Marguerite Long. Bà là một Phật tử mộ đạo đã đến viếng Lộ Đức năm 1965. Vào năm đó bà cùng con gái là Juliette đến định cư ở Paris nhưng ông nhạc của bà nhất định giữ dứa con trai của bà là Paul ở lại Trung Quốc để nối dỏi tông đường vì ba nó đã qua đời.

Một thời gian sau bà có dịp đi Tây Ban Nha và trên chặng đầu tiên, bà đã ghé lại để viếng Lộ Đức, vì khi nói đến nước Pháp thì trước tiên người ta nghĩ đến Paris và sau đó là Lộ-Đức. Bà vốn là một Phật tử thuần túy và giữ các giới cấm rất nghiêm túc. Dù là một Phật tử rất thuần thành, bà hết sức sung sướng và hạnh phúc khám phá những nơi chốn linh thiêng đối với người Công giáo.

Bà đến Lộ-Đức vào dịp tháng tám, khách hành hương và du khách đông đúc chen chân không lọt vì đây là dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Mọi người mua hoa dâng cúng Đức Mẹ nhưng bà không mua vì hoa quá đắt, hơn nữa bà là một Phật tử.

Khi lần đến gần tượng Đức Mẹ, bất thình lình bà nhìn lên, ánh mắt hiền từ Đức Mẹ nhìn bà, một ánh mắt đầy yêu thương, hết sức dịu hiền. Tự nhiên bà quì gối dưới chân Mẹ hiền, như một đứa bé đang gục đầu vào lòng mẹ thỗn thức, với nước mắt tuôn trào. Bà đã vội vàng mua bó hoa hồng trở về tượng đài dâng lên Đức Mẹ với tất cả tâm tình yêu thương.

Bà không biết đọc kinh như người Công giáo và cũng không thể tụng kinh như một Phật tử được. Bà chỉ xin Đức Mẹ thương giúp cho con trai được đoàn tụ với bà. Bà có không biết bao nhiêu tâm sự để tỏ bày với Đức Mẹ, nhưng bà nói không nên lời. Bà đã kiệt sức và phải trở về, nhưng không thể rời ánh mắt của Đức Mẹ Maria, một ánh mắt tỏa ra một tình yêu thật cao cả của lòng Mẹ.

Cuối cùng bà đứng dậy đành rời hang đá thì một mùi hoa hồng tỏa ra thật thơm. Bà liền đi mua những cây nến để đốt lên lời ước nguyện của bà. Và bà cảm thấy hương thơm càng tỏa thêm, nhưng không còn là mùi hồng, mà là mùi hương trầm như trong các đền chùa quen thuộc của bà. Trong lúc đó, hình như Đức Mẹ nháy mắt báo hiệu với bà một điều gì. Mùi hương đó còn tỏa ra hơn mười phút.

Khi trở về Paris đúng là một phép lạ, bà nhận được thư của cha chồng báo cho biết con trai bà sắp đến Pháp. Đức Mẹ đã nhận lời cầu xin rất tha thiết của bà. Bắt đầu từ ngày đó, các buổi trình diễn của bà cho các công cuộc từ thiện bao giờ cũng khởi đầu với bản nhạc Ave Maria của Schubert hay của Gounod. Đó là cách bà gởi gắm Đức Mẹ tất cả những người đau khổ. Và trong phòng khách của bà có một bức tượng Đức Mẹ Lộ-Đức luôn được xông hương trầm.

(Phòng theo “Anh Mắt Đức Mẹ Lộ Đức chiếu vào tâm hồn nữ Phật tử Chow Ching Lie” của Phó Tế J.B. Huỳnh Mai Trác. VietCatholic News - Thứ Ba 17/9/2002).

Trong thời gian vắn vỏi hai ngày và một đêm kính viếng Đức Mẹ Lộ Đức, tôi cũng bắt gặp ánh mắt dịu hiền đó của Mẹ Maria, khiến tôi cảm thấy rúng động tâm can. Tôi đã cầu xin Nữ Trinh thánh thiện ra tay tế độ cho gần trăm bệnh nhân đang hiện diện lúc bấy giờ, nằm hay ngồi trên những cỗ xe được đẩy đi dưới cơn mưa tầm tã…và cứu giúp cho hết mọi người đau khổ trên mặt đất nầy:

”Lạy Nữ Trinh thánh thiện,

Giữa những ngày vinh quang của Mẹ,

Xin Mẹ đừng quên

Những âu sầu thê lương tại thế.

Xin Mẹ thương nhìn đến bao người

Đang vùi dập trong đau khổ,

Những người phải chiến đấu

Với bao gian nan thử thách,

Và những người không ngừng

Nếm cảm những đắng cay cuộc đời.

Xin Mẹ thương những người yêu nhau

Mà phải chia lìa xa cách.

Xin Mẹ thương những người cô đơn

Trong tâm hồn và trong cuộc sống,

Xin thương sự yếu đuối

Của niềm tin non trẻ của chúng con.

Xin thương tất cả những gì

Chúng con hằng âu yếm chắt chiu.

Xin thương những kẻ đang than khóc,

Những kẻ đang run sợ trước cuộc đời sóng gió.

Xin Mẹ ban cho tất cả mọi người:

Sự bình an và niềm hy vọng. Amen.”

(Lời kinh “Nữ Trinh thánh thiện” của Henry Perreyre, sách LKĐNTNK, trang 76-77).


ĐỨC MẸ FATIMA

Vào ngày 14-09-1998, tôi đã đến kính viếng Đức Mẹ Fatima, sau khi đi xe lửa vượt qua nhiều miền đất khô cằn, nắng cháy của nước Bồ-Đào-Nha. Phô bày đó đây vài cây sồi đứng chơ vơ giữa những đồng không mông quạnh.

Ban ngày tôi đi dạo quanh khu vườn Fatima và không có chút xúc cảm gì trong tâm hồn. Nhưng khi màn đêm buông xuống, sự yên tĩnh trở về với cảnh vật, tôi vào quì cầu nguyện ở đài Đức Mẹ hiện ra, nơi mà trước kia có cây sồi là chỗ gặp gỡ giữa Đức Mẹ và ba trẻ. Lúc bấy giờ tôi mới cảm thấy tâm hồn mình xúc cảm mãnh liệt như thấy chính Đức Mẹ đang nhìn và âm thầm nói chuyện với tôi.

Trong giây phút linh thiêng đó, tôi đã phó thác cho Mẹ cuộc sống của tôi, với quá khứ cũng như hiện tại và tương lai:

“Lạy Mẹ,

Con phó thác đời con cho Mẹ:

Nầy là ưu điểm của con,

Nhờ Mẹ con sẽ thăng hoa.

Nầy là nhược điểm của con,

Nhờ Mẹ con sẽ tu sửa.

Nầy là tội lỗi của con,

Nhờ Mẹ con sẽ xa lánh.

Con tín thác mọi sự nơi Mẹ:

Trong lao động, xin Mẹ chỉ dạy cho con;

Trong đau khổ, xin Mẹ nâng đỡ con;

Trong nỗi vui mầng, xin Mẹ thánh hóa con;

Và trong cuộc đời lữ thứ,

Xin Mẹ hướng dẫn con.

Con không thắc mắc Mẹ hướng dẫn con đi đâu,

Con chỉ cần biết là Mẹ đang dẫn dắt con là đủ rồi.

Vì nơi nào Mẹ muốn dắt con tới

Thì con biết rằng đó là nơi con phải đến;

Vì thế con đặt trọn niềm tin nơi Mẹ.”

(Lời kinh “Tín thác nơi Mẹ” của Ludovic Giraud, sách LKĐNTNK, trang 46)


ĐỨC MẸ XUỐNG PHƯỚC

Ngày 22-9-1998, tôi đã đi kính viếng nhà nguyện Notre Dame de la Médaille Miraculeuse ở đường du Bac, Paris. Đó là nơi Đức Mẹ đã hiện ra với bà Thánh Catherine Labouré và đã ban nhiều ơn phước cho những ai mang “Anh Nhiệm Lạ” của Mẹ.

Tôi nghe kể lại là bên cạnh Đền Thánh Đức Mẹ có một siêu thị rất lớn mà trước đây đã xảy ra một cuộc hỏa hoạn thiêu rụi siêu thị đó, nhưng Đền Thánh Đức Mẹ ở kế bên vẫn nguyên vẹn.

ĐỨC MẸ CỨU SỐNG GIA ĐÌNH ĐÁNH CÁ

Trong một làng miền duyên hải, có một gia đình đạo đức, chuyên nghề đánh cá, nhưng rất sùng kính và đặt niềm tín thác nơi Đức Mẹ. Một hôm các con ra khơi thả lưới, chẳng may gặp cơn giông tố khiến con thuyền phiêu bạt như lá tre trên mặt biển mênh mông. Thấy trường hợp nguy đến tính mạng, người cha cương quyết lên một chiếc bè ra khơi tìm thuyền các con để chèo chống cho qua cơn nguy hiểm, chẳng may bè của ông cũng phiêu bạt một nơi vô định. Trong lúc lâm nguy, ông không biết làm gì hơn là kêu cứu Đức Mẹ thương giúp, miệng luôn đọc kinh Kính Mừng.

Qua một ngày một đêm vật lộn với sóng gió trên biển cả, phần đói rét, phần mỏi mệt, ông không còn sức chống chỏi được nữa, đành nằm ngửa trên cái bè đang trôi theo chiều gió, trong lòng vẫn thầm thĩ kêu van và đặt hết tin tưởng vào quyền phép Đức Mẹ. Bỗng chốc ông thấy có người đi xuống từ chiếc tàu cứu cấp…

Sau mấy giờ lấy lại sức, ông được vị thuyền trưởng Công giáo đến chúc mầng ông thoát nạn và cho biết: đáng lẽ tàu của ông không đi lối nầy, nhưng không hiểu có sức nhiệm lạ nào ép ông hạ lệnh cho con tàu rẽ sóng qua đây. Bây giờ gặp người cha đó, vị thuyền trưởng mới hiểu được lý do của sức nhiệm lạ kia.

Đang khi hai người còn tiếp tục nói chuyện thì thủy thủ lại bắt gặp một con thuyền lênh đênh trên mặt biển, trong đó có mấy thanh niên đang vật lộn với mưa bão. Sau mấy phút, những nạn nhân đó lại được cứu sống. Khi lên tàu, cha con lại được gặp nhau, sau những giờ phút chiến đấu với tử thần. Họ không còn hồ nghi gì nữa về sự can thiệp đắc lực của Đức Mẹ, vì trong lúc lâm nguy, cha con đều đồng tâm đặt hết niềm tin vào quyền phép và lòng thương xót bao la của Đức Mẹ đối với những ai hết lòng tin tưởng và trông cậy vào Ngài.

HÀN MẶC TỬ VÀ MẸ MARIA

Trong thi đàn Việt-Nam, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ Công giáo, tài hoa nhưng bạc mệnh vì chẳng may cuối đời đã lâm vào cảnh bất hạnh với chứng bệnh phong Hansen. Vũ Ngọc Phan là một nhà phê bình văn học đã viết về Hàn Mặc Tử như sau:

“Chứng bệnh của thi sĩ, cuộc đời đầy đau thương của thi sĩ, lời thơ thành thật của ông, khi nghẹn ngào, khi hoạt bát, nhưng bao giờ cũng chan chứa tình tứ hay một tin tưởng cao xa, đã làm cho nhiều người chú ý đến đời ông và thơ ông.”

(“Nhà Văn Hiện Đại”, tập hai, trang 706).

Về thơ Hàn-Mặc-Tử, chính thi sĩ đã viết trong Lời Tựa tập thơ của ông như sau:



“Tôi làm thơ?

Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng,

Anh sẽ thấy hơi đàn lã lướt theo hơi thở của hồn tôi và chìu theo những sóng điện nóng ran trút xuống bởi năm đầu ngón tay uyển chuyển,

Anh sẽ run theo khúc ngân nga của tơ đồng, sẽ để mặc cho giai nhân rền rĩ nuối không ngưng,

Và anh sẽ cảm giác lạ, nhìn không chớp mắt khi một tia sáng xôn xao lại có vì Sao vỡ.

Những thứ ấy là âm điệu của thơ tôi, âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rên vang dưới ngòi bút.

……

Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống.”


Và nơi khác, Hàn-Mặc Tử đã diễn đạt tâm tư mình thành những vần thơ rướm máu như sau:

“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút;

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta.

Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,

Như mê mang chết điếng cả làn da.

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết,

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh;

Đừng nắm lại nguồn thơ ta đương siết,

Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh.”


Với tất cả những tơ lòng não trạng đó, Hàn-Mặc-Tử đã hướng tâm hồn đau thương của mình lên Mẹ Thiên Chúa để sáng tác bài thơ “Thánh Nữ Đồng Trinh Maria”, tức “Ave Maria” như dưới đây, khiến độc giả cảm thấy ngất ngây khi ngâm lại những vần thơ bất hủ đó của thi sĩ:

“Như song lộc triều nguyên: ơn phước cả,

Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng.

Thơm tho bay cho đến cõi Thiên đàng

Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể.

Và Tổng Lãnh Thiên thần quỳ lạy Mẹ

……

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!

Run như run thần tử thấy long nhan,

Run như run hơi thở chạm tơ vàng…

Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn tríu mến.

Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn,

Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi,

Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy

Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.

Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ:

Giòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ.

Bút tôi reo như châu ngọc đền vua;

Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị…

Và trong miệng ngâm câu ca huyền bí,

Và trong tay nắm một nạm hào quang…

Tôi no rồi, ơn vô lộ hòa chan.

Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ.

Ngọc như ý vô tri còn biết cả

Huống chi tôi là Thánh Thể kết tinh.

Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh,

Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới…

Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi,

Tham dường bao cho miệng lưỡi khong khen.

Hởi Sứ thần Thiên Chúa Gabriel,

Khi Người xuống truyền tin cho Thánh nữ,

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?

Người có nghe náo động cả muôn trời?

Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời

Để ca tụng - bằng hoa hương sáng láng

Bằng tràng hạt, bằng Sao mai chiếu rạng

Một đêm xuân là rất đỗi anh linh!

……

Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp,

Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập

Cả hàn giang, cả màu sắc thiên không

Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng

Cho sốt sắng, cho đê mê nguyện ước…

Tâu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước,

Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm,

Thơ trong trắng như một khối băng tâm

Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu;

Cho vỡ lở cả muôn ngàn tinh đẩu,

Cho đê mê âm nhạc và thanh hương,

Chim hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng,

Lòng vua chúa cũng như lòng lê thứ,

Sẽ ngây ngất bởi chưng thơ đầy ứ

Nguồn thiêng liêng yêu chuộng MẸ SẦU BI.”


Hương Vĩnh

(hết)